i
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
NGUYỄN THỊ HẠNH
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC GIÁ TRỊ SỐNG,
KỸ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ
THÔNG THANH OAI A THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN LÝ GIÁO DỤC HÀ NỘI - 2015
ii
LỜI CẢM ƠN
Với tình cảm chân thành và sâu sắc nhất em xin trân trọng cảm ơn các
thầy cô trong Ban giám hiệu, các giáo sư, các giảng viên của Trường Đại học
Giáo dục - Đại học Quốc gia Hà Nội đã trực tiếp hướng dẫn, tư vấn, tạo điều
kiện giúp đỡ em trong quá trình học tập và nghiên cứu xây dựng đề tài "Quản
lý hoạt động giáo dục giá trị sống, kỹ năng sống cho học sinh trường THPT
Thanh Oai A, TP Hà Nội"
Đặc biệt, em xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS. Đinh Thị
Kim Thoa, người đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo cho em trong suốt quá trình
lập đề cương, nghiên cứu viết và hoàn chỉnh luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, các bạn đồng nghiệp các em
học sinh của trường THPT Thanh Oai A,Ban đại diện cha mẹ hoc sinh,chính
quyền địa phương đã quan tâm tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học
tập cũng như cung cấp thông tin, đóng góp các ý kiến quý báu để tôi hoàn
thành luận văn này.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng trong việc nghiên cứu, thực nghiệm và hoàn
chỉnh luận văn, song chắc rằng luận văn vẫn còn có những thiếu sót, em rất
mong nhận được sự góp ý, chỉ bảo của quý thầy giáo, cô giáo, các bạn đồng
nghiệp và bạn đọc để đề tài được hoàn thiện hơn, góp phần nâng cao chất
lượng giáo dục toàn diện cho học sinh thân yêu của chúng ta.
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 11 năm 2014
Tác giả
Nguyễn Thị Hạnh
iv
Danh mục bảng, biểu đồ
MỞ ĐẦU i
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG
GIÁO DỤC GIÁ TRỊ SỐNG VÀ KỸ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH . 13
1.1. Tổng quan các công trình nghiên cứu về quản lý hoạt động giáo dục giá
trị sống và kỹ năng sống 13
1.2. Một số khái niệm sử dụng để nghiên cứu đề tài 17
1.2.1. Khái niệm Quản lý 17
1.2.2. Khái niệm Quản lý giáo dục 19
1.2.3. Khái niệm Quản lý trường học 21
1.2.4. Khái niệm giá trị sống 22
1.2.5. Khái niệm Giáo dục giá trị sống 24
1.2.6. Khái niệm kỹ năng sống 25
1.2.7. Giáo dục kỹ năng sống 27
1.3. Nội dung quản lý hoạt động giáo dục giá trị sống, kỹ năng sống trong nhà
trường phổ thông 29
1.3.1. Quản lý chương trình, nội dung giáo dục giá trị sống, kỹ năng sống 30
1.3.2. Quản lý việc xây dựng kế hoạch hoạt động giáo dục giá trị sống, kỹ
năng sống 30
1.3.3. Quản lý công tác kiểm tra đánh giá việc thực hiện chương trình hoạt
động giáo dục giá trị sống, kỹ năng sống 31
1.3.4. Quản lý các lực lượng tham gia hoạt động giáo dục giá trị sống, kỹ năng
sống cho học sinh 33
1.3.5. Quản lý cơ sở vật chất và các điều kiện thực hiện hoạt động giáo dục 37
giá trị sống, kỹ năng sống 37
2
1.4. Các bước tiến hành quản lý hoạt động giáo dục giá trị sống và kỹ năng sống38
1.4.1. Lập kế hoạch 38
1.4.2. Tổ chức thực hiện 39
TRUNG HỌC PHỔ THÔNG THANH OAI A 74
3.1. Những cơ sở cho việc quản lý hoạt động giáo dục giá trị sống, kỹ năng
sống cho học sinh ở trường THPT Thanh Oai A 74
3.1.1. Những yêu cầu đối với việc xây dựng các biện pháp quản lý hoạt động
giáo dục giá trị sống và kỹ năng sống 74
3.1.2. Năm nguyên tắc giáo dục giá trị sống, kỹ năng sống trong nhà trường phổ
thông 76
3.2. Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục giá trị sống, kỹ năng sống cho học 78
sinh trường THPT Thanh Oai A 78
3.2.1. Tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của hoạt
động giáo dục giá trị sống, kỹ năng sống cho các lực lượng tham gia 78
3.2.2. Xây dựng cơ chế tổ chức, điều hành và phối hợp thực hiện giữa các
lực lượng tham gia hoạt động giáo dục GTS, KNS 81
3.2.3. Kế hoạch hóa hoạt động giáo dục GTS, KNS 85
3.2.4. Tập huấn năng lực sư phạm, kỹ năng tổ chức hoạt động giáo dục giá trị sống,
kỹ năng sống cho đội ngũ GV 88
3.2.5. Chỉ đạo đổi mới, đa dạng hóa hình thức, phương pháp tổ chức các hoạt động
giáo dục giá trị sống, kỹ năng sống 90
3.2.6. Quản lý tốt các điều kiện cơ sở vật chất và tài chính phục vụ cho hoạt
động giáo dục giá trị sống, kỹ năng sống 93
3.2.7. Đẩy mạnh công tác kiểm tra, giám sát đánh giá việc thực hiện chương
trình GD GTS, KNS gắn với công tác thi đua khen thưởng 95
3.3. Khảo sát tính khả thi và sự cấp thiết của các biện pháp đề xuất 98
3.3.1. Mục đích khảo sát 98
3.3.2. Đối tượng khảo sát 98
3.3.3. Nội dung khảo sát 98
3.3.4. Các biện pháp được khảo sát 99
4
3.3.5. Phương pháp khảo sát 99
Bảng 2.5 Kết quả đánh giá mức độ thực hiện giáo dục giá trị
sống và kỹ năng sống thông qua việc tích hợp vào các
bộ môn văn hóa của giáo viên bộ môn (n=92)………. 47
Bảng 2.6. Kết quả đánh giá mức độ thực hiện giáo dục GTS,
KNS của GVCN……………………………………
49
Bảng 2.7. Kết quả đánh giá mức độ thực hiện giáo dục giá trị
sống và kỹ năng sống của BCH Đoàn trường
(n=15)…
52
Bảng 2.8. Kết quả đánh giá mức độ thực hiện giáo dục giá trị
sống và kỹ năng sống thông qua HĐGDNGLL
(n=45)…………………………… ………………….55
Bảng 2.9. Kết quả đánh giá hiệu quả quản lý xây dựng kế hoạch
hoạt động giáo dục GTS, KNS của BGH nhà trường
(n=15)…………………………………………………
Chỉ thị số 40/CT – BGDĐT ngày 22 tháng 7 năm 2008 của bộ trưởng bộ giáo
dục và đào tạo về việc triển khai phong trào thi đua “Xây dựng trường học
thân thiện học sinh tích cực” trong các trường phổ thông giai đoạn 2008 -
2013. Sở giáo dục và đào tạo Hà Nội đã có kế hoạch số 463/KH- SGD&ĐT
ngày 10/9/2008 để triển khai phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân
thiện học sinh tích cực” chính vì vậy trong những năm học gần đây các
trường THPT luôn luôn triển khai các hoạt động để thực hiện nhiệm vụ của
phong trào, trong đó chú trọng tổ chức các hoạt động nhăm giáo dục kỹ năng
sống cho học sinh THPT, một trong những nhiệm vụ trọng tâm đặt ra là “Chú
trọng giáo dục đạo đức, nhân cách, giáo dục kỹ năng sống cho học sinh”
[28,tr4]
Ngày 28/02/2014, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ra Thông tư số
04/2014/TT-BGDĐT ban hành quy định quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng
sống và hoạt động giáo dục ngoài giờ chính khóa. đối với các cơ sở giáo dục
7
phải bảo đảm các nguyên tắc là góp phần củng cố, nâng cao kiến thức, kỹ
năng, giáo dục nhân cách cho người học; có nội dung phù hợp với đặc điểm
tâm sinh lý người học, phù hợp với thuần phong mỹ tục Việt Nam; không vi
phạm Quy định về dạy thêm, học thêm; người học tham gia trên tinh thần tự
nguyện.
Như vậy có thể nói công tác quản lý, giáo dục đạo đức cho học sinh là
việc hết sức quan trọng và đã thật sự được Đảng, nhà nước và ngành giáo dục
quan tâm. Trong những năm gần đây sở giáo dục Thành phố Hà Nội cũng đã
triển khai nhiều chương trình giáo dục, trong đó có các họat động như tập
huấn cho giáo viên chủ chốt để tích hợp các hoạt động giáo dục kỹ năng vào
các môn học như giáo dục công dân , giáo dục ngoài giờ lên lớp, địa lý, văn
học. Bên cạnh đó sở giáo dục Hà Nội đã cho ra bộ tài liệu chuyên đề về giáo
dục nếp sông văn minh thanh lịch cho học sinh để định hướng và chỉ dẫn
hành vi giao tiếp thanh lịch, văn minh giữa người với người trong các em học
Bác Hồ kính yêu của chúng đã nói “Hiền dữ phải đâu là tính sẵn phần
nhiều do giáo dục mà nên” trong khi đó đội ngũ giáo viên nhà trường nhiều
thầy cô còn thơ ơ với công tác giáo dục giá trị, còn chưa hiểu rõ, chưa hiểu
đúng về vai trò của việc giáo dục giá trị sống, kỹ năng sống đối với học sinh,
chưa có các cách thức tổ chức việc giáo dục giá trị sống một cách phù hợp
mang lại hiệu quả trong việc rèn luyện nhân cách, đạo đức cho các em, với
tinh thần đó, xuất phát từ lý luận và thực tiễn trên, gắn với nhu cầu và đặc
điểm của nhà trường, với vai trò là một cán bộ quản lý phụ trách công tác giáo
dục đạo đức học sinh, tôi luôn tâm niệm làm thế nào để quản lý hoạt động
giáo dục đạo đức nói chung và giáo dục giá trị sống, kỹ năng sống nói riêng
một cách tốt nhất, để các em trở thành những con người: Vừa có tài lại có
đức, để trở thành những con người có ích cho xã hội, xây dựng và duy trì nề
nếp của nhà trường, đó là lý do tác gỉa đến với đề tài “Quản lý hoạt động
giáo dục giá trị sống và kỹ năng sống cho học sinh trường THPT Thanh
Oai A thành phố Hà Nội”.
9
2. Mục đích nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu quản lý hoạt động giáo dục giá trị sống, kỹ năng sống cho
học sinh nhằm góp phần nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức cho các em
học sinh trong nhà trường, từ đó thúc đẩy việc thực hiện mục tiêu giáo dục
toàn diện đối với thế hệ trẻ Việt Nam.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Xác định cơ sở lý luận về GD giá trị sống, kỹ năng sống và quản lý hoạt
động giáo dục giá trị sống, kỹ năng sống cho học sinh THPT;
- Đánh giá thực trạng hoạt động giáo dục giá trị sống, kỹ năng sống đối với
giáo viên và học sinh trong trường THPT Thanh Oai A
- Đề xuất một số biện pháp quản lý hoạt động giáo dục giá trị sống, kỹ năng
sống cho học sinh
7. Giới hạn, phạm vi nghiên cứu đề tài
- Về nội dung: Xác định các biện pháp quản lý về hoạt động giáo dục giá
trị sống, kỹ năng sống cho học sinh.
- Về không gian: Đề tài được nghiên cứu ở trường THPT Thanh Oai A,
thành phố Hà Nội.
- Về đối tượng điều tra khảo sát: 150 HS của 3 lớp 10a0, 11a0, 12a4 và
36 chi hội trưởng phụ huynh học sinh các lớp, 2 đồng chí BGH, Chủ tịch
công Đoàn, BCH đoàn thanh niên, Tổ trưởng tổ chuyên môn.
8. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Ý nghĩa lý luận
Đề tài chỉ ra được vai trò của giá trị sống, kỹ năng sống đối với giáo viên và
các em học sinh từ đó chỉ ra được các biện pháp để quản lý tổ chức hoạt động
giáo dục đạo đức rèn luyện nhân cách cho các em qua hoạt động giáo dục giá
trị sống và kỹ năng sống, trên cơ sỏ đó có được những đánh giá chính xác
chất lượng giáo dục đạo đức của nhà trường
Ý nghĩa thực tiễn
11
Kết quả nghiên cứu có thể được áp dụng trong các trường THPT, nó là tài liệu
tham khảo cho các đồng chí làm công tác quản lý giáo dục, cho giáo viên, học
sinh và các đồng chí làm cán bộ đoàn.
9. Phương pháp nghiên cứu
9.1. Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
Mục đích: Nhằm xây dựng cơ sở lý luận của đề tài.
Nội dung: Đọc sách, tham khảo các công trình đã nghiên cứu, phân tích, tổng
hợp, hệ thống hóa các tài liệu có liên quan đến vấn đề nghiên cứu
9.2. Phương pháp điều tra
Mục đích điều tra: Thu thập các số liệu nhằm nhận định khách quan
thực trạng hoạt động giáo dục giá trị sống, kỹ năng sống và quản lý hoạt động
giáo dục giá trị sống, kỹ năng sống ở trường THPT Thanh Oai A.
Chương 2: Thực trạng công tác quản lý hoạt động giáo dục giá trị
sống, kỹ năng sống ở trường THPT Thanh Oai A
Chương 3: Các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục giá trị sống, kỹ
năng sống cho học sinh trường THPT Thanh Oai A 13 CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC
GIÁ TRỊ SỐNG VÀ KỸ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH
1.1. Tổng quan các công trình nghiên cứu về quản lý hoạt động giáo dục
giá trị sống và kỹ năng sống
Trong thời buổi hiện nay khi mà xã hội ngày một phát triển theo xu thế
hội nhập và toàn cầu hóa, khi mà xã hội hiện đại lại đang tồn tại với hai mặt
tốt và xấu; cái xấu len lỏi khắp mọi nơi, thậm trí còn được nguỵ trang bỏi
những cám rỗ của nhiều cảm giác mới lạ, trò chơi nguy hiểm, bề ngoài hoà
lượng được nêu trong Khuôn khổ Hành động Dakar. UNESCO và UNICEF đã
nhận thấy mô hình "Trường học thân thiện" với các yếu tố của nó là một giải
pháp nâng cao chất lượng và đảm bảo công bằng giáo dục. Vì vậy mô hình này
đã được phổ biến, áp dụng ở 40 quốc gia trên thế giới. Trong mô hình trường học
thân thiện, tiêu chí giáo dục KNS vừa như là một biểu hiện của chất lượng
giáo dục, vừa để giúp HS sống an toàn. Kế hoạch hành động Dakar về giáo
dục cho mọi người mỗi quốc gia cũng nhấn mạnh; cần đảm bảo cho người
học được tiếp cận chương trình giáo dục KNS phù hợp và kỹ năng sống của
người học là một tiêu chí của chất lượng giáo dục. Cho nên một trong những
mục tiêu của chương trình, đã coi kỹ năng sống là một khía cạnh của chất
lượng giáo dục. Đánh giá chất lượng giáo dục cần tính đến những tiêu chí
đánh giá kỹ năng sống của người học, như vậy tiến hành giáo dục KNS chính
là để nâng cao chất lượng giáo dục.
Như chúng ta biết bước vào thế kỷ 21 với xu thế toàn cầu hoá thì vấn
đề giá trị là một vấn đề hết sức quan trọng, và trong thực tế nó bị khủng
hoảng ở một số nước, chính vì vậy trên thế giới nhiều ngành khoa học trong đó
có Tâm lý học, Giáo dục học đã chú ý nghiên cứu việc giáo dục giá trị sống
cho thế hệ trẻ. Thực tiễn giáo dục cuối thế kỷ XX - đầu thế kỷ XXI cho thấy
chỉ thông qua con đường giáo dục, giá trị mới có thể tạo nên cơ sở bền vững cho
việc giải quyết khủng hoảng trong phát triển nhân cách của học sinh.Tại nhiều
15
nước phương tây, từ rất sớm thanh thiếu niên đã được học những kỹ năng
sống về những tình huống sẽ xảy ra trong cuộc sống, cách đối đầu với những
khó khăn, đối đầu với sự hà khắc của thiên nhiên, cách tránh những xung đột
bạo lực giữ người với người.
Ở Việt Nam vấn đề giáo dục giá trị sống, kỹ năng sống cho thế hệ trẻ đã thu
hút nhiều ngành khoa học quan tâm nghiên cứu, trong đó khoa học giáo dục
có vai trò, trọng trách lớn cả về nghiên cứu lý luận lẫn triển khai thực tiễn giáo
dục giá trị sống, kỹ năng sống cho học sinh, sinh viên phù hợp với thực tiễn giáo
đột; có thái độ lên án và kiên quyết bài trừ mọi hành vi bạo lực. Như vậy vấn
đề giáo dục kỹ năng sống cho học sinh, sinh viên không còn là vấn đề mới mẻ
trong các nhà trường mà là một nhiệm vụ quan trọng được các nhà trường xây
dựng trong kế hoạch từng năm học, Nhưng chúng ta chưa quan tâm đúng mức
đến giáo dục giá trị sống cho học sinh, chưa giáo dục đầy đủ phẩm chất nhân
cách, mới chỉ chú ý đến giáo dục hành vi, rèn luyện biểu hiện bên ngoài, do đó
học sinh chưa hiểu bản chất của các kỹ năng sống cần thực hiện, dẫn đến kết
quả giáo dục chưa cao, số học sinh, sinh viên có hành vi lệch chuẩn trong các
nhà trường ngày càng ra tăng trong thời gian gần đây, gây sự lo lắng bức xúc
trong dư luận, sự trăn trở của ngành giáo dục, vì thế Khoa học giáo dục ngày
nay đang hướng vào nghiên cứu giáo dục giá trị sống gắn liền với kỹ năng sống,
nhằm đem lại hiệu quả thiết thực trong thực tiễn giáo dục học sinh.
Tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc và Đinh Thị Kim Thoa, Trần văn Tính, Vũ
Phương Liên trong cuốn sách “Giáo dục giá trị sống và kỹ năng sống cho học
sinh trung học phổ thông” đã chỉ ra quan hệ liên thuộc giữa giáo dục GTS và
KNS, trong đó giáo dục GTS luôn là nền tảng, KNS là công cụ và phương
tiện để tiếp nhận và thể hiện giá trị sống. Đây là những tiền đề đưa công tác
giáo dục giá trị sống, kỹ năng sống cho học sinh vào các nhà trường mạnh mẽ,
mang lại hiệu quả tích cực, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện,
nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện
đại hoá đất nước, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công
bằng, văn minh. Từ đó đối với các sở giáo dục và đào tạo đặc biệt là sở giáo
17
dục và đào tạo Hà Nội trong những năm gần đây cũng đã quan tâm đến việc
chỉ đạo hoạt động giáo dục giá trị sống cho học sinh ở các cấp, hoạt động
giáo dục GTS và KNS đã trở thành nhiệm vụ trọng tậm của mỗi nhà trường
trong năm học, để hỗ trợ thực hiện tốt hơn công tác giáo dục giá trị sống và
kỹ năng sống, sở giáo dục đào tạo Hà Nội đã cho ra đời cuốn “Giáo dục nếp
sống văn minh thanh lịch người Hà Nội”, “Văn hoá Thăng Long Hà Nội”
thống xã hội cả ở tầm vĩ mô và vi mô.
Cùng với sự phát triển của phương thức xã hội hoá sản xuất và sự mở rộng
trong nhận thức của con người thì sự khác biệt về nhận thức và lý giải về khái
niệm quản lý càng trở nên rõ rệt. Xuất phát từ những góc độ khác nhau, rất nhiều
học giả trong và ngoài nước đã đưa ra giải thích không giống nhau về quản lý,
các trường phái quản lý học đã đưa ra những định nghĩa về quản lý như sau:
Theo F.W Taylor (1856-1915): Là một trong những người đầu tiên khai
sinh ra khoa học quản lý và là “ông tổ” của trường phái “quản lý theo khoa học”
tiếp cận một cách chínhận quản lý dưới góc độ kinh tế- kỹ thuật đã cho rằng:
Quản lý là hoàn thành công việc của mình thông qua người khác và biết đươc
một chính xác họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất.
Theo Henrry Fayol (1841 -1925): là người đầu tiên tiếp cận quản lý theo
quy trình và là người có tầm ảnh hưởng to lớn trong lịch sủ tư tưởng quản lý từ
thời kỳ cận hiện đại tới nay, ông quan niệm rằng: Quản lý là một tiến trình bao
gồm các khâu: Lập kế hoạch,tổ chức, phân công điều khiển và kiểm soát các nỗ
lực của cá nhân, bộ phận và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực vật chất khác của
tổ chức để đạt được mục tiêu đề ra.
Theo J.H Donnelly, James Gibson và J.M Ivancevich trong khi nhấn mạnh
tới hiệu quả sự phối hợp hoạt động của nhiều người đã cho rằng: Quản lý là một
quá trình do một người hay nhiều người thực hiện nhằm phối hợp các hoạt động
của những người khác để đạt được kết quả mà một người hành động riêng rẽ
không thể nào đạt được.
Tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc cho rằng: Quản lý là tác
động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách
19
thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận
hành và đạt được mục đích của tổ chức.
Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia thì: ”Quản lý trong kinh doanh
hay quản lý trong các tổ chức nhân sự nói chung là hành động đưa các cá nhân
Khái niệm “QLGD” được hiểu theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp trên cơ sở nghiên
cứu phạm vi hoạt động của từ “Giáo dục“. Quản lý giáo dục được hiểu theo
nghĩa rộng nhất khi giáo dục được coi là hoạt động diễn ra ở ngoài xã hội.
Còn khi được diễn ra trong ngành giáo dục từ Bộ giáo dục và đào tạo đến các
cơ sở giáo dục thì QLGD được hiểu theo nghĩa hẹp là quản lý một hệ thống
giáo dục hay quản lý nhà trường.[25,tr27] Để hiểu một cách chính xác hơn về
QLGD ta xem xét những quan điểm giáo dục sau :
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý giáo dục là hệ thống tác
động có mục đích, có kế hoạch, hợp với quy luật của chủ thể quản lý nhằm
làm cho hệ thống vận hành theo đường lối, nguyên lý giáo dục của Đảng, thực
hiện các tính chất của nhà trường XHCN Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là
quá trình dạy học – giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ thống giáo dục tới mục tiêu dự
kiến, tiến đến trạng thái mới về chất.
Theo tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc:
"Quản lý giáo dục là quá trình tác động có kế hoạch, có tổ chức của các cơ
quan QLGD các cấp tới các thành tố của quá trình dạy học - Giáo dục nhằm
làm cho hệ giáo dục vận hành có hiệu quả và đạt tới mục tiêu giáo dục nhà nước
đề ra." [20,tr16 ].
Theo tác giả Phạm Viết Vượng: “Mục đích cuối cùng của quản lý giáo
dục là tổ chức giáo dục có hiệu quả để đào tạo ra lớp thanh niên thông minh,
sáng tạo, năng động, tự chủ, biết sống và biết phấn đấu vì hạnh phúc của bản
thân và xã hội”
Quản lý giáo dục được thực hiện ở hai cấp độ: Vĩ mô và Vi mô. Đối
với vĩ mô “Quản lý giáo dục được hiểu là những tác động tự giác (có ý thức,
mục tiêu, kế hoạch, hệ thống hợp quy luật) của chủ thể quản lý đến toàn bộ hệ
thống (từ Trung ương, địa phương đến các cơ sở giáo dục là nhà trường)
21
nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu phát triển giáo dục, đào
tạo thế hệ trẻ mà xã hội đặt ra cho ngành giáo dục”[25,tr10]. Đối với cấp vi