1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Chúng ta đang sống trong thế kỷ XXI, thế kỷ mà tri thức con người được coi là yếu tố quyết định đến sự phát
triển của xã hội. Để đáp ứng được sự phát triển ngày càng cao của xã hội thì nguồn lực về con người được xem là yếu
tố quyết định, do đó điều này đặt ra cho ngành giáo dục là phải đào tạo ra những con người mới có đủ phẩm chất và
năng lực; năng động và sáng tạo đáp ứng được với trình độ phát triển của xã hội. Muốn vậy đòi hỏi ngành giáo dục
phải có sự đổi mới một cách toàn diện về mục tiêu, nội dung và phương pháp dạy học (PPDH) theo hướng phát huy
tính tích cực (TTC), tự lực và sáng tạo của học sinh (HS).
Mục tiêu của giáo dục phổ thông hướng tới là dạy học (DH) phải phát huy được TTC, tự giác, chủ động và
sáng tạo của HS. Điều đó đã được cụ thể hóa tại điều 28 của Luật Giáo Dục (2005): “Phương pháp giáo dục phổ
thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp
học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm; rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến
thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh”. Thực trạng DHVL
ở các trường phổ hiện nay cho thấy, việc giảng dạy kiến thức vật lí cho HS vẫn còn mang nặng thuyết trình,
truyền thụ kiến thức một chiều, người dạy chỉ chú trọng giảng giải, minh họa và thông báo kiến thức có sẵn, còn
HS chỉ ngồi nghe, tiếp thu kiến thức và ghi nhớ một cách thụ động, vẫn chưa chú trọng khai thác các phương
tiện DH và thí nghiệm (TN) trong DH. Do đó để nâng cao chất lượng giáo dục nhằm đào tạo thế hệ HS trở thành
những người lao động mới đáp ứng nguồn nhân lực cho sự nghiệp phát triển đất nước thì tại Hội nghị lần thứ 8,
Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI (Nghị quyết số 29-NQ/TW) về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục
và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa – hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa và hội nhập quốc tế. Nghị quyết đã chỉ rõ: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo
hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người học; khắc
phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc. Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học,
tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực…”. Nghị quyết cũng đã chỉ
rõ trong quá trình giáo dục phải phát huy TTC, chủ động và sáng tạo của HS, HS phải là chủ thể tích cực của quá
trình nhận thức và chủ động trong việc chiếm lĩnh tri thức.
Vật lí là một môn khoa học thực nghiệm, các kiến thức vật lí đều được rút ra từ những quan sát và TN.
Những định luật hay thuyết vật lí cũng chỉ trở thành kiến thức vật lí khi được thực nghiệm kiểm chứng. Bởi vậy,
trong dạy học vật lí (DHVL) ở trường phổ thông TN luôn giữ một vai trò hết sức quan trọng, có tác dụng to lớn
- Nghiên cứu tự tạo một số TN trong phần “Cơ học” vật lí 12 nâng cao THPT.
- Thiết kế tiến trình DH một số kiến thức phần “Cơ học” vật lí 12 nâng cao với sự hỗ trợ của TNTT.
- Tiến hành thực nghiệm sư phạm (TNSP) nhằm đánh giá tính hiệu quả của việc sử dụng TNTT trong DH
theo hướng tích cực hóa HĐNT của HS.
5. Đối tượng nghiên cứu
Hoạt động dạy và học vật lí ở trường phổ thông với việc sử dụng TNTT.
6. Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu xây dựng và sử dụng TNTT vào DH một số kiến thức phần “Cơ học” vật lí lớp 12 nâng cao.
7. Phương pháp nghiên cứu
Các phương pháp nghiên cứu gồm: Phương pháp nghiên cứu lý thuyết; Phương pháp nghiên cứu thực tiễn;
Phương pháp thực nghiệm sư phạm; Phương pháp thống kê toán học.
8. Những đóng góp mới của luận án
8.1. Về mặt lí luận
- Trên cơ sở nghiên cứu các khái niệm về TNTT, dựa trên các đặc điểm và các dấu hiệu của TNTT,
tác giả đã làm rõ hơn nội hàm khái niệm TNTT và phân loại TNTT.
- Căn cứ vào những ưu điểm của TNTT, cũng như các yêu cầu về tự tạo đã đề xuất được quy trình tự tạo
TN, quy trình này được thực hiện theo 9 bước, đó là: Xác định mục tiêu DH; Nghiên cứu nội dung bài học; Tìm
hiểu thực trạng cơ sở vật chất, TBTN; Đề xuất, lựa chọn phương án TN; Chuẩn bị các vật liệu, dụng cụ và linh
kiện cần thiết; Gia công, chế tạo dụng cụ TN; Lắp ráp TN; Tiến hành TN và hoàn thiện TN.
- Để có thể khai thác có hiệu quả các TNTT trong DHVL nhằm tích cực hóa HĐNT của HS, chúng tôi đã đề
xuất được quy trình sử dụng TNTT tổ chức HĐNT cho HS trong DHVL, trong quy trình này thì TNTT có thể được
sử dụng ở các giai đoạn khác nhau của QTDH: sử dụng trong đề xuất vấn đề, sử dụng trong giải quyết vấn đề, và sử
dụng trong củng cố, vận dụng kiến thức.
8.2. Về mặt thực tiễn
- Dựa vào quy trình tự tạo TN đã đề xuất, chúng tôi đã tiến hành thiết kế, chế tạo được 9 TN trong phần
“Cơ học” vật lí lớp 12 nâng cao, bao gồm: TN sóng dừng; TN ghi đồ thị dao động điều hòa; TN bảo toàn momen
động lượng; TN khảo sát chu kì dao động của con lắc đơn; TN momen quán tính của vật rắn phụ thuộc vào sự
3
phân bố khối lượng đối với trục quay; TN momen động lượng của vật rắn đối với trục quay; TN giao thoa sóng;
Châu Đại Dương, vấn đề tự làm đồ dùng DH được tiến hành với sự bảo trợ của UNESCO trong “Chương trình
Canh Tân giáo dục để phát triển” dưới tiêu đề “Phát triển các thiết bị dạy học rẻ tiền”.
Ở Đức, đã có nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu về TNTT như: Hans-Joachim Wilke; D.K Nachtigall; G.
Tronicke… Các tác giả này đã đầu tư nghiên cứu về loại TN này và đã công bố các kết quả nghiên cứu trong nhiều
công trình khác nhau, chẳng hạn như “Experimente mit Kunstoffflaschen” Klettverlag Stuttgart – Leipzig (2007);
“Experimente 1& 2, Blechendose. Klettverlag Stuttgart – Leipzig (2008) của Hans-Joachim Wilke và G. Tronicke.
Hay “Qualitative experimente mit einfachen Mitteln, Uneversität Dortmund” (1996) của các tác giả D. K.
Nachtigall, J. Dieckhufer, G. Peters. Trong các công trình nghiên cứu này các tác giả đã tự tạo và hướng dẫn cách
sử dụng nhiều TN trong các phần khác nhau như: Cơ, Nhiệt, Điện, Quang… Hầu hết các TN trong đó là TNTT
đơn giản làm từ những vật liệu dễ kiếm như: vỏ lon nước ngọt, vỏ chai nước khoáng… Ngoài ra, có nhiều tác giả
4
như: J. Duit, W.
Muler
, Kamel Wassef; M. El-Khishin; N.K Gobran cũng đã quan tâm nghiên cứu về vấn đề
này.
Xu hướng hiện nay không chỉ dừng lại ở những TNTT đơn giản mà người ta đang ngày càng quan tâm
đến các TNTT phức tạp. Tác giả Simon Fridrich Klaus, trong đề tài luận án tiến sĩ của mình đã tự tạo được một
số TN để DH cho người khiếm thị và các TN này được chế tạo khá công phu và phức tạp.
1.1.2. Những nghiên cứu trong nước
Ở Việt Nam, trong những năm gần đây cũng đã có nhiều công trình nghiên cứu của các nhà giáo dục học,
lí luận DH nghiên cứu về TNTT như: Nguyễn Thượng Chung, Phạm Đình Cương, Nguyễn Hùng Liễu, Lê Văn
Giáo, Hà Văn Hùng - Lê Cao Phan, Nguyễn Ngọc Hưng, Đồng Thị Diện… Các tác giả đã nghiên cứu tự tạo TN
và sử dụng TNTT vào những mục đích khác nhau: sử dụng TNTT như là một phương tiện để tích cực hóa HĐNT
của HS; sử dụng TNTT vào việc phát hiện và khắc phục những quan điểm sai lệch của HS; sử dụng TNTT như là
một phương tiện hỗ trợ trong tổ chức DH: DH kiến tạo, DH nhóm, DH dự án…
Trong công trình luận án “Nghiên cứu quan niệm của HS về một số khái niệm vật lí trong phần Quang
học, Điện học và việc giảng dạy các khái niệm đó ở trường trung học cơ sở” của Lê Văn Giáo, tác giả đã nghiên
cứu một cách có hệ thống cơ sở lí luận về quan niệm của HS trong DH nói chung và quan niệm của HS về một
số khái niệm trong phần Quang học, Điện học nói riêng. Trong nghiên cứu này, tác giả đã xem TNTT là một
đã nghiên cứu xây dựng và đề xuất 26 TN tự làm với các nguyên vật liệu rẻ tiền và dễ tìm trong cuộc sống hằng
ngày; đề xuất được 5 phương án tổ chức hoạt động học tập với các TN vật lí tự làm và thiết kế được 9 giáo án
DH minh họa các phương án TN đã đề xuất theo hướng phát huy TTC nhận thức của HS trong DH. Trong từng
tiến trình DH cụ thể, GV liên tiếp tổ chức các tình huống học tập bắt buộc HS phải suy nghĩ trả lời, hoặc định
hướng và giúp đỡ HS trong giải quyết nhiệm vụ học tập.
Ngoài ra việc nghiên cứu xây dựng và sử dụng TN theo hướng tích cực hóa HĐNT của HS trong DHVL
còn được quan tâm nghiên cứu bởi tác giả Huỳnh Trọng Dương. Trong công trình luận án “Nghiên cứu xây dựng
và sử dụng TN theo hướng tích cực hóa HĐNT của HS trong DH vật lí ở trường trung học cơ sở”, tác giả đã
nghiên cứu cơ sở lí luận của việc tích cực hóa HĐNT của HS trong DH nói chung và DHVL nói riêng; phân tích
và chỉ rõ vai trò của TN vật lí trong việc phát huy TTC trong HĐNT vật lí của HS. Trong công trình nghiên cứu,
tác giả đã đề xuất được 5 biện pháp sư phạm theo hướng tích cực hóa HĐNT vật lí của HS THCS; đề xuất được
6 biện pháp sử dụng TN trong DHVL theo hướng tích cực hóa HĐNT của HS. Tác giả đã xây dựng được 10 TN
vật lí và tiến hành thiết kế tiến trình DH một số kiến thức vật lí lớp 7, lớp 8 theo hướng phát triển HĐNT tích
cực, sáng tạo của HS thông qua các biện pháp sử dụng TN đã đề xuất. Trong quá trình DHVL, TTC nhận thức
và sáng tạo của HS được đánh giá thông qua trạng thái biểu hiện trên nét mặt của HS như: hăng hái, không khí
giờ học sôi động…
Trong DHVL, việc nghiên cứu xây dựng và sử dụng TBTN theo hướng phát triển HĐNT tích cực, sáng
tạo của HS còn được quan tâm nghiên cứu bởi các tác giả: Nguyễn Anh Thuấn, Đặng Minh Chưởng, Dương
Xuân Quý… Trong công trình luận án “Xây dựng và sử dụng TBTN trong DH chương Sóng cơ học ở lớp 12
trung học phổ thông theo hướng phát triển HĐNT tích cực, sáng tạo của HS” của Nguyễn Anh Thuấn, tác giả đã
nghiên cứu xây dựng và sử dụng TBTN trong DHVL theo hướng phát triển HĐNT tích cực, sáng tạo của HS.
Trong công trình nghiên cứu, tác giả đã đề xuất được quy trình xây dựng TBTN và quy trình sử dụng TBTN
trong DHVL. Dựa vào quy trình xây dựng TBTN đã đề xuất, tác giả đã xây dựng được 5 TBTN, đó là: kênh
sóng nước; mô hình sóng ngang; TBTN về hiện tượng sóng trên các vật đàn hồi; khay sóng nước và nguồn âm
dùng mạch IC trong DH chương “Sóng cơ học”. Với 5 TBTN đã xây dựng, tác giả đã tiến hành soạn thảo 4 giáo
án DH theo sơ đồ tiến trình GQVĐ khi xây dựng một kiến thức cụ thể theo hướng phát triển HĐNT tích cực,
sáng tạo của HS. Trong quá trình tổ chức DH, sự phát triển TTC, sáng tạo của HS được xem xét qua từng bài
học cụ thể trong quá trình TNSP như: HS phát biểu dự đoán và đề xuất phương án TN kiểm tra dự đoán; HS
dùng các từ ngữ chính xác hơn trong việc giải thích, đề xuất các phương án TN kiểm tra; GV hướng dẫn tổ chức
HS tích cực tham gia vào quá trình xây dựng kiến thức…
- Đề xuất quy trình tự tạo TN và vận dụng quy trình đó vào tự tạo một số TN trong DH phần “Cơ học” vật
lí lớp 12 nâng cao.
- Đề xuất quy trình sử dụng TNTT tổ chức HĐNT cho HS trong DHVL, vận dụng quy trình đó vào thiết
kế tiến trình DH theo hướng tích cực hóa HĐNT của HS trong DH một số kiến thức phần “Cơ học” vật lí lớp 12
nâng cao.
CHƯƠNG 2. CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VIỆC XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG THÍ NGHIỆM TỰ TẠO THEO
HƯỚNG TÍCH CỰC HÓA HOẠT ĐỘNG NHẬN THỨC CỦA HỌC SINH TRONG DẠY HỌC VẬT LÍ
Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG
2.1. Hoạt động nhận thức của học sinh trong dạy học vật lí
2.1.1. Quá trình nhận thức của học sinh
HĐNT của HS trong DHVL cũng trải qua ba giai đoạn giống như quá trình nhận thức của con người, đó
là: Nhận thức cảm tính, nhận thức lý tính và nhận thức thực tiễn. Ba giai đoạn này có mối quan hệ với nhau rất
mật thiết. Trong đó, nhận thức cảm tính là giai đoạn đầu tiên của quá trình nhận thức, trong giai đoạn này giúp
con người hình thành cảm giác, tri giác và biểu tượng về các sự vật, hiện tượng, làm cơ sở cho quá trình nhận
thức tiếp theo là nhận thức lý tính.
Nhận thức lý tính còn gọi là tư duy, là giai đoạn phản ánh những thuộc tính bản chất bên trong của sự vật
hiện tượng, những mối quan hệ có tính quy luật và nhận thức lý tính được thể hiện ở các hình thức như: khái
niệm, phán đoán và suy luận. Vì vậy, trong DHVL để HS hiểu rõ bản chất của sự vật hiện tượng để đi đến một
khái niệm, phán đoán, suy luận nào đó trong quá trình nhận thức thì bắt buộc HS phải luôn thực hiện các thao tác
7
tư duy như: phân tích, tổng hợp, so sánh… và các hành động nhận thức như: xác định bản chất của sự vật hiện
tượng, tìm nguyên nhân, xác định mối quan hệ.
Giai đoạn cuối cùng của quá trình nhận thức, đó là nhận thức thực tiễn. Nhận thức thực tiễn có vai trò
kiểm nghiệm tri thức đã thu nhận được. Như vậy, thực tiễn chẳng những là điểm xuất phát của nhận thức, là yếu
tố đóng vai trò quyết định đối với sự hình thành và phát triển của nhận thức mà còn là nơi nhận thức luôn hướng
tới để kiểm nghiệm tính đúng đắn của nó. Vì thế mà thực tiễn vừa là cơ sở, động lực, mục đích của nhận thức và
là tiêu chuẩn để kiểm tra chân lý.
Trong thực tế DH, các hiện tượng vật lí rất phong phú, đa dạng và phức tạp. Vì vậy trong quá trình
- Vật liệu dùng để thiết kế, chế tạo TN là những vật dụng phổ biến và dễ tìm kiếm trong đời sống hàng ngày.
Theo thời gian và cùng với sự phát triển của khoa học thì nội hàm của khái niệm TNTT được phát triển và
mở rộng. Hiện nay, TNTT không chỉ là những TN đơn giản, rẻ tiền mà nó có thể là những TNTT phức tạp và có
tính hiện đại. Do đó, chúng ta có thể hiểu: Thí nghiệm tự tạo là những thí nghiệm từ đơn giản đến phức tạp được
8
tạo ra chủ yếu bằng tay từ những nguyên vật liệu, thiết bị, linh kiện phổ biến trong đời sống hằng ngày và được
sử dụng trong quá trình dạy học.
2.3.2. Phân loại thí nghiệm tự tạo
2.3.2.1. Thí nghiệm tự tạo đơn giản
TNTT đơn giản là những TN được tạo ra từ những vật liệu, dụng cụ thông dụng dễ kiếm như: vỏ lon bia,
vỏ chai nước khoáng, gỗ… TNTT đơn giản thường là những TN định tính. Người ta cũng có thể gọi TNTT đơn
giản là TN đơn giản, rẻ tiền.
2.3.2.2. Thí nghiệm tự tạo phức tạp
TNTT phức tạp là những TN được tạo ra từ các dụng cụ thông dụng nhưng có quá trình gia công, chế tạo
dụng cụ TN phức tạp hơn so với TNTT đơn giản.
2.3.2.3. Thí nghiệm tự tạo hiện đại
TNTT hiện đại là những TN được tạo ra trong đó có sử dụng các thiết bị và linh kiện điện tử hiện đại như: vi
điều khiển, mạch điện tử, bo mạch, led 7 đoạn, pin mặt trời… Những TN này thường là những thiết bị tự động.
2.3.3. Ưu điểm và hạn chế của thí nghiệm tự tạo
Ưu điểm
- Góp phần làm phong phú thêm các phương tiện trực quan, qua đó trực quan hóa được nhiều hiện tượng
và quá trình vật lí.
- Dễ chế tạo (đối với TNTT đơn giản): vật liệu, dụng cụ và linh kiện dễ kiếm, phương tiện dùng để gia
công đơn giản, không cần kĩ năng phức tạp.
- Điểu kiện để thực hiện TN: không đòi hỏi khắt khe về cơ sở vật chất như mạng điện; phòng bộ môn…
nên có thể tiến hành ở các trường phổ thông khác nhau.
- Việc bố trí và tiến hành TN đơn giản, không tốn nhiều thời gian.
- Kết quả TN: rõ ràng, dễ quan sát, có sức hấp dẫn và kích thích hứng thú học tập của HS; Gần gũi với
những hiện tượng trong đời sống hằng ngày.
Hình 2.1a.b. TN momen quán tính phụ thuộc vào sự phân bố đối với trục quay
Thí nghiệm tự tạo là phương tiện phát huy tính tự lực và sáng tạo của học sinh
Trong QTDH để phát huy tính tự lực và sáng tạo của HS trong hoạt động học tập thì việc giao nhiệm vụ và
hướng dẫn HS thiết kế, chế tạo TN nhằm kiểm chứng kiến thức đã thu nhận được là một hoạt động mang tính
sáng tạo, đòi hỏi cao về tính tự giác, tự lực của HS, do đó có tác dụng rất tốt trong việc tích cực hóa HĐNT của
HS. Việc thiết kế, chế tạo TN đòi hỏi HS phải vận dụng các kiến thức đã học vào thực tiễn trong việc tự đề xuất
và lựa chọn phương án TN thích hợp, trên phương án TN đã chọn HS sẽ tìm kiếm các nguyên vật liệu, dụng cụ
TN cần thiết; tự gia công, chế tạo dụng cụ TN theo phương án đã chọn; sau đó lắp ráp, tiến hành TN và giải
thích hiện tượng TN. Các hoạt động đó đều góp phần vào việc phát huy TTC nhận thức và rèn luyện kỹ năng
thực hành cho HS, làm tăng hứng thú học tập của HS và đặc biệt là đảm bảo niềm tin của HS đối với kiến thức
vật lí. Việc vận dụng kiến thức đã biết vào giải thích các kết quả TN đòi hỏi HS phải huy động các kiến thức đó
ở nhiều phần khác nhau của chương trình vật lí. Nhờ vậy, chất lượng kiến thức của HS được nâng cao.
Đối với những TN do HS tự thiết kế, chế tạo thì khi tổ chức hoạt động DH trên lớp, GV cần bố trí thời
gian để HS trình bày trước lớp về kết quả đạt được.
Chẳng hạn: Sau khi GV giao nhiệm vụ cho từng nhóm HS và hướng dẫn HS cách thiết kế, chế tạo nhằm
minh họa kiến thức “Momen quán tính của vật rắn phụ thuộc vào sự phân bố khối lượng đối với trục quay”. Khi
tổ chức hoạt động DH trên lớp, GV nên dành thời gian để các nhóm HS báo cáo trước lớp về kết quả TN do các
nhóm tự thiết kế và chế tạo.
- Nhóm 1, nhóm 2 trình bày trước lớp về kết quả TN do nhóm tự thiết kế, chế tạo (Hình 2.2a; Hình 2.3a).
Sau đó, tiến hành TN để minh họa kiến thức đã thu nhận và vận dụng kiến thức đã học vào giải thích hiện tượng
TN (Hình 2.2b; Hình 2.3b). Hình 2.2a.b. TN momen quán tính (nhóm 1 thiết kế, chế tạo)
quả TN xảy ra; Bố trí và thực hiện được TN theo sự hướng dẫn của GV; Đề xuất được phương án TN để kiểm tra
kiến thức đã thu nhận.
Nếu TNTT được dùng để kiểm tra đánh giá kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn của HS trong hoạt
động tự học ở nhà nên dựa vào các tiêu chí sau: Đề xuất được phương án TN; Gia công, chế tạo được các dụng cụ
TN; Trình bày được cách lắp ráp, tiến hành TN; Cách thu thập và xử lí kết quả TN.
2.4. Tự tạo và sử dụng thí nghiệm trong dạy học vật lí
2.4.1. Tự tạo thí nghiệm
2.4.1.1. Các yêu cầu đối với việc tự tạo thí nghiệm
Về mặt khoa học
- Các TNTT được xây dựng phải đảm bảo khi tiến hành TN phải thành công, tạo ra hiện tượng rõ ràng,
đúng với bản chất vật lí và điều khiển được các yếu tố tác động;
- Quá trình thiết kế, chế tạo cần ứng dụng các thành tựu mới trong khoa học; Có cấu tạo gọn nhẹ, thuận
tiện trong quá trình sử dụng (tháo lắp, bố trí và tiến hành TN); Đảm bảo an toàn trong sử dụng, dễ sửa chữa, bảo
quản và vận chuyển.
Về mặt sư phạm
- TNTT có thể được sử dụng ở các giai đoạn khác nhau của QTDH như: đề xuất vấn đề cần nghiên cứu,
hình thành kiến thức mới, củng cố và vận dụng kiến thức.
- Kết quả của TNTT phải gắn liền với nội dung bài học, xuất hiện đúng lúc trong tiến trình DH, đồng thời
kết quả TN phải được sử dụng cho mục đích DH một cách hợp lí, logic và không gượng ép; Phải ngắn gọn, hợp
lí và cho kết quả ngay nhằm đảm bảo về mặt thời gian của tiết học.
- Tạo điều kiện cho HS phát huy được TTC nhận thức trong và ngoài giờ học thông qua việc đề xuất và
lựa chọn phương án TN, thiết kế và chế tạo dụng cụ TN nhằm minh họa lại kiến thức đã thu nhận.
Về mặt thẩm mĩ
Các dụng cụ TNTT phải có kích thước đủ lớn, đảm bảo cho cả lớp quan sát nhằm giúp cho HS dễ theo dõi
diễn biến của TN để có thể rút ra được những kết luận cần thiết; TN phải có màu sắc thích hợp và hình dáng đẹp
đẽ lôi cuốn sự chú ý của HS, đặc biệt là cần làm nổi bật bộ phận cần quan sát.
Về mặt kinh tế
11
Các TNTT được xây dựng phải đảm bảo giá thành không cao nhờ sử dụng các nguyên vật liệu, dụng cụ
cụ TN và cách lắp đặt TN; Nêu các bước tiến hành TN; Dựa vào kiến thức, kinh nghiệm sẵn có của HS, GV yêu
cầu HS nêu dự đoán hiện tượng trước khi tiến hành TN; Tiến hành TN cho HS quan sát hiện tượng; Từ kết quả
TN, GV gợi ý và hướng dẫn HS nêu vấn đề cần nghiên cứu.
Sử dụng thí nghiệm tự tạo trong giai đoạn giải quyết vấn đề
Trong giai đoạn này, có hai con đường để thực hiện, đó là: con đường quy nạp (dùng TN để hình thành
kiến thức) và con đường diễn dịch (kiểm chứng kiến thức bằng TN).
- Nếu dùng TNTT để hình thành kiến thức, GV tiến hành TN, HS quan sát thu thập và xử lí số liệu. Sau đó, GV
định hướng, giúp đỡ HS trong việc hình thành kiến thức mới.
- Nếu dùng TNTT để kiểm chứng kiến thức đã thu nhận, GV hướng dẫn HS đi đến kiến thức mới bằng
con đường suy luận lí thuyết: hướng dẫn HS đề xuất giải pháp GQVĐ bằng cách dựa vào những kiến thức đã
biết, cách vận dụng các kiến thức đã biết đó như thế nào. Sau đó, GV tiến hành TN để kiểm chứng kiến thức
Xác định mục tiêu dạy học
Đề xuất, lựa chọn phương án thí nghiệm
Nghiên cứu nội dung bài học
Tìm hiểu thực trạng cơ sở vật chất, TBTN
TN
Chuẩn bị các vật liệu, dụng cụ
và linh kiện cần thiết
Gia công, chế tạo dụng cụ thí nghiệm Lắp ráp thí nghiệm Sơ đồ 2.2. Quy trình sử dụng TNTT tổ chức HĐNT cho HS trong DHVL
2.5. Thực trạng dạy học phần “Cơ học” vật lí 12 nâng cao
Để đánh giá thực trạng của việc DH phần “Cơ học” vật lí lớp 12 nâng cao, chúng tôi đã tiến hành điều tra
54 GV và 630 HS ở 5 trường phổ thông trong tỉnh Đồng Tháp.
2.5.1. Mục đích điều tra
- Tìm hiểu các PPDH chủ yếu của GV khi tổ chức DH phần “Cơ học” và tình hình các TBTN ở các trường
phổ thông; Tìm hiểu việc thiết kế, chế tạo TN phục vụ cho việc DHVL.
- Tìm hiểu những thuận lợi và khó khăn khi sử dụng TN tổ chức hoạt động DH;
- Tìm hiểu hiệu quả của việc sử dụng TN trong DHVL đối với hoạt động học tập của HS trong giờ học
(hứng thú, tích cực tham gia xây dựng bài học,…).
2.5.2. Phương pháp điều tra
Điều tra GV và HS ở trường phổ thông qua phiếu triều tra; Trực tiếp quan sát phòng thực hành TN vật lí ở
một số trường phổ thông và trao đổi với cán bộ quản lí phòng thực hành TN về tình hình TBTN vật lí lớp 12;
Trao đổi trực tiếp với GV, HS và dự giờ GV bộ môn.
GIẢI
QUYẾT
VẤN ĐỀ
ĐỀ XUẤT
VẤN ĐÊ
- Thu thập và xử lí số liệu.
- Tiến hành TNTT.
TỐ CHỨC
HĐNT CHO
HS VỚI SỰ
HỖ TRỢ
CỦA TNTT
13
2.5.3. Kết quả điều tra
Kết quả điều tra về thực trạng DH phần “Cơ học” cho thấy:
- Các TBTN phần “Cơ học” được trang bị tương đối đầy đủ theo danh mục quy định tối thiểu của Bộ
nhưng chất lượng không đảm bảo. Vì thế việc sử dụng chúng vào DH gặp khó khăn.
- PPDH mà GV sử dụng trong DH phần “Cơ học” chủ yếu là phương pháp thuyết trình. Do đó, HS học tập
một cách thụ động, không có cơ hội tham gia vào quá trình tìm kiếm kiến thức, vì vậy HS không có hứng thú
trong học tập.
- Các hình thức tổ chức hoạt động DH cho HS chưa đa dạng, phong phú và vận dụng một cách linh hoạt
nên chưa tạo ra được một môi trường học tập sinh động, sôi nổi và hứng thú.
- Một bộ phận GV chậm đổi mới, vẫn sử dụng chủ yếu PPDH truyền thống (truyền thụ kiến thức một
chiều), do đó không phát huy được TTC nhận thức của HS trong quá trình học tập.
- Trong củng cố bài học, GV thường dùng theo kiểu thông báo, tái hiện kiến thức cho HS là chủ yếu, ít tổ
chức tình huống học tập nhằm kích thích hứng thú cho HS trong giờ học.
- Nếu có sử dụng TN, GV chỉ sử dụng những TN đã được cung cấp theo danh mục tối thiểu của Bộ. GV
rất ít tự tạo TN để sử dụng trong DH, nguyên nhân là do: Chất lượng TBTN không đảm bảo, xuống cấp nên kết
quả không chính xác; TBTN thiếu đồng bộ; Việc chuẩn bị TN mất thời gian.
- GV đều cho rằng việc tự tạo TN để sử dụng trong DHVL là rất cần thiết nhằm góp phần tích cực hóa
HĐNT của HS. Tuy nhiên, nhiều GV cũng cho rằng việc không thường xuyên tự tạo TN là do tốn nhiều thời
3.2.1. Thí nghiệm tự tạo sóng dừng
- Sóng dừng phụ thuộc vào chiều dài của sợi dây - Sóng dừng phụ thuộc vào tần số của máy phát 3.2.2. Thí nghiệm tự tạo ghi đồ thị dao động điều hòa 3.2.3. Thí nghiệm tự tạo bảo toàn momen động lượng
3.2.4. Thí nghiệm tự tạo giao thoa sóng nước
- Sóng dừng phụ thuộc vào lực căng của sợi dây
15
3.2.6. Thí nghiệm tự tạo momen quán tính của vật rắn phụ thuộc vào sự phân bố khối lượng đối với trục quay
3.2.7. Thí nghiệm tự tạo hiện tượng cộng hưởng
3.2.8. Thí nghiệm tự tạo sự phản xạ sóng
3.2.9. Thí nghiệm tự tạo momen động lượng của vật rắn đối với trục quay
động với biên độ cực tiểu (nút sóng); Số bụng sóng và nút sóng thay đổi khi chiều dài, lực căng của sợi dây và tần số
của máy phát thay đổi.
- GV gợi ý và hướng dẫn HS phát biểu vấn đề cần nghiên cứu: vì sao trên sợi dây lại xuất hiện hiện tượng đó
(những bụng sóng và nút sóng xen kẽ cách đều nhau) và hiện tượng đó gọi là gì ? Điều kiện để có hiện tượng
đó trên sợi dây là gì và phụ thuộc vào những yếu tố nào? 16
t
u Acos2
T
(1)
+ Phương trình sóng tại M cách B một khoảng MB = d:
M
td
u Acos2
T
(2)
+ Phương trình sóng phản xạ tại B:
B
tt
u' Acos2 Acos 2
TT
(3)
+ Phương trình sóng phản xạ tại M:
M
td
u' Acos2
Nếu khoảng cách
1
dk
22
thì biên độ dao động có giá trị cực đại, tại đó có một bụng sóng.
+ Điều kiện để có sóng dừng trên dây đối với hai đầu cố định:
- Nội dung kiến thức cần tiến hành TN để kiểm tra: hiện tượng sóng dừng; sóng dừng phụ thuộc vào chiều
dài, lực căng của sợi dây và tần số của máy phát.
- Bố trí và tiến hành TN kiểm tra.
- Rút ra kết luận về kết quả TN:
+ Hiện tượng trên sợi dây đàn hồi xuất hiện những điểm đứng yên xen kẽ với những điểm dao động với
biên độ cực đại gọi là hiện tượng sóng dừng.
+ Số bụng sóng, nút sóng thay đổi khi ta thay đổi chiều dài, lực căng của sợi dây và tần số của máy phát.
CỦNG CỐ, VẬN DỤNG KIẾN THỨC
- GV cho HS làm bài tập vật lí sau: Tìm số bụng sóng, biết tốc độ truyền sóng trên sợi dây đàn hồi có hai đầu
định dài 60 cm là 15 m/s, biết tần số dao động là 50 Hz.
- GV hướng dẫn HS giải bài tập, số bụng sóng được tính theo công thức:
v
lf
n
2
CHƯƠNG 4
THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM
4.1. Khái quát về thực nghiệm sư phạm
Mục đích
Mục đích của việc TNSP là kiểm tra giả thuyết khoa học của đề tài: Nếu đề xuất được quy trình tự tạo thí
nghiệm và quy trình sử dụng thí nghiệm tự tạo, trên cơ sở đó tự tạo các thí nghiệm và sử dụng vào tổ chức hoạt
ĐỀ XUẤT VẤN ĐỀ
- GV giới thiệu dụng cụ TN: hai hộp tròn, lực kế, mặt phẳng nghiêng, thước thẳng bằng gỗ và cách bố trí TN.
- Nêu các bước tiến hành TN: Kiểm tra khối lượng của hai hộp tròn bằng lực kế; Sau đó thả cho hai vật lăn
không trượt xuống mặt phẳng nghiêng. Quan sát chuyển động của hai vật khi lăn xuống chân mặt phẳng
nghiêng.
- Yêu cầu HS nêu dự đoán hiện tượng trước khi tiến hành TN:
+ Hai hộp tròn sẽ lăn xuống chân mặt phẳng nghiêng cùng lúc;
+ Hộp tròn 1 sẽ lăn xuống chân mặt phẳng nghiêng trước hộp tròn 2;
+ Hộp tròn 2 sẽ lăn xuống chân mặt phẳng nghiêng trước hộp tròn 1.
- Tiến hành TN cho HS quan sát.
- Kết quả TN: Hộp tròn 1 lăn xuống chân mặt phẳng nghiêng trước hộp tròn 2.
- GV gợi ý và hướng dẫn HS phát biểu vấn đề cần nghiên cứu: vì sao hai hộp tròn có cùng khối lượng, hình
dạng, kích thước bằng nhau và được thả lăn ở cùng một độ cao nhưng hộp tròn 1 lại lăn xuống chân mặt
phẳng nghiêng trước hộp tròn 2?
một trục cố định; Bài 3. Momen động lượng. Định luật bảo toàn momen động lượng; Bài 6. Dao động điều hòa;
Bài 7. Con lắc đơn. Con lắc vật lí; Bài 11. Dao động cưỡng bức. Cộng hưởng; Bài 15. Phản xạ sóng. Sóng dừng;
Bài 16. Giao thoa sóng.
Đối tượng
Đối tượng là HS ở các trường THPT trong tỉnh Đồng Tháp.
Thực nghiệm vòng 1: HS trường THPT Thiên Hộ Dương, trường THPT Thành Phố Cao Lãnh và trường
THPT Đốc Binh Kiều. Số HS được chọn TNSP vòng 1 là 370 HS, gồm 142 HS thuộc trường THPT Thiên Hộ
Dương, 159 HS thuộc trường THPT Thành Phố Cao Lãnh và 69 HS thuộc trường THPT Đốc Binh Kiều.
Thực nghiệm vòng 2: HS trường THPT Thiên Hộ Dương, trường THPT Thành Phố Cao Lãnh, trường THPT
Tháp Mười và trường THPT Lấp Vò 2. Số HS được chọn TNSP vòng 2 là 549 HS, gồm 144 HS thuộc trường
THPT Thiên Hộ Dương, 157 HS thuộc trường THPT Thành Phố Cao Lãnh, 86 thuộc trường THPT Tháp Mười
và 162 HS thuộc trường THPT Lấp Vò 2.
Công cụ đánh giá và tiến trình thực nghiệm sư phạm
Các tiêu chí đánh giá kết quả thực nghiệm sư phạm
Việc đánh giá kết quả TNSP được xem xét qua các mặt sau:
* Tính khả thi của các TNTT đã được xây dựng, được đánh giá thông qua các mặt sau:
- Đảm bảo về mặt khoa học: Tạo hiện tượng rõ ràng, đúng bản chất vật lí; kết quả TN đảm bảo tính thuyết
phục đối với HS.
- Đáp ứng các yêu cầu về mặt sư phạm: TN gắn liền hữu cơ với bài giảng; ngắn gọn cho kết quả ngay.
- Thuận tiện trong quá trình sử dụng: Dễ lắp ráp, đảm bảo an toàn và tiện lợi trong việc bảo quản, sửa
chữa và vận chuyển.
- Đảm bảo về mặt kinh tế: Các nguyên vật liệu, dụng cụ, thiết bị và linh kiện phải có giá thành vừa phải,
dễ tìm và có sẵn trong cuộc sống.
* Tính khả thi của tiến trình DH đã soạn thảo, được đánh giá qua các mặt sau:
- Các tiến trình DH có phù hợp với nội dung đổi mới PPDH môn vật lí ở trường THPT không? Có thuận
lợi để GV dễ dàng thực hiện trong QTDH không? Có phù hợp khả năng tiếp thu kiến thức của các đối tượng HS
không?
- Việc giảng dạy theo tiến trình DH đã soạn thảo có đảm bảo thời gian quy định của một tiết học không?
Có đạt mục tiêu của bài học không?
- Việc sử dụng và tiến hành các TNTT chuẩn bị cho giờ học có thuận lợi không? Quá trình tiến hành các TN có
Kết quả thực nghiệm sư phạm vòng 1
Kết quả về mặt định tính
- Ban đầu, khi tổ chức DH một số kiến thức theo tiến trình đã soạn thảo ở lớp ThN, HS còn bỡ ngỡ, thụ động và
chưa mạnh dạn nêu lên các dự đoán hiện tượng TN sắp xảy ra, nhưng ở các tiết học sau thì HS đã mạnh dạn hơn trong
việc nêu lên dự đoán hiện tượng.
- Ở các tiết học trước các em HS còn thụ động, chưa mạnh dạn trong việc thực hiện nhiệm vụ học tập như:
giải thích hiện tượng TN vừa quan sát, đóng góp ý kiến trong thảo luận nhóm,…thì ở các tiết học sau HS đã
mạnh dạn hơn, chủ động hơn trong việc thực hiện các nhiệm vụ học tập.
- Không khí lớp học ở lớp ThN sinh động hơn, HS học tập tập trung hơn, hứng thú hơn so với nhóm ĐC
thể hiện qua số lần phát biểu và tham gia xây dựng bài học.
- Ở các lớp ThN thì tư duy vật lí của các em HS được phát triển hơn so các em HS ở lớp ĐC. Vì ở lớp
ThN GV luôn sử dụng TNTT vào tổ chức HĐNT cho HS như: đề xuất vấn đề nghiên cứu để mở đầu bài học,
giải quyết vấn đề, củng cố và vận dụng kiến thức. Do đó để chiếm lĩnh được tri thức thì bắt buộc các em phải
thực hiện các thao tác tư duy như: Quan sát, thu thập thông tin và xử lí số liệu, phân tích, so sánh…qua đó tư
duy vật lí của các em được phát triển.
Kết quả thực nghiệm sư phạm vòng 2
Kết quả về mặt định lượng
20
Để đánh giá chất lượng kiến thức của HS ở lớp ĐC và ThN, GV cho HS thực hiện 02 bài kiểm tra 15 phút và
01 bài kiểm tra một tiết dưới dạng câu hỏi trắc nghiệm khách quan (xem phụ lục ). Mục đích của bài kiểm tra là so
sánh kết quả học tập của HS ở các lớp ThN và ĐC, sau đó tiến hành lập bảng thống kê kết quả điểm các bài kiểm tra
và sử dụng các tham số thống kê đặc trưng để tính toán.
Bảng 4.1. Bảng thống kê điểm số (x
i
) của 3 bài kiểm tra
Nhóm
Tổng số
bài
Số bài đạt điểm x
0
20
43
84
130
202
165
140
47
Bảng 4.2. Bảng phân phối tần suất của 3 bài kiểm tra
Nhóm
Tổng số
bài
Số % bài đạt điểm x
i
0
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
ĐC
816
0 Bảng 4.3. Bảng phân phối tần suất lũy tích của 3 bài kiểm tra
Nhóm
Tổng số
bài
Số % bài đạt điểm x
i
trở xuống
0
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
ĐC
816
0
0
0
6,74
21,57
39,83
kiểm tra Biểu đồ 4.1. Biểu đồ phân phối tần suất của 3 bài
kiểm tra
Biểu đồ 4.2. Biểu đồ phân phối tần suất lũy tích
của 3 bài kiểm tra
Đồ thị 4.2. Đồ thị phân phối tần suất lũy tích của 3
bài kiểm tra
21
Bảng 4.4. Bảng tổng hợp các tham số thống kê
Nhóm
Tổng số
bài
X
S
V(%)
mXX
quả học tập có độ tin cậy cao hơn, số liệu cần được kiểm định thống kê.
Kiểm định giả thiết thống kê
Để trả lời câu hỏi: Kết quả học tập của các lớp ThN cao hơn lớp ĐC có thực sự là do PPDH mới hay
không, chúng tôi tiếp tục phân tích các số liệu bằng phương pháp kiểm định giả thiết thống kê.
Muốn vậy chúng tôi đi kiểm định giả thiết H
0
: Sự khác nhau giữa
ThN
X
và
ĐC
X
là không có ý nghĩa, với
mức ý nghĩa α Nói cách khác không có sự khác biệt giữa hai hình thức DH.
Giả thiết H
1
: Sự khác nhau giữa
ThN
X
và
ĐC
X
là có ý nghĩa thống kê (tức là nếu tổ chức HĐNT cho HS
trong DH phần “Cơ học” vật lí 12 nâng cao với sự hỗ trợ của TNTT thì sẽ góp phần nâng cao chất lượng học
tập và hiệu quả DH).
Ta tính đại lượng F: với
2
Với mức ý nghĩa α = 0,05 và bậc tự do f
ThN
=831–1=830 và f
ĐC
=816–1=815, tra bảng phân phối F ta có
giá trị tới hạn F
α
= 1,26.
Như vậy từ kết quả tính toán, ta thấy F < F
α
, nghĩa là sự khác nhau của hai phương sai
2
S
ThN
và
2
C
S
Đ
là
không có ý nghĩa. Do đó ta tính đại lượng kiểm định t theo công thức: .
ThN ThĐC ĐC
CTh Đ
N
N
X X N N
t
tt
thì bác bỏ giả thiết H
0
, chấp nhận giả thiết H
1
.
- Nếu
tt
thì bác bỏ giả thiết H
1
, chấp nhận giả thiết H
0
.
Vận dụng công thức (2):
22
(831 1).1,67 (816 1).1,78
1,72
831 816 2
S
22
Sau đó thay vào (1),
1
.
Sau khi dùng phương pháp thống kê toán học để xử lý số số liệu TNSP cho phép chúng tôi rút ra kết luận sau:
- HS ở các lớp ThN nắm vững kiến thức hơn HS ở các lớp ĐC.
- Việc sử dụng TNTT tổ chức HĐNT cho HS trong DHVL đã thực sự góp phần vào việc tích cực hóa
HĐNT cho HS, qua đó góp phần nâng cao chất lượng học tập của HS và hiệu quả DHVL ở trường phổ thông.
KẾT LUẬN
Đối chiếu với mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu, đề tài đã giải quyết được những vấn đề sau đây:
1. Về mặt lí luận
- Theo thời gian và cùng với sự phát triển của khoa học thì TNTT ngày được phát triển và mở rộng.
Hiện nay, TNTT không chỉ là những TN đơn giản, rẻ tiền mà có thể là những TN phức tạp và có tính hiện
đại. Chính vì vậy, qua nghiên cứu chúng tôi đã làm rõ nội hàm của khái niệm TNTT và phân TNTT ra làm 3
loại, đó là: TNTT đơn giản; TNTT phức tạp và TNTT hiện đại.
- Căn cứ vào những ưu điểm của TNTT, cũng như các yêu cầu về tự tạo TN, chúng tôi đã đề xuất được
quy trình tự tạo TN. Quy trình này được thực hiện theo 9 bước, đó là: Xác định mục tiêu DH; Nghiên cứu nội
dung bài học; Tìm hiểu thực trạng cơ sở vật chất, TBTN; Đề xuất, lựa chọn phương án TN; Chuẩn bị các vật
liệu, dụng cụ và linh kiện cần thiết; Gia công, chế tạo dụng cụ TN; Lắp ráp TN; Tiến hành TN và hoàn thiện TN.
- Để có thể khai thác có hiệu quả các TNTT này trong DHVL nhằm tích cực hóa HĐNT, chúng tôi đã đề
xuất được quy trình sử dụng TNTT tổ chức HĐNT cho HS trong DHVL. Trong quy trình này chúng tôi đã chỉ ra
cách sử dụng TNTT ở các giai đoạn khác nhau của QTDH, đó là: sử dụng trong đề xuất vấn đề, sử dụng trong
giải quyết vấn đề và sử dụng trong củng cố, vận dụng kiến thức.
2. Về mặt thực tiễn
- Dựa vào quy trình tự tạo TN đã đề xuất, chúng tôi đã tiến hành thiết kế, chế tạo được 9 TN trong phần
“Cơ học” vật lí lớp 12 nâng cao, đó là: TN sóng dừng; TN ghi đồ thị dao động điều hòa; TN bảo toàn momen
động lượng; TN khảo sát chu kì dao động của con lắc đơn; TN momen quán tính của vật rắn phụ thuộc vào sự
phân bố khối lượng đối với trục quay; TN momen động lượng của vật rắn đối với trục quay; TN giao thoa sóng;
TN hiện tượng cộng hưởng và TN sự phản xạ sóng.
- Vận dụng quy trình sử dụng TNTT tổ chức HĐNT cho HS đã đề xuất, chúng tôi đã tiến hành thiết kế
được 7 tiến trình DH trong phần “Cơ học” vật lí lớp 12 nâng cao theo hướng tích cực hóa HĐNT của HS. Để
X
là có ý nghĩa. Vì vậy bác bỏ giả thiết H
0
, chấp nhận giả thiết H
1
. Kết quả
TNSP thu được của đề tài có đủ cơ sở để khẳng định việc sử dụng TNTT tổ chức HĐNT cho HS đã thực sự góp
phần nâng cao chất lượng học tập của HS và hiệu quả DHVL ở trường phổ thông.
4. Một số kiến nghị
Để việc sử dụng TNTT tổ chức HĐNT cho HS trong DH phần “Cơ học” vật lí 12 nâng cao nói riêng và
các phần khác trong chương trình vật lí phổ thông nói chung mang lại hiệu quả thì cần phải có sự nỗ lực phấn
đấu của các cấp quản lí giáo dục và đội ngũ GV vật lí ở các trường phổ thông, cụ thể:
- Các cấp quản lí giáo dục cần thường xuyên phát động phong trào thi đua tự làm đồ dùng DH cho GV ở
các trường phổ thông. Khuyến khích GV xây dựng và sử dụng TNTT trong DH nhưng phải đảm bảo theo đúng
các yêu cầu của việc thiết kế, chế tạo và sử dụng TN trong DHVL.
- Tổ chức tập huấn, bồi dưỡng kĩ năng thực hành TN cho GV, khuyến khích GV mạnh dạn áp dụng các
hình thức DH tích cực trong DHVL.
- Có sự đánh giá, ghi nhận về việc xây dựng và sử dụng TNTT trong DHVL.
24
CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ
1. Lê Văn Giáo, Nguyễn Hoàng Anh, “Sử dụng TN tự tạo trong dạy học vật lí ở trường phổ thông”, Tạp chí giáo
dục, số đặc biệt (12/2012), trang 50 – 51.
2. Nguyễn Hoàng Anh, “Chế tạo và sử dụng TN tự tạo trong dạy học vật lí ở trường phổ thông”, Tạp chí giáo
dục, số 302 kì 2 (01/2013), trang 56 – 57.
3. Nguyễn Hoàng Anh, “Sử dụng TN tự tạo và TN giáo khoa trong dạy học vật lí”, Tạp chí giáo dục, số 315 kì 1
( 8/2013), trang 43 – 44.
general education must to promote a positive, self-discipline, initiative and creativity of students; match
the characteristics of each class, subjects; fostering self-learning method, the ability to work in teams;
skills to apply knowledge into practice; the emotional impact, bringing joy, the excitement for students in
learning".
Situation of teaching physics in high schools now show, teaching physics knowledge for students
still heavily presentations, transfer of knowledge one-way, teacher only explains, illustrates, and
notifications of available knowledge, students just sit to listen, acquire knowledge and remembering a
passive way, still not yet focuses on harnessing the means of teaching and experiments in teaching.
Therefore to enhance the quality of education in order to train students to become the new workers to
meet the human resources for the career development of the country, at the 8th Conference the Party
Central Executive Board XI (Resolution No. 29-NQ/TW) on the basic of innovation, comprehensive
education and training and meet the requirements of industrialization-modernization in conditions of
market economy Socialist orientation and integration. Resolution specified: “Continued strong innovation
of teaching and learning method in modern teaching; promote positive, proactive, creative and apply
knowledge and skills of learners; overcome to impose entrance indoctrinated one way, memorize
mechanically. Focusing to teach how to learn, how to think, to encourage self-learning, provide the basis
for the self-updating and renewal of knowledge, skills, capacity development ". The resolution also
specified in the educational process must promote positive, initiative and creativity of students, students
must be active subjects of cognitive processes and proactive in occupying the knowledge.
Physics is an experimental science, the physics knowledge are drawn from observations and
experiments. The laws of physics or theoretical physics have also become physical knowledge when the
empirical verification. So, in teaching physics in high schools the experiment has always been a very
important role, with a great impact in improving the quality in occupying the knowledge and skills of
students. On the other hand, the necessity of experiments in teaching physics in high schools also also are
regulated by the rules of common perception of people that Lenin had pointed out: “From the vivid visual
to abstract thinking and from abstract thinking to vivid Visual”.
The part "Mechanics" 12
th
grade physics advanced is relatively difficult, the phenomenon has
abstraction, so it needs to be visually in teaching process. However, the laboratory equipment of this