Website: Email : Tel : 0918.775.368
A.ĐẶT VẤN ĐỀ
Phật giáo được biết đến như một tôn giáo phổ biến nhất ở Việt Nam đồng thời ở cả
một số nước châu Á khác.Phật giáo không chỉ là tôn giáo của tín ngưỡng mà còn là tôn giáo
của lí trí, là một trong những trường phái triết học có lịch sử lâu đời nhất. Kể từ khi được
hình thành ở Ấn Độ, Phật giáo được truyền bá đi khắp năm châu bốn bể, từ phương Đông
đến phương Tây. Sở dĩ Phật giáo có tầm ảnh hưởng rộng lớn và lâu dài như vậy là bởi giá
trị sâu sắc của nó. Phật giáo lấy từ bi, trí giác soi sáng tâm hồn nhân loại mọi thời đại, mọi
không gian để cải tạo con người và xã hội cho công bằng, con người sống hoà bình với
nhau trong tinh thần lợi tha vô ngã. Tầm ảnh hưởng của Phật giáo không ngoại trừ Việt
Nam - một nước thuộc bán đảo Đông Dương, giáp Trung Quốc. Ảnh hưởng của nó với
nước ta chủ yếu về mặt đạo đức, tư tưởng, lối sống của người dân. Hầu hết người dân Việt
Nam từ xưa đến nay vẫn tìm sự thanh tịnh cho mình ở chốn chùa chiền nơi mà cuộc sống
phức tạp và cạnh tranh sinh tồn không bao giờ chạm đến được
Tuy mang một giá trị nhân bản với nhiều tư tưởng đạo đức cao nhưng Phật giáo
cũng không tránh khỏi một số những sai lầm và quan điểm phiến diện. là một nước có đông
đảo nhân dân theo Phật giáo, việc nghiên cứu giá trị cũng như hạn chế của trường phái triết
học này là một việc rất quan trọng. Từ đó ta có thể rút ra những bài học quí giá áp dụng
trong lí luận và thực tiễn cũng như tránh quan điểm chủ quan duy ý chí, mê tín dị đoan còn
xuất hiện nhiều trong xã hội ta hiện nay.
Trong bài này ta sẽ tìm hiểu để có một cái nhìn toàn diện về Phật giáo, về gía trị, hạn
chế cũng như ảnh hưởng đến con người, đến xã hội Việt Nam như thế nào trong giai đoạn
hiện nay khi mà đất nước ta đang biến đổi từng ngày theo xu thế kinh tế thị trường và bị
xâm nhập bởi vô vàn các loại hình văn hoá.
1
Website: Email : Tel : 0918.775.368
B.Nội dung
1. Tìm hiểu chung về Phật giáo
1.1 Sự ra đời của Phật giáo
Ấn Độ là quê hương của Phật giáo, theo các tài kiệu lịch sử thì xã hội Ấn
Độ cổ đại chia thành nhiều đẳng cấp khác nhau. Bốn đẳng cấp lớn là tăng lữ, quí
của sự khổ (ái dục), chấm dứt sự khổ (Niết Bàn, mục tiêu cứu cánh của Phật Giáo),
và con đường "Trung Đạo".
Ba chân lý đầu tiên là phần triết lý của Phật Giáo. Chân lý thứ tư là phần
luân lý căn cứ trên triết lý ấy. Tất cả bốn, gồm trọn vẹn giáo lý của Đức Phật, đều
tùy thuộc nơi cơ thể vật chất này. Đây là những sự kiện hoàn toàn dính liền với con
người và những chúng sanh khác, những sự kiện hiển nhiên, không còn tranh luận
gì nữa.
Phật Giáo nằm vững trên nền tảng đau khổ. Mặc dầu nhấn mạnh vào sự
hiện hữu của đau khổ, Phật Giáo không phải là một giáo lý bi quan. Phật Giáo
không hoàn toàn bi quan, cũng không hoàn toàn lạc quan, mà chỉ thực tiễn. Người
ta sẽ có lý do để chủ trương rằng Phật Giáo là bi quan nếu giáo lý nµy chỉ đề cập
d«ng dài đến trạng thái đau khổ mà không vạch ra con đường để thoát khổ và tiến
đạt hạnh phúc trường cửu. Đức Phật đã nhận ra tính cách phổ thông của sự khổ và
kê liệt một phương thuốc trị liệu cho chứng bệnh chung của nhân loại. Theo Đức
Phật Niết Bàn, sự chấm dứt đau khổ, là hạnh phúc cao thượng nhất mà con người
có thể quan niệm.
3
Website: Email : Tel : 0918.775.368
1.2.2 Giáo lí chung của Phật giáo
Phật giáo gồm một hệ thống triết lí đa diện, cống hiến cho xã hội loài người
mặt an sinh và tu chứng. Mặt an sinh xã hội, Phật giáo chủ trương thế giới đại đồng
huynh đệ trong tình tương thân tương ái, còn về mặt tu chứng, với phương pháp tu
hành đạt đến giảI thoát khỏi luân hồi,sinh tử để chứng nhập vào cảnh niết bàn tịch
tịch an vui.
Phật giáo vì thế được quan niệm như một tôn giáo, một triết lí sống thực, một
siêu hình học hay một mớ giáo điều mê tín dị đoan như người duy vật nhận xét thì
Phật giáo vẫn giữ được cương vị của nó trên bình diện khách quan. Vì chân lí
không bao giờ thay đổi trước bất kì thế lực hay khuynh hướng chính trị nào. Điều
này chúng tỏ giáo pháp của đạo Phật suốt 2500 năm lịch sử vẫn giữ được địa vị
độc tôn mà không bị chi phối bởi không gian và thời gian. Phật giáo đem lại cho
tạo một ung nhọt, mà chiến đấu (theo nghĩa hẹp) chỉ là tương đối. Chiến đấu phải là
một hành động vì bảo vệ sự sinh tồn mà bất đắc dĩ phải áp dụng trong trường hợp
bất đắc dĩ. Nếu biến sự bất đắc dĩ ấy thành sự tuyệt đối cần thiết trong mọi trường
hợp, thì chiến đấu sẽ trở thành chiến tranh.
Đặc điểm thứ tư của đạo Phật là xác nhận “người là trung tâm điểm của xã
hội loài người”. Đạo Phật không nói duy tâm, không nói duy vật, mà tất cả đều do
5
Website: Email : Tel : 0918.775.368
người phát sinh và đều phát sinh vì người. Kết luận này thật tế ở đâu cũng rõ rệt cả.
Trên thế giới loài người này không có gì tự nhiên sinh ra hay từ hư không rơi
xuống, mà đều do năng lực hoạt động của con người tạo thành. Năng lực hoạt động
của con người tạo tác chi phối tất cả. Tất cả khổ hay vui, tiến hóa hay thoái hóa, là
đều do con người dã man hay văn minh. Người là chuá tể của xã hội loài người, xã
hội loài người không thể có chúa trời thứ hai.
Đặc điểm thứ năm là đạo Phật chú trọng “đối trị tâm bệnh con người trước
hết”. Lý do rất dễ hiểu. Con người là trung tâm điểm của xã hội loài người, xã hội
ấy tiến hoá hay thoái hóa là hoàn toàn do hoạt động con người chi phối; mà hoạt
động con người lại do tâm trí con người chủ đạo, vậy xã hội là phản ảnh trung
thành của tâm trí con người. Cho nên muốn cải tạo xã hội, căn bản là phải cải tạo
con người, cải tạo tâm bệnh con người. Tâm bịnh con người nếu còn độc tài, tham
lam, thì xã hội loài người là địa ngục; tâm bnh con người được đối trị rồi thì hoạt
động con người rất sáng suốt mà xã hội con người, kết qủa của hoạt động ấy, cũng
rất cực lạc.
Đặc điểm thứ sáu, mục đích đạo Phật là “đào luyện con người thành bi, trí,
dũng”. Bi là tôn trọng quyền sống của người khác. Trí là hành động sáng suốt lợi
lạc. Dũng là quyết tâm qủa cảm hành động. Dũng không có bi và trí thì sẽ thành tàn
ác và manh động. Trí không có bi và dũng thì sẽ thành gian xảo và mộng tưởng. Bi
không có trí và dũng sẽ thành tình cảm và nhút nhát. Bi là tư cách tiến hóa, trí là trí
thức tiến hoá, dũng là năng lực tiến hoá. Con người như thế là con người mới, căn
bản của xã hội mới.