tình huống về tội cướp giật tài sản - Pdf 30

Tình huống số 6- Môn Luật Hình sự
Tình huống:
A, B là những đối tượng không nghề nghiệp, tình cờ gặp nhau tại quán cà phê
trong thị xã, A rủ B tìm những tiệm vàng nào sơ hở để chiếm đoạt tài sản bán lấy
tiền chia nhau tiêu xài, thì B đồng ý. Hôm sau, A sử dụng xe mô tô của mình chở B
đến tiệm vàng của anh H, A ngồi trên xe chờ bên ngoài, B đi vào gặp anh H giả vờ
hỏi mua vàng và đề nghị anh H cho B xem sợi dây chuyền trị giá 55.000.000 đồng,
khi vừa nhận được sợi dây chuyền mà anh H đưa, B lập tức bỏ chạy ra ngoài, A đề
máy xe chở B tẩu thoát. Anh H lấy xe mô tô đuổi theo thì bị B hai lần dùng đá ném
trả trúng người anh H bị té ngã. Nghe tiếng truy hô, nên lực lượng Cảnh sát giao
thông đang chốt trực gần đó phối hợp với nhân dân bắt giữ A và B. Qúa trình điều
tra, do thương tích không đáng kể nên anh H không yêu cầu xử lý A, B về tội cố ý
gây thương tích.
Anh (chị) hãy cho biết hành vi của A, B phạm tội gì, quy định tại điều khoản nào
của Bộ luật hình sự?
Bài làm:
Giả định: Cả A và B đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự ( trên 18 tuổi ) và có đầy đủ
năng lực trách nhiệm hình sự.
1. Khái quát chung
1.1. Phân tích các dấu hiệu cấu thành tội phạm
Như chúng ta đã biết, cấu thành tội phạm là tổng hợp những dấu hiệu chung
có tính chất đặc trưng cho loại tội phạm cụ thể được quy định trong Luật Hình sự.
Cấu thành tội phạm bao gồm 4 yếu tố hợp thành là khách thể của tội phạm, mặt
khách quan của tội phạm, mặt chủ quan của tội phạm và chủ thể của tội phạm. Mỗi
yếu tố của tội phạm đều có mặt quan trọng của nó và có ý nghĩa nhất định trong
việc xác định tội phạm. Vì vậy, thiếu một trong 4 yếu tố đó thì một hành vi không
thể bị coi là tội phạm. Mỗi yếu tố tội phạm bao gồm nhiều dấu hiệu, nhưng không
nhất thiết trong cấu thành tội phạm cụ thể phải có mặt tất cả các dấu hiệu đó. Tuy
1
Tình huống số 6- Môn Luật Hình sự
nhiên, bất kì một CTTP cụ thể nào thì luôn phải chứa đựng những dấu hiệu bắt

A và B có tính nguy hiểm cho xã hội không (thuộc trong mặt khách quan của tội
phạm). Theo định nghĩa, hành vi có tính nguy hiểm cho xã hội là hành vi của con
người gây thiệt hại hay đe dọa gây thiệt hại cho những quan hệ xã hội được Luật
Hình sự bảo vệ. Và chúng ta đã phân tích ở trên, hành vi của A và B đã gây thiệt
hại đến hai quan hệ xã hội được luật Hình sự đã và đang bảo vệ đó là quan hệ sở
hữu và quan hệ nhân thân. Cụ thể hơn là A và B đã thực hiện hành vi chiếm đoạt
sợi dây từ đó làm cho anh H mất khả năng thực tế thực hiện quyền sở hữu của
mình đối với sợi dây chuyềnvà hành vi ném đá của B cũng gây thiệt hại đến sức
khỏe của anh H. Dựa trên định nghĩa, có thể thấy hành vi của A và B đã hoàn toàn
thể hiện tính nguy hiểm cho xã hội một cách cụ thể và rõ ràng.
Dấu hiệu lỗi trong mặt chủ quan của tội phạm là dấu hiệu bắt buộc thứ 3 để
chứng minh hành vi của A và B đã trái với pháp luật hình sự. Pháp luật Việt Nam
đã qui định lỗi có 4 hình thức khác nhau và dựa vào khái niệm của các hình thức
lỗi thì chúng tôi khẳng định rằng hành vi của A và B là lỗi cố ý trực tiếp. Khái
niệm của lỗi cố ý trực tiếp là lỗi của người khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã
hội, nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả
của hành vi đó và mong muốn hậu xảy ra. Vận dụng khái niệm này vào tình huống
của A và B, chúng ta có thể thấy A và B chủ động rủ nhau đi tìm kiếm những tiệm
vàng sơ hở để chiếm đoạt tài sản, việc chủ động như vậy chắc chắn A và B thấy
trước được hậu quả nguy hiểm do chính hành vi của mình gây ra. Và khi A và B
tìm thấy tiệm vàng của anh H thì đã tiến hành chiếm đoạt công khai và nhanh
chóng tài sản của anh H bằng mọi cách là giật sợi dây chuyền rồi bỏ chạy và còn
cố ý ném đá vào người anh H khi bị đuổi theo. Điều này đã chứng minh A và B
3
Tình huống số 6- Môn Luật Hình sự
thực sự mong muốn hậu quả xảy ra đó là làm mất quyền sở hữu của anh H đối với
sợi dây chuyền. Như vậy, hành vi của A và B đã đủ điều kiện thỏa mãn dấu hiệu
lỗi với hình thức là lỗi cố ý trực tiếp.
Dấu hiệu bắt buộc cuối cùng là năng lực TNHS và độ tuổi chịu TNHS thuộc
chủ thể của tội phạm. Với giả sử ban đầu của chúng tôi thì A và B đã có đầy đủ

Khi thực hiện hành vi chiếm đoạt sơi dây chuyền từ anh H, cả A và B cùng
tham gia vào việc thực hiện một tội phạm. Hơn nữa xét thấy, cả A và B đều đủ tuổi
chịu TNHS theo quy định tại Điều 12 và không rơi vào tình trạng không có năng
lực TNHS theo Điều 13 BLHS. Do đó, hành vi phạm tội của A và B đã thỏa mãn
dấu hiệu bắt buộc của đồng phạm – “có 2 người trở lên”.
Trong tình huống đưa ra, ta thấy bắt đầu từ việc “A rủ B tìm những tiệm
vàng nào sơ hở để chiếm đoạt tài sản bán lấy tiền chia nhau tiêu xài, thì B đồng ý”
cho đến hành vi A và B cùng đến tiệm vàng của anh H và thực hiện hành vi lấy sợi
dây chuyền, hành vi của mỗi chủ thể của tội phạm trong đồng phạm có sự liên kết
thống nhất với nhau (A và B cùng thống nhất đi đến tiệm vàng của anh H để chiếm
đoạt tài sản), hành vi của người này hỗ trợ, bổ sung cho hành vi của người khác (A
chở B đến tiệm vàng, ngồi chờ ở ngoài để B thực hiện hành vi phạm tội, sau đó đề
máy xe chạy để cả 2 tẩu thoát).
Về dấu hiệu chủ quan,
5
Tình huống số 6- Môn Luật Hình sự
Tại Khoản 1 Điều 20, ta thấy dấu hiệu bắt buộc để thỏa mãn đồng phạm là
phải có sự “cố ý cùng thực hiện một tội phạm”. Xét về khía cạnh lý trí. Cả A và B
đều nhận thức được rõ hành vi chiếm đoạt tài sản của mình có tính chất nguy hiểm
cho xã hội, đồng thời A và B cũng đều nhận thức được hậu quả nguy hiểm do hành
vi của mình gây ra, cụ thể là gây tổn thất về tài sản cho anh H). Về khía cạnh ý chí,
khi B đồng ý cùng A tham gia thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản đồng nghĩa với
việc cả A và B đều mong muốn có hậu quả xảy ra, hay nói cách khác A và B đều
mong rằng cả 2 sẽ thực hiện thành công việc làm phạm pháp của mình. Vì thế, cả
A và B đều có lỗi cố ý không chỉ đối với hành vi của mình mà còn biết và mong
muốn sự cố ý, tham gia của người còn lại.
Dựa vào tình huống trên, ta có thể thấy tuy mục đích phạm tội và động cơ
phạm tội của A và B không được thể hiện rõ ràng và cụ thể, tuy nhiên, trong
trường hợp trên, A và B thực hiện hành vi cướp giật sợi dây chuyền từ anh H, thì
pháp luật hình sự về đồng phạm không đòi hỏi các đồng phạm đều phải có cùng

thế nữa việc A ngồi trên xe mô tô trước cửa tiệm vàng đợi B chạy ra để cùng thực
hiện hành vi tẩu thoát đã gián tiếp hạn chế cũng như khắc phục những trở ngại để
B trực tiếp thực hiện hành vi cướp lấy sợi dây chuyền một cách thuận lợi (Ví dụ: A
chờ B ở ngoài nhằm đánh lạc hướng những người xung quang cũng như chủ của
hàng để từ đó B có thể lợi dụng sơ hở của chủ cửa hàng và việc không ai để ý thực
hiện hành vi của mình). Vì vậy, trong tình huống trên, A giữ vai trò vừa là người tổ
chức, vừa là người giúp sức.
7
Tình huống số 6- Môn Luật Hình sự
Bên cạnh đó, ta có thể dễ dàng nhận thấy, B là người thực hành, căn cứ tại
Khoản 2 Điều 20 BLHS: “Người thực hành là người trực tiếp thực hiện tội phạm”.
B là người vào tiệm vàng, trực tiếp đối thoại với anh H và yêu cầu anh cho xem sợi
dây chuyền trị giá 55.000.000 đồng, và lợi dụng lúc anh sơ hở đưa sợi dây chuyền
cho B, B đã thực hiện hành vi cướp lấy và bỏ chạy ra ngoài để cùng A tẩu thoát
2. Liên hệ các hành vi của A và B trong tình huống
2.1. Phân tích hành vi của B
Hành vi của B đã thỏa mãn các yếu tố cấu thành tội cướp giật tài sản quy
định tại điều 136 BLHS năm 1999. Cụ thể:
2.1.1. Khách thể của tội phạm:
Hành vi của B đã xâm phạm đến quyền sở hữu đối với tài sản. Cụ thể là
quyền sở hữu sợi dây chuyền (trị giá 55.000.000 đồng) của anh H- chủ tiệm vàng.
Quyền sở hữu ấy là khách thể được Luật Hình sự bảo vệ. Quy định tại khoản
1 Điều 8 LHS.
2.1.2. Mặt khách quan của tội phạm
Trong BLHS, tội cướp giật tài sản được thể hiện dưới dạng quy định giản
đơn nên không có định nghĩa chính thức của các nhà làm luật về tội phạm này. Tuy
nhiên, thực tiễn xét xử và khoa học pháp lý hình sự định nghĩa: “Cướp giật tài sản
là hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác một cách công khai và nhanh chóng”.
Chiếm đoạt tài sản một cách công công khai:
Là trường hợp khi thực hiện hành vi phạm tội, người phạm tội không giữ bí

2.1.5. Các tình tiết định khung
Giá trị tài sản: B đã thực hiện hành vi cướp giật nhằm chiếm đoạt tài sản là
dây chuyền vàng của anh H trị giá năm mươi lăm triệu đồng. Điều này, vi phạm
vào điểm g khoản 2 điều 136 BLHS vì “Chiểm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi
triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng”.
Hơn nữa, khi bị anh H truy đuổi B hai lần dùng đá ném trả trúng người anh
H bị té ngã hành vi ấy của B được xem như là hành hung để tẩu thoát. Căn cứ vào
6.1 tiểu mục 6 mục I thông tư liên tịch số 02/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-
9
Tình huống số 6- Môn Luật Hình sự
BCA-BTP thì : “Phạm tội thuộc trường hợp "hành hung để tẩu thoát" là trường hợp
mà người phạm tội chưa chiếm đoạt được tài sản hoặc đã chiếm đoạt được tài sản,
nhưng bị phát hiện và bị bắt giữ hoặc bị bao vây bắt giữ thì đã có những hành vi
chống trả lại người bắt giữ hoặc người bao vây bắt giữ như đánh, chém, bắn, xô
ngã nhằm tẩu thoát”. Như vậy, B đồng thời phạm tội cướp giật tài sản thuộc
trường hợp hành hung để tẩu thoát quy định tại điểm đ khoản 2 điều 136.
2.2. Phân tích hành vi của A
Như đã phân tích ở trên, A và B là đồng phạm trong một vụ án. Cho nên,
dựa vào những hành vi của A ta sẽ xác định vai trò của A trong đồng phạm.
Xem xét hành vi thứ nhất của A, A là người chủ động đề nghị B cùng với
mình thực hiện tội phạm và cũng chính là người đề ra cách thức, vạch ra phướng
hướng phạm tội. Do đó, căn cứ theo Khoản 2, Điều 20 BLHS có quy định “ Người
tổ chức là người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy việc thực hiện tội phạm” vậy A chính
là người tổ chức trong đồng phạm với vai trò là chủ mưu.
Xem xét hành vi thứ hai của A, theo như thỏa thuận trước đó, A đã dùng xe
máy của mình chở B đến tiệm vàng để thực hiện hành vi phạm pháp, đứng chờ B
bên ngoài và cũng chính là người giúp B tẩu thoát sau khi thực hiện xong hành vi
đó. Vậy A đã tạo những điều kiện thuận lợi cho B thực hiện hành vi phạm tội, hành
động này đã được thỏa thuận, thống nhất trước đó với B và được tiến hành trước
khi tội phạm kết thúc. Theo quy định của pháp luật tại Khoản 2, Điều 20 BLHS là


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status