I. Vụ án
A và B có ý định chiếm đoạt tài sản của người khác. Để việc chiếm đoạt thuận lợi
chúng cùng nhau tìm mua súng. Sau một thời gian tìm mua súng không được, chúng
ra một cửa hàng đồ chơi trẻ em mua một khẩu súng nhựa.
Một hôm, A và B đem khẩu súng này ra bờ sông (nơi thanh niên hay ngồi hóng
mát). Bọn chúng gặp C, D đang ngồi bên cạnh một chiếc xe máy. A rút súng ra dọa:
“ngồi im không tao bắn chết”. Tưởng đây là súng thật và lo lắng cho tính mạng nên
khi B lấy chiếc xe máy mang đi, C và D không có phản ứng gì. A, B đem xe máy bán
cho người quen là E được 8.000.000 đồng và ăn tiêu hết.
II. Giải quyết vấn đề
1. Hành vi của A và B cấu thành tội gì? Tại sao?
Hành vi của A và B cấu thành tội cướp tài sản được quy định tại Điều 133 BLHS
1999 vì căn cứ vào các tình tiết vụ án đưa ra ta thấy hành vi mà A và B đã thực hiện
thỏa mãn các dấu hiệu pháp lý cấu thành tội phạm của tội này:
• Về khách thể của tội phạm: Hành vi cướp tài sản xâm hại đồng thời hai
quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ là quan hệ nhân thân và quan hệ sở hữu. Cả
hai quan hệ xã hội này đều được coi là khách thể trực tiếp của tội cướp tài sản. Ở vụ
án trên, với hành vi rút súng ra dọa “ngồi im không tao bắn chết” của A và B đã xâm
hại quan hệ nhân thân là tính mạng, sức khỏe, quyền tự do con người và qua đó nhằm
mục đích xâm phạm quan hệ sở hữu là chiếm đoạt tài sản (chiếc xe máy) của C, D.
• Về mặt khách quan của tội phạm:
Hành vi khách quan của tội cướp tài sản được mô tả trong cấu thành tội
phạm của tội này quy định tại khoản 1 Điều 133 BLHS 1999: “dùng vũ lực, đe dọa
dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào
tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản”. Như vậy, có 3 dạng
hành vi khách quan được coi là hành vi phạm tội của tội cướp tài sản:
- Hành vi dùng vũ lực: Đây là hành vi dùng sức mạnh vật chất tác động vào thân
thể người khác nhằm đè bẹp hoặc làm tê liệt sự chống cự của người đó chống lại việc
chiếm đoạt, từ đó người phạm tội có thể dễ dàng chiếm đoạt được tài sản.
- Hành vi đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc: Trường hợp người phạm tội được coi
là đã thực hiện hành vi này khi người đó bằng lời nói hoặc cử chỉ hoặc cả hai dọa sẽ
cấu thành tội phạm của tội cướp tài sản. Tuy nhiên, khi phân tích hành vi của A và B
cần xác định rõ 2 vấn đề:
- Dấu hiệu ngay tức khắc của sự đe dọa dùng vũ lực trong hành vi của người phạm
tội cướp tài sản chỉ đòi hỏi người phạm tội đã có hành vi, cử chỉ, thái độ thể hiện ra
bên ngoài mà không đòi hỏi họ phải thực sự có ý định sẽ dùng vũ lực ngay tức khắc
2
hay phải có đủ điều kiện để dùng vũ lực ngay tức khắc. Như ở trường hợp trên, ta thấy
A và B đã thể hiện ra ngoài sự đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc bằng hành vi và lời
nói của mình nhưng trên thực tế họ không có ý định và cũng không có đủ điều kiện
thực hiện điều đó vì vũ khí họ sử dụng chỉ là khẩu súng giả. Cho nên, khi xác định
tình tiết này chúng ta không được máy móc đòi hỏi sự đe dọa đó phải được thực hiện
và diễn ra trên thực tế.
- Dấu hiệu hành vi đe dọa dùng vũ lực của tội cướp tài sản cần được phân biệt với
hành vi đe dọa dùng vũ lực ở tội cưỡng đoạt tài sản. Theo đó, chúng khác nhau ở thời
điểm diễn ra hành vi dùng vũ lực trên thực tế và cả thái độ đối với việc thực hiện hành
vi đó. Nếu như ở tội cướp tài sản hành vi đe dọa dùng vũ lực xảy ra ngay tức khắc tức
là ngay lập tức xảy ra và thể hiện sự mãnh liệt của hành vi đe dọa cũng như việc thực
hiện hành vi đó của người phạm tội thì ở tội cưỡng đoạt tài sản, hành vi người phạm
tội không đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc mà đe dọa sẽ dùng vũ lực, qua đó cũng
thể hiện thái độ ít mãnh liệt hơn.
• Về chủ thể của tội phạm: Chủ thể mà tội cướp tài sản đòi hỏi là chủ thể
thường tức là chủ thể đạt độ tuổi luật định và có năng lực TNHS. Trong vụ án trên
không đặt ra vấn đề về chủ thể nên ta ngầm hiểu A và B đáp ứng điều kiện về chủ thể
của tội cướp tài sản
• Về mặt chủ quan của tội phạm:
Lỗi của người phạm tội cướp tài sản cũng giống như các tội xâm phạm sở
hữu có tính chiếm đoạt khác là lỗi cố ý trực tiếp. Trong vụ án trên, A và B chắc chắn
phải nhận thức được hành vi đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc nhằm chiếm đoạt tài
sản là nguy hiểm cho xã hội nhưng vẫn mong muốn thực hiện hành vi đó và mong
muốn chiếm đoạt được tài sản của người khác, thể hiện ở mục đích chiếm đoạt có
hành vi khách quan được mô tả trong CTTP của tội cướp tài sản nên theo lập luận
trên, hành vi phạm tội của A và B đã hoàn thành và A, B phải bị truy cứu trách nhiệm
hình sự về tội cướp tài sản mà không cần quan tâm đến việc A, B có cướp được tài sản
hay không. Vậy, trong trường hợp C, D biết là súng giả, chống cự lại và A, B không
lấy được tài sản thì trách nhiệm hình sự của A, B vẫn không thay đổi vì hậu quả (cướp
được tài sản) không phải là dấu hiệu định tội của tội cướp tài sản. Cho nên, nếu A và
B không cướp được chiếc xe máy của C, D thì A và B vẫn phải chịu trách nhiệm hình
sự về tội cướp tài sản quy định tại Điều 133 BLHS 1999.
Ở đây cần lưu ý rằng tài sản bị chiếm đoạt trong tội cướp tài sản không phải là dấu
hiệu định tội mà chỉ là dấu hiệu định khung hình phạt. Cho nên, nếu A, B không cướp
được tài sản thì điều đó không có ý nghĩ gì trong việc làm thay đổi trách nhiệm hình
sự và A, B phải chịu. Nhưng nếu A, B cướp được chiếc xe máy thì cần phải căn cứ
4
vào giá trị của tài sản đó để xác định A và B bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo
khoản nào của Điều 133 BLHS 1999.
* Một số quan điểm khác về trách nhiệm hình sự mà A, B phải chịu trong giả thiết
đặt ra:
• Đối với giả thiết đặt ra trong tình huống trên, có quan điểm cho rằng A, B
phạm tội cướp tài sản thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt vì cho rằng họ đã thực hiện
hành vi đi liền trước của tội cướp tài sản là hành động giơ súng ra và đe dọa để chiếm
đoạt tài sản nhưng do C, D biết đó là súng giả nên đã chống cự lại tức là do nguyên
nhân ngoài ý muốn mà khiến cho A và B không cướp được chiếc xe máy. Hiểu như
vậy là sai bản chất của hành vi phạm tội trong trường hợp phạm tội chưa đạt và không
đúng về hành vi khách quan được mô tả trong CTTP của tội cướp tài sản. Cần phải
nhận thấy rõ rằng A và B đã thực hiện đầy đủ hành vi mà tội cướp tài sản đòi hỏi cho
nên không thể nói hành vi đó mới bắt đầu được thực hiện hay không được thực hiện
đến cùng. Cho dù vũ khí mà A, B sử dụng chỉ là súng giả, không có khả năng thực tế
hiện thực hóa sự đe dọa dùng vũ lực nhưng trên thực tế nó vẫn có tác dụng uy hiếp
tinh thần buộc người bị đe dọa phải giao tài sản và hành vi của tội cướp tài sản cũng
không đòi hỏi người phạm tội phải có ý định hay có đủ điều kiện dùng vũ lực. Vì vậy,
Trường hợp 2: E phạm tội cướp tài sản quy định tại Điều 133 BLHS với vai trò
đồng phạm với A và B: Trường hợp này xảy ra nếu E có sự hứa hẹn, thỏa thuận trước
với A và B là sẽ mua lại tài sản do A và B cướp giật được mà cụ thể ở đây là chiếc xe
máy . Sự hứa hẹn, thỏa thuận đó phải được thực hiện trước khi hành vi phạm tội của A
và B diễn ra.
Trường hợp 3: E phạm tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có quy định
tại Điều 250 BLHS trong trường hợp E tuy không có sự hứa hẹn trước với A và B
nhưng vẫn mua lại chiếc xe máy (tiêu thụ tài sản) mà E biết rõ là tài sản đó là do A và
B đi cướp mà có được. Trong trường hợp này, hành vi của E phải thỏa mãn các dấu
hiệu: E biết rõ chiếc xe máy mình mua lại từ A và B là tài sản do cướp giật mà có
được và việc tiêu thụ đó không phải do B thỏa thuận, hứa hẹn từ trước với A và B.
III. Kết Luận
Từ vụ án nêu trên, ta thấy rằng khi xác định tội danh của người phạm tội cần xét
xem các dấu hiệu của hành vi phạm tội thỏa mãn các yếu tố cấu thành tội phạm đó hay
không, cần đặc biệt lưu ý một số tình tiết trong hành vi có thể gây nhầm lẫn với tội
phạm khác nên cần phải xét các hành vi đó trong một tổng thể khách quan. Ngoài ra,
đối với những trường hợp có từ 2 người phạm tội trở lên cần phân tích được những
người đó có đồng phạm với nhau trong việc thực hiện tội phạm hay không. Đặc biệt
6
lưu ý CTTP của tội phạm đang xét để có thể xác định chính xác trách nhiệm hình sự
của người phạm tội.
Vậy A, B, E phải chịu trách nhiệm hình sự về tội gì ta cùng đi sâu tìm hiểu ở
phần II. ( hướng giải quyết của cá nhân khác)
I. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
1. Xác định tội danh của A và B.
Như ta đã biết xét về mặt bản chất, nội dung chính trị, xã hội và nội dung pháp lí, tội
phạm là hiện tượng xã hội có tính giai cấp và tính lịch sử được đặc trưng bởi tính
nguy hiểm và tính trái pháp luật hình sự. Nhưng nếu xét về mặt cấu trúc, tội phạm
được hợp thành bởi 4 yếu tố có quan hệ mật thiết với nhau không tách rời, đó là:
khách thể, chủ thể, mặt khách quan, mặt chủ quan. Vì vậy 4 yếu tố này cũng là cơ sở
phòng bị thấp. Chính vì vậy, đây có thể xem là một không gian thuận lợi để A và B
thực hiện hành vi phạm tội của mình.
c. Hậu quả của hành vi trên là việc A và B chiếm đoạt được chiếc xe máy vốn
thuộc sở hữu của C hoặc D.
Nếu đặt hai hành vi của A và B riêng rẽ thì sẽ không thể phát sinh hậu quả. Tuy nhiên
hai hành vi này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau và khi chúng được thực hiện đồng
thời thì chính là nguyên nhân dẫn đến hậu quả trên.
d. Công cụ: A và B đã đến một cửa hàng đồ chơi trẻ em để mua một khẩu súng
nhựa. Tuy đây là một vật không có khả năng gây nguy hiểm đến sức khỏe, tính mạng
người khác. Nhưng với khẩu súng này A và B có thể đánh lừa người khác để họ tin
rằng đó là súng thật, và họ có thể dễ dàng thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của
mình hơn. Như vậy, đây cũng có thể xem làm công cụ để thực hiện tội phạm.
- Mặt chủ quan:
• Như phân tích ở trên lỗi của A và B là lỗi cố ý trực tiếp. Khi thực hiện hành
vi phạm tội, “bọn chúng” đều biết mình có hành vi đe dọa dùng vũ lực ngay
tức khắc làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể kháng cự
được. Hơn nữa, “bọn chúng” còn mong muốn hành vi đó đè bẹp hoặc làm
tê liệt sự chống cự của người bị tấn công, để có thể thực hiện được mục
đích chiếm đoạt tài sản.
• Mục tiêu chiếm đoạt là chiếc xe máy dựng cạnh C và D. Hai đối tượng rất
dễ dàng xác định chủ sở hữu của chiếc xe. Việc cần làm là vô hiệu hóa khả
năng chống cự của C và D để có thể lấy chiếc xe máy
• A và B đã có mục đích chiếm đoạt tài sản từ trước với sự chuẩn bị tính
toán bằng việc tìm mua súng. Súng là một loại vũ khí có thể gây nguy
hiểm cho sức khỏe, tính mạng của con người, thường được dùng để
trang bị cho các lực lượng vũ trang để đảm bảo an ninh quốc gia. Cá
8
nhân sử dụng súng phải được sự cho phép của người có thẩm quyền
cũng như phải có giấy tờ sử dụng. Mọi hành vi mua bán, sử dụng, tàng
trữ súng không qua cấp phép sử dụng đều là hành vi trái pháp luật và
- Đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc đối với người chủ tài sản hoặc người quản
lý tài sản nhằm chiếm đoạt tài sản.
9
- Có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể
chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản.
Như vậy có thể thấy ở đây A đã thực hiện hành vi đe dọa dùng vũ lực, vì vậy
đã đủ cơ sở để truy cứu A về tội quy định tại điều 133 ở giai đoạn tội phạm hoàn
thành. B là đồng phạm với A, tuy B chưa thực hiện hành vi phạm tội của mình nhưng
mục đích của B và A là giống nhau và phải cần hành vi của A xảy ra thì B mới thực
hiện được hành vi của mình. Như vậy B cũng phải chịu TNHS giống như A.
Hình phạt mà A và B phải nhận trong trường hợp này là bằng với hình phạt
được quy định tại khoản 2 điều 133. Tuy nhiên có thể xem xét với tình tiết “C và D
biết đây là súng giả” để coi đây là tình tiết giảm nhẹ TNHS.
3. Xác định tội danh của E.
Theo tình huống, E là người quen của A và B, E cũng là người mua lại chiếc xe
máy là đối tượng của hành vi phạm tội của A và B. Như vậy ở đây E đã tiêu thụ tài
sản người khác phạm tội mà có. Tuy nhiên để có thể truy cứu TNHS đối với E trong
trường hợp này thì cần phải có các điều kiện sau:
- E có biết về hành vi phạm tội và có biết chiếc xe máy đó có được là do hoạt
động phạm tội của A và B.
- E không hứa hẹn trước là sẽ tiêu thụ tài sản do hành vi cướp của A và B tạo
ra.
Trường hợp thứ nhất. E biết chiếc xe máy là Khi đó E sẽ bị truy cứu TNHS
về tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có được quy
định tại điều 250 BLHS. Hành vi khách quan là tiêu thụ tài sản do người khác phạm
tội. Hành vi này được hiểu là biết rõ đó là tài sản do người khác phạm tội mà có
nhưng vẫn nhận hoặc mua để dùng, nhận để bán lại hoặc giới thiệu người khác mua,
chuyển tài sản đó cho người khác theo yêu cầu của người phạm tội. Hành vi này gây
sự khó khăn trong việc điều tra, phát hiện, xử lý người phạm tội. Mức án mà E có thể
nhận là cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.
11
đồng thời hai quan hệ được luật hình sự bảo vệ đó là quan hệ nhân thân và quan hệ sở
hữu
* Mặt khách quan của tội phạm:
Theo quy định của điều luật có 3 dạng hành vi khách quan được coi là hành vi
phạm tội của tội cướp tài sản. đó là: + Hành vi dùng vũ lực. + Hành vi đe doạ dùng vũ
lực ngay tức khắc. + Hành vi làm cho người khác lâm vào tình trạng không thể chống
cự được.
* Chủ thể của tội cướp tài sản là chủ thể thường chỉ đòi hỏi có năng lực trách
nhiệm hình sự và đạt độ tuổi luật định.
* Mặt chủ quan của tội pham: + Lỗi của người phạm tội cướp tài sản là lỗi cố ý
trực tiếp. + Mục đích của tội cướp tài sản là chiếm đoạt tài sản
b. Đối chiếu và tình huống trên ta thấy mặc dù ý định ban đầu của A là thực
hiện hành vi trộm cắp nhưng từ lúc A dắt xe ra bị B phát hiện và giữ lại, A dùng chân
đạp mạnh và người B, làm B ngã và A đã lên xe và đạp ra ngoài đường để tẩu thoát
hành vi này đã đủ cấu thành tội cướp tài sản và lúc này tội trộm cắp tài sản đã chuyển
hoa thành tội cướp tài sản, đây chính là hành vi dùng vũ lực để chiếm đoạt tài sản. Kể
cả trong trường hợp A đã chiếm đoạt được chiếc xe đạp bằng thủ đoạn của tội trôm
cắp nhưng ngay sau đó đã bị phát hiện và A đã tấn công lại B bằng những thủ đoạn
của tội cướp nhằm giữ bằng được chiếc xe đạp đã chiếm đoạt trước đó thì vấn bị xử
tội cướp tài sản. Hành vi tấn công B ( dùng chân đạp mạnh vào người B làm B ngã và
lên xe và đạp ra ngoài đường để tẩu thoát không thể được coi là tình tiết hành hung để
tẩu thoát theo điểm d khoản 2 điều 138 BLHS được vì trường hợp hành hung để tẩu
thoát là người phạm tội đã có hành vi dùng sức mạnh chống trả lại việc bắt giữ để tẩu
thoát. Mục đích của việc chống trả là nhằm để tẩu thoát chứ không phải nhằm mục
đích giữ bằng được tài sản vừa mới chiếm đoạt được. Mà theo mô tả trên thì A tấn
công B không phải nhằm mục đích tẩu thoát mà nhằm mục đích giữ bằng được chiếc
xe đạp vì vậy đây là hành vi dùng vũ lực để chiếm đoạt tài sản nên tội trộm cắp đã
chuyển hoá thành tội cướp tài sản.
Trích: Thông tư liên tịch của Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân