VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
PHẠM THÙY DƯƠNG
CHỨNG CỨ TRONG ĐIỀU TRA VỤ ÁN VỀ
TỘI CƯỚP TÀI SẢN
TỪ THỰC TIỄN TỈNH HẢI DƯƠNG
Ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số : 8 38 01 04
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HÌNH SỰ VÀ TỐ TỤNG HÌNH SỰ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS. TS PHÙNG THẾ VẮC
HÀ NỘI, 2018
LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi. Các
số liệu và trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính xác và trung
thực. Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được công bố trong
bất kỳ công trình khoa học nào khác
Tác giả luận văn
PHẠM THÙY DƯƠNG
DANH MỤC NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT
MỞ ĐẦU…………………………………………………………
1
Chương 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHỨNG CỨ TRONG ĐIỀU TRA
7 VỤ ÁN VỀ TỘ
1.1. Khái niệm, các thuộc tính của chứng cứ và phân loại chứng cứ..
7
1.2. Đối tượng chứng minh trong vụ án cướp tài sản………………..
14
1.3. Thu thập, kiểm tra, đánh giá chứng cứ trong điều tra vụ án cướp
tài sản…………………………………………………………………..
21
Chương 2. THỰC TIỄN THU THẬP, KIỂM TRA VÀ ĐÁNH GIÁ
CHỨNG CỨ TRONG ĐIỀU TRA VỤ ÁN CƯỚP TÀI SẢN TẠI
TỈNH HẢI DƯƠNG…………………………………………………
29
2.1. Những yếu tố tác động tới hoạt động thu thập, kiểm tra, đánh giá
chứng cứ trong điều tra vụ án cướp tài sản tại tỉnh Hải Dương 29
………….
2.2. Hoạt động thu thập, kiểm tra, đánh giá chứng cứ trong điều tra vụ
cướp tài sản tại tỉnh Hải Dương từ năm 2013 đến 2017……………
34
2.3. Đánh giá, nhận xét thực trạng hoạt động thu thập, kiểm tra, đánh
giá chứng cứ trong điều tra vụ án cướp tài sản trên địa bàn tỉnh Hải
Dương………………………………………………………………….
50
Chương 3. GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG
THU THẬP, KIỂM TRA VÀ ĐÁNH GIÁ CHỨNG CỨ TRONG
ĐIỀU TRA VỤ ÁN CƯỚP TÀI SẢN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HẢI 56
DƯƠNG
Đấu tranh phòng, chống tội phạm cướp tài sản luôn là mối quan tâm lớn
của cả hệ thống chính trị và của toàn xã hội, đặc biệt là các cơ quan Tư pháp,
gồm Cơ quan điều tra, VKS và Tòa án. Để đấu tranh có hiệu quả với tội phạm
này thì việc điều tra, khám phá, làm rõ hành vi phạm tội, người thực hiện
hành vi phạm tội và xử lý nghiêm minh, đúng tội, đúng pháp luật đối với
người phạm tội cướp tài sản có ý nghĩa vô cung to lớn. Tuy nhiên, để chứng
minh một người phạm tội cướp tài sản và buộc họ phải chịu hình phạt theo
quy định tài Điều 168 BLHS năm 2015 sứa đổi, bổ sung năm 2017 thì việc
dựa vào hệ thống chứng cứ để chứng minh có ý nghĩa quyết định. Điều 13
BLTTHS năm 2015 quy định: “Người bị buộc tội được coi là không có tội
cho đến khi được chứng minh theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định
và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật. Khi không đủ và
không thể làm sáng tỏ căn cứ để buộc tội, kết tội theo trình tự, thủ tục do Bộ
1
luật này quy định thì cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải kết
luận người bị buộc tội không có tội”. Điều đó có nghĩa là một người chỉ bị coi
là có tội và phải chịu hình phạt tương ứng khi đã có bản án kết tội có hiệu lực
của Tòa án. Để có được như vậy thì toàn bộ hoạt động của Cơ quan điều tra,
VKS và Tòa án phải được tiến hành đồng bộ mà thực chất là hoạt động thu
thập, kiểm tra, đánh giá chứng cứ. Đây là nội dung cơ bản của việc áp dụng
pháp luật hình sự và tố tụng hình sự trong giải quyết vụ án hay nói cách khác
là một biện pháp đưa các quy phạm pháp luật vào cuộc sống.
Nằm ở trung tâm các tỉnh đồng bằng sông Hồng, Hải Dương có một vị trí
rất quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế – xã hội của đất nước. Là
một đô thị phát triển sớm ở đồng bằng Bắc bộ, Hải Dương là nơi có mật độ
dân cư cao. Trên địa bàn Tỉnh có nhiều trụ sở cơ quan Đảng, Nhà nước, các
trường học của địa phương và Trung ương. Hải Dương là một tỉnh khá năng
động và có nhiều tiềm năng nên có nhiều doanh nghiệp thuộc đủ mọi thành
thập chứng cứ, chưa đánh giá đúng giá trị của từng chứng cứ cũng như mối
liên hệ giữa các chứng cứ trong tổng thể các chứng cứ của vụ án cướp tài sản
xảy ra trên địa bàn. Những hạn chế này đã làm cho việc điều tra, khám phá
các vụ án cướp tài sản còn kéo dài, tỉ lệ điều tra phá án chưa cao. Như vậy
việc nghiên cứu làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận về thu thập, kiểm tra và
đánh giá chứng cứ trong điều tra các vụ án cướp tài sản trên địa bản tỉnh Hải
Dương cũng như đánh giá thực trạng hoạt động thu thập, kiểm tra, đánh giá
chứng cứ trong điều tra vụ án cướp tài sản trên địa bàn tỉnh Hải Dương, từ đó
đề xuất một số giải pháp để nâng cao chất lượng, hiệu quả của hoạt động này
trong tình hình hiện nay là một yêu cầu cấp thiết. Chính vì vậy tội chọn đề tài:
“Chứng cứ trong điều tra vụ án về tội cướp tài sản từ thực tiễn tỉnh Hải
Dương” làm luận văn tốt nghiệp Thạc sỹ Luật học.
3
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Đã có các công trình khoa học nghiên cứu về việc thu thập, kiểm tra,
đánh giá chứng cứ như sau: Luận án Tiến sĩ Luật học: “Đấu tranh phòng,
chống tội cướp tài sản trên địa bàn Hà Nội” của tác giả Đỗ Kim Tuyến
(2001); Luận án Tiến sĩ luật học: “Thu thập, đánh giá và sử dụng chứng cứ
trong điều tra vụ án hình sự ở Việt Nam hiện nay” của tác giả Đỗ Văn Đương
2000 Luận văn Thạc sĩ Luật học “chứng cứ trong các vụ án vi phạm quy
định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ từ thực tiễn tỉnh Cà
Mau" của tác giả Huỳnh Minh Tính (2016) Luận văn Thạc sĩ Luật học “Hoạt
động thu thập, đánh giá, sử dụng chứng cứ trong điều tra tội cố ý gây thương
tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác th o pháp luật tố tụng hình
sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Bình hước” của tác giả Nguyễn Văn Chạm
(2017). Ngoài ra các nhà khoa học và một số tác giả cũng đã quan tâm đến
một số nội dung của quá trình chứng minh trong vụ án hình sự và đã đề cập
Đánh giá thực tiễn thu thập, kiểm tra, đánh giá chứng cứ trong điều tra
vụ án về tội cướp tài sản trên địa bàn tỉnh Hải Dương
Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động thu thập, kiểm
tra, đánh giá chứng cứ trong điều tra vụ án về tội cướp tài sản trên địa bản
tỉnh Hải Dương.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu thực trạng hoạt động thu thập, kiểm
tra, đánh giá chứng cứ trong điều tra vụ án về tội cướp tài sản của Cơ quan
Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Hải Dương trên cơ sở BLTTHS năm 2003,
năm 2015 và những văn bản pháp luật có liên quan.
- hạm vi nghiên cứu: Về không gian là địa bàn tỉnh Hải Dương, về thời
gian từ năm 2013 đến 2017.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác
- Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng về chính sách hình
sự quan điểm, đường lối xử lý các tội xâm phạm sở hữu nói chung và tội
Cướp tài sản nói riêng.
5
hương pháp nghiên cứu: Luận văn sử dụng các phương pháp cụ thể
như: hương pháp thống kê, so sánh, phân tích và tổng hợp, nghiên cứu thực
tiễn, ví dụ điển hình thông qua những hồ sơ vụ án, bản kết luận điều tra, bản
án, quyết định, báo cáo tổng kết của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh
Hải Dương.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Kết quả nghiên cứu của Luận văn có ý nghĩa về khoa học cũng như thực
tiễn.
- Về khoa học: Luận văn góp tiếng nói khiêm tốn vào lý luận về thu thập,
kiểm tra, đánh giá chứng cứ trong điều tra vụ án về tội cướp tài.
Trên cơ sở lý luận về nhận thức của chủ nghĩa duy vật biện chứng, thì bất
kỳ tội phạm nào xảy ra chúng ta đều có thể phát hiện và chứng minh được. Vì
vậy, không thể có tội phạm không bị phát hiện, chỉ có điều chúng ta có chứng
minh làm rõ vụ án hay không. Về nguyên tắc, hoạt động của con người bao
giờ cũng để lại dấu vết trong thế giới khách quan, trong đó có hành động
phạm tội. Những dấu vết của hành vi phạm tội có thể được thể hiện dưới dạng
vật chất như: dấu vết phạm tội, tồn tại trên công cụ, phương tiện phạm tội,
dấu vân tay của người phạm tội để lại trên hiện trường, vết dao đâm của
người phạm tội để lại trên nạn nhân… Hoặc được phản ánh, ghi nhận trong trí
nhớ của con người có thể là nạn nhân hay người khác… Thu thập những dấu
vết này một cách có hệ thống qua quá trình tiến hành tố tụng sẽ đưa đến sự
nhận thức đúng đắn bản chất của vụ án, dựng lại được toàn bộ diễn biến của
sự việc phạm tội.
Như vậy, chứng cứ là phương tiện duy nhất để chứng minh tội phạm, làm
rõ những tình tiết của vụ án. Chứng cứ được quy định trong Luật tố tụng hình
7
sự, tùy vào bản chất giai cấp của mỗi nhà nước và trên cơ sở phương pháp
luận nhận thức khác nhau mà có những quy định khác nhau về chứng cứ.
Trên nền tảng của học thuyết duy vật biện chứng và thực tiễn cuộc đấu
tranh chống tội phạm ở Việt Nam, Điều 86 BLTTHS năm 2015 đã quy định
về chứng cứ như sau:
“Chứng cứ là những gì có thật, được thu thập theo trình tự, thủ tục do
Bộ Luật này quy định, được dùng làm căn cứ để xác định có hay không có
hành vi phạm tội, người thực hiện hành vi phạm tội và những tình tiết khác có
ý nghĩa trong việc giải quyết vụ án” [12. Tr.88, 89].
Khái niệm chứng cứ trong Luật TTHS Việt Nam phản ánh nội dung và
hình thức của chứng cứ. Về nội dung, chứng cứ là những gì có thật được dùng
chứng cứ.
Thuộc tính liên quan của chứng cứ không phải bao giờ cũng dễ nhận
thấy, cũng dễ xác định mà nhiều lúc rất khó xác định trong một khoảng thời
gian nhất định. Do đó trong công tác điều tra, truy tố, xét xử phải luôn luôn
chủ ý thu thập các sự kiện có thật một cách tỷ mỉ, rộng rãi để không bỏ sót
mọi sự kiện có liên quan đến vụ án nhưng cũng tránh tình trạng thu thập một
cách tràn lan, tùy tiện, thu thập chứng cứ ở một phạm vi quá rộng so với vụ án
hoặc quá hẹp so với yêu cầu chứng minh của một vụ án cụ thể.
- Tính hợp pháp của chứng cứ
Tính hợp pháp của chứng cứ được hiểu là những gì có thật, liên quan đến
những vấn đề cần chứng minh trong vụ án phải được ghi lại, phản ánh lại từ
những nguồn của chứng cứ và được thu thập bằng những biện pháp do
BLTTHS quy định.
Nguồn chứng cứ là hình thức pháp lý mà trong đó chứa đựng những gì
có thật, có liên quan đến vụ án hình sự được dùng làm căn cứ để chứng minh
9
tội phạm. Luật tố tụng hình sự đã quy định những loại nguồn chứng cứ sau
đây:
+ Vật chứng;
+ Lời khai, lời trình bày;
+ Dữ liệu điện tử;
+ Kết luận giám định, định giá tài sản;
+ Biên bản trong hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án;
+ Kết quả thực hiện ủy thác tư pháp và hợp tác quốc tế khác;
+ Các tài liệu, đồ vật khác.
Khoản 1, 2, 3 Điều 88 BLTTHS quy định:
“1. Để thu thập chứng cứ, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng có
thập chứng cứ thì những người tham gia tố tụng khác, cơ quan, tổ chức hoặc bất
cứ cá nhân nào cũng đều có thể đưa ra tài liệu, đồ vật và trình bày những vấn đề
có liên quan đến vụ án. BLTTHS năm 2015 còn bổ sung quyền tự thu thập
chứng cứ của người bào chữa, cho phép người bào chữa có cơ sở pháp lý để tự
mình thu thập chứng cứ hoặc đề nghị các cơ quan khác thu thập chứng cứ.
Chứng cứ phải được phát hiện, thu thập bởi những người có thẩm quyền
do Luật tố tụng hình sự quy định. Để bảo đảm việc áp dụng các biện pháp thu
thập chứng cứ được tốt, tránh sai sót, BLTTHS đã quy định trình tự, thủ tục
phải tiến hành để đảm bảo tính khách quan và giá trị chứng minh của chứng
cứ, cũng như cấm những việc làm sai trái có thể ảnh hưởng đến giá trị chứng
minh của chứng cứ đồng thời nhằm hạn chế tối đa sự lạm quyền của người
tiến hành tố tụng.
Mặt khác, để giúp cho việc kết luận bản chất vụ án được đúng đắn, khách
quan BLTTHS còn quy định chứng cứ phải được kiểm tra, đánh giá th o đúng
quy định của pháp luật nhằm kết luận về tính xác thực và giá trị chứng minh
của chứng cứ. Điều 108 BLTTHS quy định về kiểm tra, đánh giá chứng cứ:
11
“1. Mỗi chứng cứ phải được kiểm tra, đánh giá để xác định tính hợp
pháp, xác thực và liên quan đến vụ án. Việc xác định những chứng cứ thu
thập được phải bảo đảm đủ để giải quyết vụ án hình sự.
2. Người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong phạm vi nhiệm vụ, quyền
hạn của mình phải kiểm tra, đánh giá đầy đủ, khách quan, toàn diện mọi
chứng cứ đã thu thập được về vụ án.” [12. Tr. 100].
Đã là chứng cứ thì bao giờ cũng tồn tại trong nó các thuộc tính: tính
khách quan, tính liên quan và tính hợp pháp. Những thuộc tính này không
tách rời nhau mà chúng có mối liên hệ ràng buộc, phụ thuộc lẫn nhau, tác
động qua lại lẫn nhau tạo thành một chỉnh thể thống nhất, thiếu một trong
nhìn thất sự việc phạm tội trước CQĐT được ghi vào biên bản. Cán bộ điều
tra đã phô tô biên bản đó để lưu vào hồ sơ thì biên bản được phô tô đó là
chứng cứ gốc chứ không phải là chứng cứ sao lại.
- Chứng cứ trực tiếp và chứng cứ gián tiếp
Căn cứ vào mối quan hệ giữa chứng cứ với những vấn đề cần phải chứng
minh trong vụ án hình sự mà chia thành chứng cứ trực tiếp và chứng cứ gián tiếp.
Chứng cứ trực tiếp là những chứng cứ trực tiếp xác định được những tình
tiết thuộc đối tượng chứng minh trong vụ án hình sự. Ví dụ: Một nhân chứng
có mặt tại nơi xảy ra vụ cướp tài sản của công dân, đã trình bày trước CQĐT
diễn biến của vụ cướp mà mình đã chứng kiến. Lời khai này của người làm
chứng là chứng cứ trực tiếp vì nó đã chứng minh có sự việc phạm tội đã xảy ra.
Chứng cứ gián tiếp là những chứng cứ không trực tiếp xác định được
những tình tiết thuộc đối tượng chứng minh trong vụ án hình sự, nhưng khi
kết hợp với các sự kiện khác sẽ xác định được tình tiết nào đó thuộc đối tượng
chứng minh. Ví dụ: Khi khám nghiệm hiện trường vụ án giết người cướp tài
sản, CQĐT thu được một con dao dính máu. Một nhân chứng khai trước
13
CQĐT xác nhận con dao này là của X vì đã có lần mượn X con dao đó. Lời
khai của người làm chứng trong trường hợp này là chứng cứ gián tiếp.
- Chứng cứ buộc tội và chứng cứ gỡ tội
Căn cứ vào kết quả chứng minh của chứng cứ mà chia thành chứng cứ
buộc tội và chứng cứ gỡ tội.
Chứng cứ buộc tội là những chứng cứ xác định có tội phạm xảy ra, một
người nào đó đã thực hiện tội phạm hoặc xác định những tình tiết tăng nặng
trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo.
Chứng cứ gỡ tội là những chứng cứ xác định không có sự việc phạm tội
xảy ra, một người nào đó không thực hiện tội phạm, hành vi không cấu thành
cả các vụ án hình sự nói chung và như vậy nó cũng chính là đối tượng chứng
minh của vụ án cướp tài sản mà cơ quan tiến hành tố tụng phải chứng minh làm
rõ.
Ngoài những tính tiết đó, tùy th o tính chất của từng vụ án cơ quan tiến
hành tố tụng phải chứng minh, làm rõ cả những tình tiết khác có ý nghĩa đối
với việc giải quyết đúng đắn vụ án hình sự. Chẳng hạn đối với vụ án mà bị
can, bị cáo là người chưa thành niên, cơ quan tiến hành tố tụng còn phải
chứng minh một số vấn đề sau:
+ Tuổi, trình độ phát triển về thể chất và tâm thần, mức độ nhận thức về
hành vi phạm tội của người chưa thành niên
+ Điều kiện sinh sống và giáo dục;
+ Có hay không có người thành niên xúi giục.
- Phân loại đối tượng chứng minh trong vụ án cướp tài sản
Trong vụ án cướp tài sản có nhiều nội dung phải chứng minh khác nhau.
Khoa học pháp lý tố tụng hình sự phân loại đối tượng chứng minh thành ba
nhóm như sau:
15
Nhóm thứ nhất: Đối tượng chứng minh thuộc về bản chất của vụ án cướp
tài sản – Các yếu tố cấu thành tội Cướp tài sản. Muốn chứng minh được
những vấn đề thuộc về bản chất của vụ án cướp tài sản, chúng ta phải thu thập
chứng cứ chứng minh được những dấu hiệu pháp lý của cấu thành tội phạm
Tội cướp tài sản được quy định tại Điều 168 BLHS năm 2015 sửa đổi, bổ
sung 2017), bao gồm: khách thể của tội phạm; mặt khách quan của tội phạm;
mặt chủ quan của tội phạm và chủ thể của tội phạm.
Nhóm thứ hai: Đối tượng chứng minh có ảnh hưởng đến trách nhiệm
hình sự và hình phạt, bao gồm: Chứng minh những tình tiết dẫn đến miễn
trách nhiệm hình sự, quy định tại Điều 29 BLHS 2015 (sửa đổi bổ sung năm
sản thì cơ quan tiến hành tố tụng phải thu thập chứng cứ để chứng minh: Có
hành vi phạm tội cướp xảy ra hay không, thời gian, địa điểm và những tình
tiết khác của hành vi phạm tội Ai là người thực hiện hành vi phạm tội cướp;
có lỗi hay không có lỗi, do cố ý hay vô ý có năng lực trách nhiệm hình sự
hay không; mục đích, động cơ phạm tội. Đó là các dấu hiệu pháp lý trong cấu
thành tội phạm Tội cướp tài sản được quy định trong BLHS.
Khoản 1 Điều 168 BLHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy
định:
“Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành
vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được
nhằm chiếm đoạt tài sản, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm”. [11. Tr. 125].
Th o quy định của BLHS, Tội cướp tài sản có những dấu hiệu pháp lý
sau:
- Khách thể của tội phạm
Hành vi cướp tài sản xâm phạm đồng thời hai quan hệ xã hội được luật
hình sự bảo vệ. Đó là quan hệ nhân thân và quan hệ sở hữu. Bằng hành vi
phạm tội của mình, người phạm tội cướp tài sản xâm phạm trước hết đến thân
thể, đến tự do của con người để qua đó có thể xâm phạm được quan hệ sở
17
hữu, nếu không xâm phạm đến quan hệ nhân thân thì người phạm tội cướp tài
sản không thể xâm phạm đến quan hệ tài sản được. Nếu chỉ xâm hại một
trong hai quan hệ xã hội này thì chưa phản ánh đầy đủ bản chất nguy hiểm
cho xã hội của hành vi cướp tài sản. Do vậy, cả hai quan hệ xã hội bị xâm hại
đều được coi là khách thể trực tiếp của tội cướp tài sản.
- Mặt khách quan của tội phạm
Th o quy định của điều luật, mặt khách quan của tội phạm gồm ba dạng
hành vi khách quan. Đó là: Hành vi dùng vũ lực Hành vi đ dọa dùng vũ lực
ngay tức khắc Hành vi làm cho người bị tấn công lầm vào tình trạng không
sự mãnh liệt của hành vi đ dọa. Hành vi đ dọa dùng vũ lực ở tội cướp tài
sản có tính chất mãnh liệt là làm cho người bị đ dọa thấy rằng vũ lực sẽ xảy
ra ngay, họ không hoặc khó có điều kiện tránh khỏi. Sự đ dọa đã làm ý chí
của người bị đ dọa tê liệt. Để đánh giá hành vi đ dọa dùng vũ lực có tính
chất như vậy hay không và qua đó khẳng định có phải là cướp tài sản hay
không, cần dựa vào những tình tiết sau: Nội dung và hình thức của hành vi đ
dọa (dọa làm gì? Thái độ đ dọa ra sao? Tương quan lực lượng giữa bên đ
dọa và bên bị đ dọa; Hoàn cảnh không gian và thời gian; Tình hình trật tự xã hội
nơi và lúc xảy ra hành vi phạm tội …
Dấu hiệu ngay tức khắc chỉ đòi hỏi người phạm tội đã có hành vi, cử chỉ,
thái độ thể hiện ra bên ngoài là sẽ dùng vũ lực ngay tức khắc mà không đòi
hỏi họ phải thực sự có ý định sẽ dùng vũ lực ngay tức khắc cũng như phải có
đủ điều kiện để dùng vũ lực ngay tức khắc. Như vậy, những trường hợp chỉ
làm ra vẻ sẽ dùng vũ lực ngay tức khắc nhưng không có ý định hoặc không có
điều kiện dùng vũ lực ngay tức khắc cũng bị coi là cướp tài sản. Ví dụ: Dùng
súng giả dọa sẽ bắn chết ngay.
Hành vi làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống
cự được.
19
Hành vi ở dạng thứ ba này tuy không phải là vũ lực cũng như không phải
là lời đ dọa nhưng có khả năng như những hành vi đó – khả năng làm cho
người bị tấn công không thể ngăn cản được việc chiếm đoạt. Do vậy, những
hành vi này được coi là cùng tính chất như hành vi dùng vũ lực và hành vi đ
dọa dùng vũ lực ngay tức khắc. Chúng đều có khả năng đè bẹp hoặc làm tê
liệt sự kháng cự. Hành vi đầu độc, hành vi dùng thuốc gây mê là những ví dụ
về dạng hành vi thứ ba này của tội cướp tài sản.
+ Hậu quả của tội phạm
- Chủ thể của tội phạm
Chủ thể của tội cướp tài sản là chủ thể bình thường nên chỉ đòi hỏi có
năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi luật định.
Người phạm tội cướp tài sản phải là người từ đủ 14 tuổi trở lên và khi
thực hiện hành vi phạm tội không mắc bệnh tâm thần hoặc một bệnh khác làm
mất khả năng nhận thức hoặc khả năng nhận thức hoặc điều khiển hành vi của
mình. Tội cướp tài sản quy định tại Điều 168 BLHS là tội phạm rất nghiêm
trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do cố ý nên th o quy định tại Điều
12 BLHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017) thì người từ đủ 14 tuổi đến
dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội cướp tài sản.
1.3. Thu thập, kiểm tra, đánh giá chứng cứ trong điều tra vụ án cướp tài
sản
1.3.1. Khái niệm điều tra vụ án cướp tài sản
Điều tra vụ án hình sự nói chung và vụ án cướp tài sản nói riêng là quá
trình áp dụng pháp luật nhằm làm rõ sự thật khách quan toàn diện về vụ án
cướp tài sản. Trong giai đoạn điều tra, CQĐT tiến hành các hoạt động theo
quy định của BLTTHS để thu thập chứng cứ, bao gồm chứng cứ xác định có
tội, chứng cứ xác định vô tội, chứng cứ xác định tình tiết tăng nặng, chứng cứ
21