VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN MẠNH HÀ
THI HÀNH ÁN DÂN SỰ ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP
TỪ THỰC TIỄN TỈNH HẢI DƯƠNG
Chuyên ngành: Luật hiến pháp và luật hành chính
Mã số: 60. 38. 01. 02
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS. BÙI THỊ ĐÀO
HÀ NỘI, 2017
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn thạc sĩ Luật học với đề tài “Thi hành án
dân sự đối với doanh nghiệp từ thực tiễn tỉnh Hải Dương” là công trình
nghiên cứu khoa học độc lập của tôi.
Các thông tin, tài liệu, số liệu mà tôi thể hiện trong luận văn bảo đảm
tính chính xác, trung thực. Những kết quả nêu trong luận văn chưa từng được
ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Nguyễn Mạnh Hà
2.2. Đánh giá chung về thực trạng thi hành án dân sự đối với Doanh nghiệp
trên địa bàn tỉnh Hải Dương ................................................................................. 48
Chương 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ THI HÀNH ÁN DÂN
SỰ ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP........................................................................ 61
3.1. Giải pháp nâng cao hiệu quả thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp từ
thực tiễn tỉnh Hải Dương................................................................................ ..... .61
3.1.1. Nâng cao năng lực, hiệu quả hoạt động của các cán bộ công chức ngành
thi hành án............................................................................................................. 61
3.1.2. Bảo đảm công tác chỉ đạo điều hành thi hành án dân sự...................... ..... .64
3.1.3. Hoàn thiện cơ chế phối hợp giải quyết thi hành án dân sự của các cơ
quan hữu quan ....................................................................................................... 67
3.2. Giải pháp nâng cao hiệu quả thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp... ..... 69
3.2.1. Hoàn thiện quy định pháp luật thi hành án dân sự đối với doanh
nghiệp.............................................................................................................. ..... 69
3.2.2. Xã hội hóa một phần công tác Thi hành án dân sự............................... ...... 72
KẾT LUẬN .......................................................................................................... 75
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................................... 78
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Biểu đồ 2.1. Kết quả về việc thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp ở tỉnh Hải
Dương từ năm 2013-2016............................................................................................47
Biểu đồ 2.2. Kết quả thi hành án về tiền đối với doanh nghiệp ở tỉnh Hải Dương
từ năm 2013-2016 ........................................................................................... 47
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Thi hành án dân sự là hoạt động làm cho các bản án, quyết định đã có
quyết định của Tòa án, bảo đảm lợi ích của nhà nước, quyền lợi ích hợp pháp
của các tổ chức và công dân; thể hiện tính nghiêm minh của các bản án, quyết
định của Tòa án nhân dân, tạo lòng tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà
nước, góp phần đảm bảo an ninh trật tự xã hội, giữ gìn kỷ cương, phép nước,
thực hiện dân chủ, công bằng xã hội, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa.
Hải Dương là một tỉnh có số lượng án thụ lý hàng năm tương đối lớn.
Trong những năm qua, công tác thi hành án dân sự ở Hải Dương đã đạt những
kết quả đáng ghi nhận; luôn hoàn thành tốt chỉ tiêu Quốc hội và Chính phủ
giao cho, nhiều vụ việc khó khăn, phức tạp, tồn đọng lâu năm đã được tổ chức
thi hành dứt điểm. Kết quả đạt được nói trên phản ánh sự cố gắng, nỗ lực của
toàn ngành Tư pháp nói chung, cũng như đội ngũ cán bộ thi hành án dân sự
nói riêng; sự quan tâm, chỉ đạo sát sao của cấp ủy đảng, chính quyền địa
phương; sự phối hợp đồng bộ, chặt chẽ của các ngành hữu quan trong việc thi
hành án dân sự.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được, cũng như nhiều tỉnh
trên cả nước, thực trạng thi hành án dân sự ở Hải Dương vẫn còn bộc lộ nhiều
vấn đề tồn tại, yếu kém, chưa đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ đặt ra trong
tình hình mới hiện nay. Lượng án tồn đọng qua các năm còn rất lớn đặc biệt
là án đối với người phải thi hành án là doanh nghiệp. Tình trạng trên có nhiều
nguyên nhân khác nhau như: Pháp luật thi hành án dân sự hiện hành còn thiếu
tính khả thi, và chưa kịp thời điều chỉnh những quan hệ liên quan đến doanh
nghiệp nhiều điểm còn chưa rõ ràng, bất cập; một số cán bộ thi hành án nhất
là đội ngũ Chấp hành viên còn thiếu trách nhiệm trong công việc, có thái độ
hách dịch, vòi vĩnh khiến cho quần chúng nhân dân bức xúc và còn lúng túng
trong việc áp dụng pháp luật liên quan đến doanh nghiệp; ở một số nơi, cấp
ủy, chính quyền các cấp chưa nhận thức đầy đủ trách nhiệm của mình trong
2
việc thực hiện tổ chức, chỉ đạo thi hành án dân sự theo quy định của pháp
tác giả Lê Xuân Hồng có công trình: “Xã hội hóa một số nội dung thi hành án
dân sự”, (Luận văn thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, 2002); tác
giả Bùi Xuân Khánh có công trình: “Một số ý kiến về thủ tục thi hành án dân
sự- kinh tế của Việt Nam từ cách tiếp cận của Luật so sánh, tài liệu hội thảo:
Đổi mới tư pháp dân sự trong điều kiện nền kinh tế chuyển đổi”, Viện nghiên
cứu Nhà nước và pháp luật; tác giả Lê Anh Tuấn có công trình: “Đổi mới thủ
tục thi hành án dân sự Việt Nam”, (Luận văn thạc sĩ Luật học, Trường Đại
học Luật Hà Nội); tác giả Nguyễn Đức Nghĩa có công trình: “Cơ sở lý luận và
thực tiễn khắc phục án tồn đọng trong thi hành án dân sự ở Việt Nam hiện
nay”, (Luận văn thạc sĩ Luật học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh,
2005); Đề tài nghiên cứu cấp Bộ, những cơ sở lý luận và thực tiễn về chế định
thừa phát lại, mã số 95-98/114/DT, tác giả Hoàng Thế Anh có công trình
“Giám sát thi hành án dân sự ở Việt Nam hiện nay” (Luận văn Thạc sĩ Luật
học, Học viện chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, 2005); Luận án tiến sĩ năm
2012 của tác giả Đặng Đình Quyền về “Hiệu quả áp dụng pháp luật trong thi
hành án dân sự ở Việt Nam”, Luận án tiến sĩ năm 2008 của tác giả Nguyễn
Thanh Thủy về “ Hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự ở Việt Nam hiện
nay” tác giả Phạm Nguyễn Đức Tài có công trình “ Xử lý tài sản có đăng ký
giao dịch bảo đảm để thu nợ cho các tổ chức tín dụng theo pháp luật thi hành
án dân sự từ thực tiễn tại thành phố Hồ Chí Minh” (Luận văn Thạc sĩ Luật
học, Viện hàn lâm khoa học xã hội, 2014); tác giả Bùi Ngọc Hiếu có công
trình “Thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp ở nước ta hiện nay (Luận văn
Thạc sĩ Luật học, Viện hàn lâm khoa học xã hội, 2015)”.
Những công trình nghiên cứu nói trên đã nghiên cứu những vấn đề
chung của pháp luật; thực hiện pháp luật trên một số lĩnh vực của đời sống xã
hội và những công trình nghiên cứu về vấn đề mang tính tổng thể hoặc những
khía cạnh, phạm vi cụ thể khác nhau của thi hành án dân sự. Nhưng đến nay,
chưa có công trình nghiên cứu nào dưới góc độ lý luận và thực trạng thi hành
4
trung nghiên cứu vào những vấn đề cơ bản nhất thuộc nội dung đề tài như khái
niệm, đặc điểm, nội dung, thực trạng và giải pháp. Phạm vi nghiên cứu được giới
hạn dưới góc độ lý luận chung về nhà nước và pháp luật, thông qua thực tiễn và số
liệu của cơ quan thi hành án dân sự tỉnh và các cơ quan liên quan đến thi hành án
dân sự ở Hải Dương từ năm 2013 đến năm 2016.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận của luận văn
Luận văn được nghiên cứu dựa trên lý luận của chủ nghĩa Mác- Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật; bám sát đường lối, chủ
trương của Đảng về pháp luật, về công tác thi hành án dân sự và chiến lược
cải cách tư pháp đến năm 2020.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu của luận văn là phương pháp duy vật biện
chứng của triết học Mác- Lênin theo quan điểm phát triển, toàn diện, lịch sử,
cụ thể. Ngoài ra luận văn còn kết hợp các phương pháp như: logic, phân tích,
tổng hợp, thống kê, khảo sát thực tiễn.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Thông qua việc làm rõ thực trạng thi hành án dân sự đối với doanh
nghiệp tại tỉnh Hải Dương- kết quả đã đạt được và những hạn chế, bất cập,
luận văn góp phần làm sáng tỏ một số vấn đề vể pháp luật thi hành án dân sự,
từ đó nâng cao nhận thức của xã hội đối với việc thực hiện pháp luật thi hành
án dân sự đối với doanh nghiệp ở tỉnh Hải Dương.
Khẳng định, củng cố nhận thức về vị trí, vai trò ý nghĩa của thực hiện
pháp luật về THADS đối với doanh nghiệp là người phải thi hành án trong
việc phát huy tính tích cực, chủ động trong thi hành án dân sự của các cơ quan
bảo vệ pháp luật, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của các tổ chức và
công dân đối với công tác thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp.
1.1.1. Khái niệm, đặc điểm thi hành án dân sự
Khái niệm thi hành án dân sự: Dưới góc độ lý luận, thi hành án dân sự
hiện nay còn có hai quan điểm khác nhau về nghĩa hẹp và nghĩa rộng của khái
niệm "dân sự".
Quan điểm thứ nhất cho rằng, khái niệm "dân sự" trong thi hành án dân
sự được hiểu là những bản án, quyết định liên quan đến quan hệ tài sản và
nhân thân phi tài sản như bản án, quyết định về giải quyết tranh chấp đối với
các loại hợp đồng dân sự, hôn nhân và gia đình và một số loại án khác có tính
chất dân sự.
Quan điểm thứ hai cho rằng, khái niệm "dân sự" ở đây phải được hiểu
theo nghĩa rộng, đó không chỉ bao gồm các bản án, quyết định về giải quyết
tranh chấp đối với các loại hợp đồng dân sự, hôn nhân và gia đình và một số
loại án khác có tính chất dân sự của Tòa án, mà còn bao gồm các bản án,
quyết định khác do pháp luật quy định.
Chúng tôi đồng tình với quan điểm này, bởi lẽ, theo quy định của pháp
luật hiện hành, nhiều vụ việc có tính chất khác nhau, được giải quyết theo các
trình tự khác nhau nhưng đến giai đoạn thi hành án đều được áp dụng theo
trình tự, thủ tục thi hành án dân sự như đã nêu.
Vì vậy, phạm vi của thi hành án dân sự phải được hiểu theo nghĩa rộng
bao gồm: bản án, quyết định về dân sự, kinh tế, lao động, hôn nhân và gia
đình; quyết định hình sự về bồi thường thiệt hại; quyết định về tài sản và
quyền tài sản trong bản án, quyết định hành chính; bản án, quyết định dân sự
8
của Tòa án nước ngoài, quyết định của Trọng tài nước ngoài được Tòa án
Việt Nam công nhận và cho thi hành ở Việt Nam. Điều này cũng hoàn toàn
phù hợp với pháp luật của nhiều quốc gia trên thế giới: Việc tổ chức thi hành
các bản án có nguồn gốc pháp luật về nội dung là luật tư (luật dân sự, kinh
doanh, thương mại, lao động), được thực hiện theo một thủ tục chung mà
nhau. Nếu một bản án, quyết định được Tòa án tuyên một cách công bằng,
thấu tình, đạt lý, thì việc thi hành án sẽ dễ dàng, nhanh chóng và ngược lại.
Xuất phát từ sự phân tích trên, trên cơ sở các quy định của pháp luật
hiện hành và thực tiễn công tác thi hành án dân sự có thể đưa ra khái niệm
mang tính bao quát: Thi hành án dân sự là hoạt động hành chính - tư pháp, là
giai đoạn cuối cùng của quá trình tố tụng do các cơ quan thuộc hệ thống hành
pháp quản lý và thực hiện nhằm thi hành trên thực tế các bản án, quyết định
về dân sự của Toà án có hiệu lực pháp luật. Từ khái niệm trên, có thế thấy thi
hành án dân sự có những đặc điểm sau:
Một là, thi hành án dân sự là hoạt động mang tính tài sản. Bản chất của
các quan hệ dân sự là quan hệ mang tính tài sản chính vì thế mà quá trình thi
hành án dân sự cũng mang tính tài sản.
Hai là, thi hành án dân sự là hoạt động mang tính định đoạt: Xuất phát
từ quyền tự định đoạt của các chủ thể trong luật dân sự. Chủ thể có quyền
được yêu cầu chủ thể khác thực hiện những hành vi nhất định hoặc không
thực hiện những hành vi nhất định để đáp ứng lợi ích.
Ba là, thi hành án dân sự còn là hoạt động mang tính thỏa thuận: Pháp
luật công nhận sự thỏa thuận tự nguyện của người thi hành án và người phải
thi hành án về việc chấp hành quyết định của Tòa án, nếu sự thỏa thuận đó
không trái pháp luật và đạo đức xã hội.
Bốn là, thi hành án dân sự là hoạt động thực hiện quyền lực nhà nước
nhằm bảo đảm hiệu lực thực tế của các bản án, quyết định của Tòa án, được
sử dụng các biện pháp cưỡng chế theo quy định của pháp luật.
Năm là, hoạt động thi hành án dân sự phải tuân thủ những trình tự, thủ
10
tục chặt chẽ do pháp luật quy định.
Sáu là, trong quá trình thi hành án dân sự Chấp hành viên, cán bộ thi
hành án độc lập và chỉ tuân theo pháp luật.
phải thực hiện các nghĩa vụ đó theo quy định của pháp luật. Song nhìn chung,
THADS đối với doanh nghiệp là người phải thi hành án có những đặc điểm
sau đây:
Thứ nhất, thi hành án dân sự là hoạt động mang tính tài sản. Chính vì
thế mà quá trình thi hành án dân sự đối với các doanh nghiệp là người phải thi
hành án cũng mang tính tài sản. Nhưng tài sản của các doanh nghiệp lại mang
tính chất phức tạp và chịu sự điều chỉnh của nhiều luật khác nhau, ví dụ như:
một số doanh nghiệp thuộc loại công ty mẹ, công ty con. Khi phát sinh tranh
chấp pháp lý, công ty con là người phải thi hành án theo bản án, quyết định
nhưng đến khi cơ quan thi hành án xác minh để tiến hành kê biên, cưỡng chế
thi hành án thì toàn bộ tài sản thuộc sở hữu của công ty mẹ, công ty con chỉ
thuê lại để tiến hành sản xuất... Cũng có những doanh nghiệp phải thi hành án
nhưng lại thuộc diện bảo lãnh, hoặc doanh nghiệp bị kê biên tài sản nhưng
việc định giá rất khó khăn vì toàn bộ máy móc đều thuộc diện máy móc
chuyên dụng, phải thuê chuyên gia trong lĩnh vực đó. Do vậy, bên cạnh việc
đảm bảo quyền và lợi ích của người được thi hành án theo phán quyết của Tòa
án thì cũng phải đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của người phải thi hành
án đối với tài sản bị kê biên, xử lý nên trình tự thủ tục kê biên, xử lý tài sản
được quy định hết sức chặt chẽ qua nhiều giai đoạn từ tiến hành kê biên, định
giá tài sản, bán đấu giá tài sản và giao tài sản cho người mua trúng đấu giá...
Mặc dù, các quy định pháp luật về kê biên, xử lý tài sản được Luật thi hành án
dân sự năm 2008 được sửa đổi, bổ sung năm 2014 quy định khá cụ thể, chặt
chẽ nhưng trong quá trình áp dụng đã nảy sinh ra một số bất cập làm ảnh
hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự và gây khó khăn lúng
túng cho cơ quan thi hành án khi áp dụng trên thực tế đòi hỏi Chấp hành viên,
cán bộ thi hành án phải am hiểu, tinh thông pháp luật thuộc các lĩnh vực như
12
Luật doanh nghiệp, luật phá sản, thống kê, kế toán….
nhà nước, quyền lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân. Vì vậy, thực hiện
nghiêm chỉnh pháp luật thi hành án dân sự không những bảo đảm tính nghiêm
minh của pháp luật, mà còn bảo đảm bảo đảm lợi ích của nhà nước, quyền lợi
ích hợp pháp của tổ chức, công dân.
Hai là, bảo đảm, giữ gìn bản chất Nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa Việt Nam của dân, do dân và vì dân
Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, pháp luật nói chung và pháp
luật về thi hành án dân sự nói riêng là quá trình hoạt động có mục đích làm
cho các qui phạm pháp luật thi hành án dân sự được thực thi trên thực tế do
đó các bản án và quyết định có hiệu lực pháp luật về dân sự phải được thực
thi. Vấn đề tổ chức thi hành án dân sự cũng phải được thực hiện theo thủ tục,
trình tự pháp luật quy định. Các cơ quan nhà nước nói chung, cơ quan thi
hành án nói riêng, các tổ chức và công dân phải có trách nhiệm trong việc
thực hiện tốt các các quy phạm pháp luật thi hành án dân sự góp phần bảo
đảm sự nghiêm minh của pháp luật và nâng cao ý thức pháp luật của nhân
dân, trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức trong thi hành án dân sự. Qua đó
làm cho tính thượng tôn pháp luật trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa Việt Nam của dân, do dân và vì dân được nâng cao.
Ba là, góp phần ổn định xã hội, ổn định nền kinh tế
Thi hành án dân sự là làm cho những phán quyết của Tòa án trở thành
hiện thực. Nếu không được tổ chức thi hành, thì toàn bộ kết quả của cả quá
trình tố tụng trước đó trở nên vô nghĩa, dẫn đến kỷ cương phép nước bị coi
thường. Thông qua thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp, các mối quan hệ
kinh tế, tài sản bị xâm hại được khôi phục lại tình trạng ban đầu, trật tự pháp
luật được lập lại. Bản án có hiệu lực pháp luật được thi hành một cách triệt để
sẽ có tác động đến ý thức chấp hành pháp luật của người được thi hành án,
người phải thi hành án nói riêng và nhân dân nói chung, từ đó nâng cao ý thức
chấp hành pháp luật trong tổ chức, cá nhân làm cho mọi người hiểu và làm
14
Bản án, quyết định quy định tại Điều 2 của Luật này phải được cơ
quan, tổ chức và mọi công dân tôn trọng. Cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên
quan trong phạm vi trách nhiệm của mình chấp hành nghiêm chỉnh bản án,
quyết định và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc thi hành án [33,
Điều 4].
Như vậy, thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp không những bảo
đảm lợi ích hợp pháp của nhà nước, tổ chức, cá nhân và tính nghiêm minh của
pháp luật, mà còn tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa.
1.2. Quy định của pháp luật về thẩm quyền thi hành án đối với
doanh nghiệp
1.2.1. Thẩm quyền thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp
Theo quy định tại Điều 35 của Luật thi hành án dân sự thì:
1. Cơ quan thi hành án dân sự cấp huyện có thẩm quyền thi hành các
bản án, quyết định sau đây:
a) Bản án, quyết định sơ thẩm của Toà án cấp huyện nơi cơ quan thi
hành án dân sự có trụ sở;
b) Bản án, quyết định phúc thẩm của Tòa án cấp tỉnh đối với bản án,
quyết định sơ thẩm của Toà án cấp huyện nơi cơ quan thi hành án dân sự cấp
huyện có trụ sở;
c) Quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm của Tòa án cấp tỉnh đối với bản
án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án cấp huyện nơi cơ quan thi
hành án dân sự cấp huyện có trụ sở;
d) Bản án, quyết định do cơ quan thi hành án dân sự cấp huyện nơi
khác, cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh hoặc cơ quan thi hành án cấp quân
khu ủy thác.
2. Cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh có thẩm quyền thi hành các bản
án, quyết định sau đây:
định thi hành án đối với những người đã có yêu cầu, đồng thời thông báo cho
17
những người được thi hành án khác theo bản án, quyết định đó biết để yêu cầu
thi hành án trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày được thông báo hợp lệ. Hết
thời hạn trên, nếu người được thông báo không yêu cầu thi hành án thì Chấp
hành viên tổ chức giao tài sản, khoản tiền đó cho người đã có yêu cầu hoặc
người đại diện của những người đã có yêu cầu để quản lý. Quyền và lợi ích
hợp pháp của những người được thi hành án đối với tài sản đó được giải quyết
theo thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật.
b. Trường hợp sau khi trừ đi thời gian xảy ra sự kiện bất khả kháng
hoặc trở ngại khách quan mà thời hiệu yêu cầu thi hành án vẫn còn thì Thủ
trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định thi hành án theo yêu cầu thi
hành án. Trường hợp đã hết thời hiệu yêu cầu thi hành án thì cơ quan thi hành
án dân sự từ chối nhận yêu cầu thi hành án theo quy định tại Điểm c Khoản 5
Điều 31 Luật thi hành án dân sự, trừ trường hợp quy định tại Khoản 6 Điều 4
Nghị định này.
c. Việc ra quyết định thi hành án đối với quyền, nghĩa vụ liên đới thực
hiện theo quy định tại Khoản 2 Điều 6 Nghị định này.
d. Cơ quan thi hành án dân sự từ chối yêu cầu thi hành án theo quy định
tại Điểm a Khoản 5 Điều 31 Luật thi hành án dân sự trong trường hợp bản án,
quyết định không xác định cụ thể người phải thi hành án và nghĩa vụ phải thi
hành.
Theo quy đinh tại Điều 34 Nghị định 61/2009/NĐ thì Thừa phát lại
được quyền trực tiếp tổ chức thi hành theo đơn yêu cầu của đương sự đối với
bản án, quyết định.
a) Bản án, quyết định sơ thẩm đã có hiệu lực của Tòa án cấp huyện nơi
Thừa phát lại đặt văn phòng;
b) Bản án, quyết định phúc thẩm của Tòa án cấp tỉnh đối với bản án,
Quyết định của Tòa án giải quyết phá sản.
Thi hành án theo yêu cầu được áp dụng có đơn yêu cầu của đương sự
yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền, văn phòng Thừa phát lại
19
có thẩm quyền thi hành toàn bộ hoặc một phần bản án, quyết định có hiệu lực
pháp luật của Tòa án, Trọng tài thương mại, Hội đồng xử lý vụ việc cạnh
tranh hoặc bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp
luật nhưng được yêu cầu thi hành án có nội dung tuyên doanh nghiệp phải trả
lương, trả công lao động, trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc, trợ cấp mất sức
lao động hoặc bồi thường thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, nhận người lao
động trở lại làm việc.
Đối với nội dung thi hành án theo yêu cầu, tùy từng vụ việc cụ thể mà
nội dung thi hành án dân sự có thể bao gồm toàn bộ hoặc một phần các công
việc sau:
Ra các quyết định thi hành án theo quy định tại các Điều 7, 30, 35, 36
Luật thi hành án dân sự.
Ủy thác thi hành án dân sự cho cơ quan thi hành án dân sự nơi doanh
nghiệp là người phải thi hành án có tài sản hoặc trụ sở. Có hai trường hợp ủy
thác thi hành án là ủy thác thẳng (khi chưa ra quyết định thi hành án) và
trường hợp thứ hai sau khi ban hành quyết định thi hành án và xác minh tài
sản nếu doanh nghiệp không có tài sản nào để thi hành án thì Chấp hành viên
thực hiện việc ủy thác đến nơi doanh nghiệp có tài sản để thi hành. Trường
hợp doanh nghiệp phải thi hành án có tài sản, hoặc có trụ sở ở nhiều địa
phương thì thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ủy thác từng phần cho cơ
quan thi hành án dân sự nơi doanh nghiệp phải thi hành án có điều kiện thi
hành án để thi hành phần nghĩa vụ của doanh nghiệp.
Về thời hiệu yêu cầu thi hành án: Luật thi hành án dân sự đã quy định
thời hiệu yêu cầu thi hành án là 05 năm, như sau: