Thực hiện chính sách bảo hiểm thất nghiệp từ thực tiễn tỉnh bình dương - Pdf 42

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

HUỲNH VĂN LỘC

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP
TỪ THỰC TIỄN TỈNH BÌNH DƢƠNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG

HÀ NỘI - 2017


VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

HUỲNH VĂN LỘC

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP
TỪ THỰC TIỄN TỈNH BÌNH DƢƠNG

Chuyên ngành

: Chính sách công

Mã số

:


kiến đóng góp quý báu của Quý thầy, cô và các bạn học viên để luận văn có
giá trị thực tiễn hơn.
Trân trọng cảm ơn!


LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan bản luận văn “Thực hiện chính sách Bảo hiểm thất
nghiệp từ thực tiễn tỉnh Bình Dƣơng” này là công trình nghiên cứu thực sự
của cá nhân, được thực hiện trên cơ sở nghiên cứu lý thuyết và xuất phát từ
thực tiễn công tác, dưới sự hướng dẫn của PGS. TS. Văn Tất Thu.
Các số liệu và những kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực,
chưa từng được công bố dưới bất kỳ hình thức nào trước khi trình, bảo vệ và
công nhận bởi Hội đồng đánh giá Luận văn tốt nghiệp Thạc sĩ Chính sách
công.
Một lần nữa tôi xin khẳng định sự trung thực của lời cam kết trên.

Tác giả

Huỳnh Văn Lộc


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ................................................................................................................................1

Chƣơng 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH
BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP Ở VIỆT NAM ......................................................... 8
1.1. Một số khái niệm. bảo hiểm, bảo hiểm thất nghiệp; chính sách bảo
hiểm thất nghiệp ............................................................................................. 8
1.2. Quan điểm của Đảng, chính sách của nhà nước về bảo hiểm thất nghiệp ..... 9

nghiệp ở nước ta hiện nay ........................................................................... 61
KẾT LUẬN .............................................................................................................. 79
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................................... 81
PHỤ LỤC


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

BHXH

: Bảo hiểm xã hội

BHYT

: Bảo hiểm y tế

BHTN

: Bảo hiểm thất nghiệp

CSDN

: Cơ sở dạy nghề

DN

: Doanh nghiệp

GTVL


: Xuất khẩu lao động


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Sau hơn 6 năm đi vào cuộc sống, chính sách BHTN đã thực sự phát huy
được vai trò tích cực trong hệ thống chính sách về việc làm c ng như các chính sách
về an sinh xã hội của Việt Nam. Những tác động của chính sách này như một nhân
tố tích cực, rõ nét góp phần hỗ trợ khó khăn, ổn định cuộc sống cho NLĐ mất việc
làm để từ đó giảm thiểu các tác động lên tình hình kinh tế xã hội ở cấp vĩ mô là điều
hiển nhiên không ai có thể phủ nhận. Chính vì thế hơn 6 năm qua, chính sách
BHTN không chỉ được biết đến với vai trò của một chính sách liên quan tới việc
làm, thị trường lao động, mà còn chứng tỏ vai trò quan trọng của một chính sách an
sinh xã hội, góp phần đáng kể về việc đảm bảo an sinh xã hội trong bối cảnh kinh tế
xã hội có nhiều khó khăn. Theo báo cáo của CVL, số người tham gia BHTN đã tăng
từ hơn 5,9 triệu người năm 2009 lên hơn 8,6 triệu người năm 2013. Số người đăng
ký thất nghiệp giai đoạn 2009-2013 là 1.481.189 người, trong đó có 1.351.637
người nộp hồ sơ và 1.321.474 người có quyết định hưởng TCTN. Tổng thu của
BHTN dựa trên số người tham gia c ng tăng mạnh từ 3.510,7 tỷ đồng năm 2009 lên
10,095 tỷ đồng năm 2013. Tổng chi BHTN c ng tăng liên tục từ 609,331 tỷ năm
2010 lên 3.701,793 tỷ năm 2013.
Tuy nhiên, do là một chính sách mới dù c ng đã có một thời gian chuẩn bị tương
đối dài nên trong quá trình vận hành, bên cạnh những điểm tích cực, chính sách
BHTN c ng đã và đang bộc lộ những bất cập, hạn chế. Sự bất cập của chính sách
BHTN là điều không quá khó hiểu bởi thực tế c ng đã diễn ra ở nhiều quốc gia
khác trên thế giới cả những quốc gia có quy định khác nhiều so với Việt Nam .
Ngày 16 11 2013 Quốc hội Việt Nam đã chính thức thông qua Luật Việc làm và
chính thức có hiệu lực kể từ ngày 01 01 2015. Theo đó, các quy định chính sách
cao nhất về BHTN trong Luật BHXH 2006 s hết hiệu lực và chính sách BHTN s
chính thức được quy định theo Luật Việc làm, đồng thời k m theo rất nhiều các

mình liên quan đến BHTN và TCTN, điển hình như: ở Cộng hòa Liên bang Đức có
Schmid; ở M có Wernev và Wayne Nafziger; ở Anh có David và Pearce; ở Nga có
V.Paplốp;...
Nhìn chung những công trình nghiên cứu của các tác giả mới chỉ tập trung

2


chủ yếu vào phản ánh thực trạng thất nghiệp, nguyên nhân và hậu quả thất nghiệp
trong một giai đoạn nào đó, ở những nước và những khu vực nào đó trên thế giới.
Có một số nghiên cứu đã tiếp cận với BHTN và TCTN, song mới chỉ đưa ra những
định hướng về đối tượng tham gia, mức trợ cấp và thời gian hưởng TCTN. Do đây
là một vấn đề kinh tế - xã hội đặc thù của từng nước, cho nên những nghiên cứu của
các tác giả kể trên có chăng chỉ để tham khảo trong quá trình xây dựng và tổ chức
thực hiện chính sách BHTN ở Việt Nam.
- Tình hình nghiên cứu trong nước
Ở Việt Nam, trong thời kỳ bao cấp vấn đề thất nghiệp được coi như không
tồn tại và quan niệm thất nghiệp không gắn với chủ nghĩa xã hội mà chỉ chủ nghĩa
tư bản mới có thất nghiệp. Sở dĩ chúng ta quan niệm như vậy là vì xuất phát từ luận
điểm: Mọi công dân đều có quyền có việc làm, có nghĩa vụ phải làm việc và Nhà
nước s bảo đảm đầy đủ chỗ làm việc cho NLĐ. Do đó, trong thực tế c ng như
trong khoa học và lý luận không đặt ra để nghiên cứu.
Chỉ từ khi chúng ta chuyển đối cơ chế quản lý kinh tế từ kế hoạch hóa tập
trung sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã
hội chủ nghĩa và đặc biệt là sau cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ khu vực năm
1998 thì vấn đề nghiên cứu thất nghiệp và BHTN mới thực sự được đặt ra. BHTN là
vấn đề mới cho nên các công trình nghiên cứu chưa nhiều mà chủ yếu là những bài
viết khoa học về thất nghiệp, xây dựng chế độ BHTN, hoặc liên quan đến vấn đề
này dưới góc độ lý luận và kinh nghiệm của các nước trên thế giới như:
"Tổ chức BHTN ở Việt Nam trong điều kiện kinh tế thị trường", của TS

trên thế giới.
Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu, bài viết nhìn chung mới chỉ đề cập tới
từng khía cạnh riêng lẻ, bức xúc trong lĩnh vực việc làm, thất nghiệp và BHTN. Vì
thế chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu toàn diện và đánh giá thực trạng
việc thực hiện chính sách BHTN ở từ thực tiễn tỉnh Bình Dương, do đó có thể nói
đề tài "Thực hiện chính sách BHTN từ thực tiễn tỉnh Bình Dương" là luận văn thạc
sĩ đầu tiên nghiên cứu về chính sách BHTN đã được triển khai thực hiện ở tỉnh Bình
Dương. Tuy nhiên chính sách BHTN là vấn đề khó, mới được triển khai thực hiện ở
Việt Nam và là đối tượng nghiên cứu của cả khoa học pháp lý và khoa học kinh tế,

4


cho nên trong luận văn c ng có sử dụng những tư liệu, những bài viết, những công
trình nghiên cứu của các tác giả, các nhà khoa học đi trước.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu: Nghiên cứu hệ thống hóa những vấn đề lý luận
về thực hiện chính sách BHTN ở Việt Nam để có cơ sở khoa học đánh giá thực
trạng thực hiện chính sách BHTN tại tỉnh Bình Dương và đề xuất các giải pháp
nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách BHTN ở nước ta hiện nay.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu:
3.2.1. Nghiên cứu những vấn đề lý luận về thực hiện chính sách BHTN ở
Việt Nam
3.2.2. Khảo sát, đánh giá thực trạng thực hiện chính sách BHTN tại tỉnh Bình
Dương, chỉ rõ ưu điểm, hạn chế, bất cập và nguyên nhân của các hạn chế, bất cập.
3.2.3. Xác định phương hướng và đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả
thực hiện chính sách BHTN ở nước ta hiện nay.
4. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu:
Chính sách BHTN ở Việt Nam, cụ thể là nghiên cứu giải pháp và công cụ

- Luận văn sử dụng phương pháp định tính, phương pháp nghiên cứu tài
liệu và quá trình nghiên cứu đề tài c ng đòi hỏi tiếp cận, kết hợp các phương pháp
nghiên cứu nhằm nâng cao chất lượng nghiên cứu, c ng như cập nhật những vấn
đề, những lĩnh vực mới mẻ trong đời sống KT-XH từ thực tiễn tỉnh Bình Dương,
phù hợp với yêu cầu của cấu trúc luận văn.
- Luận văn sử dụng phương pháp phỏng vấn sâu, phương pháp này được
dùng khá phổ biến trong nghiên cứu xã hội học, đó là phương pháp đối thoại với
một đối tượng nhằm thu thập thông tin. Tác giả tập trung vào phương pháp phỏng
vấn sâu đối với đối tượng cán bộ, công chức lãnh đạo, quản lý và phỏng vấn đối
với các chủ thể chính sách BHTN trên địa bàn tỉnh Bình Dương.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận: ý nghĩa lý luận của luận văn thể hiện ở chỗ các kết quả,
kết luận rút ra từ việc nghiên cứu đề tài luận văn góp phần bổ sung, hoàn thiện
những vấn đề lý luận về thực hiện chính sách công nói chung, thực hiện chính sách

6


BHTN ở Việt Nam nói chung và công tác thực hiện chính sách BHTN từ thực tiễn
tại tỉnh Bình Dương .
6.2. Ý nghĩa thực tiễn: thể hiện ở chỗ đã đề xuất các giải pháp thiết thực, các
kinh nghiệm góp phần nâng cao hiệu quả tổ chức thực hiện chính sách BHTN tại
tỉnh Bình Dương là một tỉnh đang diễn ra quá trình đô thị hóa nhanh, tình trạng thất
nghiệp gia tăng. Luận văn có thể sử dụng như tài liệu tham khảo phục vụ cho công
tác nghiên cứu, giảng dạy chuyên ngành chính sách công ở nước ta.
7. Kết cấu của luận văn :
Ngoài mục lục, mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn kết
cấu thành 3 chương.
Chƣơng 1: Những vấn đề lý luận về thực hiện chính sách BHTN ở Việt
Nam

nhiệm trước rủi ro hay sự kiện bảo hiểm và bù trừ chúng theo quy luật thống kê”.
1.1.3. Khái niệm về chính sách bảo hiểm thất nghiệp:
Theo Khoản 4, Điều 3 Luật việc làm thì: “BHTN là chế độ nhằm bù đắp một
phần thu nhập của NLĐ khi bị mất việc làm, hỗ trợ NLĐ học nghề, duy trì việc làm,
tìm việc làm trên cơ sở đóng vào Qu BHTN”
Khái niệm chính sách công được diễn đạt như sau: Ch nh s ch c ng
tập h p c c qu ết định ch nh trị c

i n quan của nh nước nh m ựa chọn c c m c

ti u c th với giải ph p v c ng c thực hiện giải qu ết c c vấn đề của
m c ti u đ

một

hội theo

c định của đảng ch nh trị cầm qu ền [Đỗ Phú Hải, 2012, 2014]

8


Như vậy, chính sách công là thể hiện cụ thể của những chủ trương, quan
điểm, định hướng của Đảng và Nhà nước về phát triển kinh tế – xã hội của đất
nước. Chính sách công giải quyết các vấn đề xã hội đặt ra trong đời sống kinh tế –
xã hội theo mục tiêu tổng thể đã xác định, không chỉ đề ra mục tiêu và các giải pháp
với công cụ thực hiện nhằm giải quyết vấn đề đang đặt ra trong đời sống xã hội, mà
còn giải quyết mối quan hệ giữa các bên tham gia chính sách.
Cho đến nay, khái niệm chính sách BHTN vẫn chưa được chuẩn hóa. Tuy nhiên
có thể hiểu chính sách BHTN là tổng thể các quan điểm, nguyên tắc và biện pháp

9


cả hệ thống chính trị và toàn xã hội, phấn đấu đến năm 2020 cơ bản hình thành hệ
thống an sinh xã hội bao phủ toàn dân với các yêu cầu: bảo đảm người dân có việc
làm, thu nhập tối thiểu; tham gia BHXH; bảo đảm hỗ trợ những người có hoàn cảnh
đặc biệt khó khăn trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, người cao tuổi thu nhập thấp,
người khuyết tật nặng, người ngh o,… ; bảo đảm cho người dân tiếp cận được các
dịch vụ xã hội cơ bản ở mức tối thiểu y tế, giáo dục, nhà ở, nước sạch, thông tin ,
góp phần từng bước nâng cao thu nhập, bảo đảm cuộc sống an toàn, bình đẳng và
hạnh phúc của nhân dân”.
1.2.2. Chính sách của nhà nước về bảo hiểm thất nghiệp.
Hiến pháp năm 2013 lần đầu tiên khẳng định quyền an sinh xã hội cơ bản
cho người dân Điều 34: “Công dân có quyền được bảo đảm an sinh xã hội”; Điều
59: “Nhà nước tạo bình đẳng về cơ hội để công dân thụ hưởng phúc lợi xã hội, phát
triển hệ thống an sinh xã hội. Quốc hội đã ban hành Bộ luật Lao động BLLĐ năm
1994 sửa đổi, bổ sung vào các năm 2002, 2006, 2007 . BLLĐ năm 1994 mặc dù đã
có quy định nhằm bảo vệ quyền lợi cho NLĐ khi thôi việc hoặc mất việc làm thì
được hưởng chế độ trợ cấp thôi việc Điều 42 BLLĐ 1994 và trợ cấp mất việc
Điều 17 BLLĐ 1994 , nhưng chưa có quy định về BHTN. Do vậy, một trong
những sửa đổi, bổ sung quan trọng trong BLLĐ sửa đổi, bổ sung năm 2002 là việc
quy định về chế độ BHTN2 Điều 140 . Đây là một quy định rất chính xác và kịp
thời, bởi thực ra, BHTN là một loại hình bảo hiểm chuyên biệt dành cho những
NLĐ thôi việc hoặc mất việc làm theo quy định pháp luật đã được nhiều quốc gia
trên thế giới áp dụng có hiệu quả.
Để hoàn thiện hệ thống các chính sách an sinh xã hội, trong đó có các chế độ
bảo hiểm, Nhà nước đă ban hành chính sách riêng về BHTN. Chính sách BHTN ở
nước ta có hiệu lực từ 01 01 2009. Theo thống kê của ILO, Việt Nam là nước thứ 2
ở Đông Nam Á thực hiện chế độ BHTN.
Các nội dung của chính sách bảo hiểm thất nghiệp ở nước ta được quy định

dung về chính sách bảo hiểm thất nghiệp đã tạo ra khung pháp lý kịp thời, tạo
điều kiện thuận lợi cho người lao động và người sử dụng lao động trong việc
tham gia bảo hiểm thất nghiệp, đồng thời giúp cho việc tổ chức thực hiện bảo

11


hiểm thất nghiệp được thuận lợi hơn. Ngay sau khi Luật việc làm được ban
hành, Chính phủ và các Bộ, ban, ngành đã khẩn trương xây dựng các văn bản
hướng dẫn Luật việc làm. Nội dung cơ bản của chính sách bảo hiểm thất
nghiệp theo quy định của Luật việc làm như sau: Đối tượng tham gia bảo
hiểm thất nghiệp; Đóng bảo hiểm thất nghiệp; Hỗ trợ đào tạo, bồi dưỡng nâng
cao trình độ k năng nghề để duy trì việc làm; Trợ cấp thất nghiệp; Hỗ trợ học
nghề; Hỗ trợ tư vấn, giới thiệu việc làm; Thông báo về việc tìm kiếm việc
làm; Q y bảo hiểm thất nghiệp; Quyền và trách nhiệm của cá nhân, cơ quan,
tổ chức trong việc thực hiện bảo hiểm thất nghiệp:
Về mức đóng BHTN
- Người lao động đóng bằng 1% tiền lương tháng; DN đóng bằng 1% qu
tiền lương tháng của những người lao động đang tham gia BHTN. Mức tiền lương
tháng thấp nhất để tính đóng BHTN là mức lương tối thiểu vùng và mức tối đa là 20
lần mức lương tối thiểu vùng.
Những đối tượng bắt buộc tham gia BHTN
- Người lao động phải tham gia BHTN khi làm việc theo hợp đồng lao động
hoặc hợp đồng làm việc như sau: Hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc
không xác định thời hạn; Hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc xác định thời
hạn; Hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn
từ đủ 03 tháng đến dưới 12 tháng.
- Trong trường hợp người lao động giao kết và đang thực hiện nhiều hợp
đồng lao động quy định tại khoản này thì người lao động và người sử dụng lao động
của hợp đồng lao động giao kết đầu tiên có trách nhiệm tham gia BHTN.

thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định, hoặc không quá 5 lần mức
lương tối thiểu vùng theo quy định của Bộ luật lao động đối với người lao động
đóng BHTN theo chế độ tiền lương do công ty quyết định
- Thời gian hưởng: Được tính theo số tháng đóng BHTN, cứ đóng đủ 12
tháng đến đủ 36 tháng thì được hưởng 03 tháng trợ cấp thất nghiệp, sau đó, cứ đóng
đủ thêm 12 tháng thì được hưởng thêm 01 tháng trợ cấp thất nghiệp nhưng tối đa
không quá 12 tháng.

13


- Thời đi m hưởng: Thời điểm hưởng trợ cấp thất nghiệp được tính từ ngày
thứ 16, kể từ ngày nộp đủ hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp theo quy định tại khoản 1
Điều 46 của Luật Việc làm.
Hỗ trợ học nghề: Đối tượng được hỗ trợ học nghề theo quy định tại Điều 55
Luật Việc làm có nhu cầu học nghề được hỗ trợ 1 lần để học 1 nghề tại cơ sở dạy
nghề, bao gồm:
a Người lao động đang đóng BHTN bị chấm dứt hợp đồng lao động, đã nộp
hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp tại Trung tâm Dịch vụ việc làm và chưa tìm được
việc làm sau 15 ngày, kể từ ngày nộp hồ sơ; b Đã đóng BHTN từ đủ 9 tháng trở lên
trong thời gian 24 tháng trước khi chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm
việc theo quy định của pháp luật; Thời gian hỗ trợ học nghề theo thời gian học nghề
thực tế nhưng không quá 06 tháng.
Mức hỗ trợ tối đa 01 một triệu đồng người tháng. Mức hỗ trợ cụ thể được
tính theo tháng, tùy theo từng nghề, mức thu học phí và thời gian học nghề thực tế
theo quy định của cơ sở dạy nghề.
Tƣ vấn, giới thiệu việc làm: Người lao động quy định tại khoản 1 Điều 43
của Luật việc làm đang đóng bảo hiểm thất nghiệp bị chấm dứt hợp đồng lao động
hoặc hợp đồng làm việc mà có nhu cầu tìm kiếm việc làm được tư vấn, giới thiệu
việc làm miễn phí.

thực hiện đúng s ảnh hưởng đến an sinh xã hội, dẫn đến thiếu niềm tin, phản ứng
tiêu cực của người dân đối vối nhà nước. Điều này hoàn toàn bất lợi về mặt chính
trị và xã hội, gây khó khăn bất ổn cho Nhà nước trong công tác quản lý. Qua tổ
chức thực hiện chính sách BHTN mới biết được chính sách có đúng hay không
đúng, phù hợp hay không phù hợp, chính sách có đi vào cuộc sống hay không đi
vào cuộc sống. Có những vấn đề trong giai đoạn hoạch định, xây dựng chính sách
chưa phát sinh ra, hoặc đã phát sinh ra nhưng các nhà hoạch định, xây dựng chính
sách BHTN nhận thấy, đến giai đoạn tổ chức thực hiện chính sách mới phát hiện ra.
Chính quá trình tổ chức thực hiện chính sách BHTN với những hoạt động thực tiễn
s góp phần điều chỉnh, bổ sung và hoàn thiện chính sách cho phù hợp với thực tiễn
đáp ứng yêu cầu của cuộc sống. Đồng thời việc phân tích đánh giá chính sách
BHTN (mức độ tốt, xấu) chỉ có cơ sở đầy đủ, có sức thuyết phục sau khi thực hiện

15


chính sách BHTN. Thực tiễn là chân lý, kết quả thực hiện chính sách BHTN s là
thước đo, là cơ sở đánh giá một cách chính xác và khách quan chất lượng, hiệu quả
của chính sách BHTN. Như vậy, tổ chức thực hiện chính sách BHTN là yêu cầu,
nhiệm vụ tất yếu khách quan, là yếu tố quyết định thành công hay không thành công
của chính sách BHTN.
1.4. Nội dung các bƣớc trong tổ chức thực hiện chính sách bảo hiểm thất
nghiệp.
Tổ chức thực hiện chính sách công nói chung, thực hiện chính sách BHTN
nói riêng là quá trình triển khai thực hiện chính sách vào thực tiễn cuộc sống gồm
nhiều nhiệm vụ đan xen, kế tiếp tác động và bổ sung cho nhau. Để tổ chức thực
hiện chính sách có hiệu quả cần phải tuân thủ một quy trình chặt ch và thống nhất.
quy trình tổ chức thực hiện chính sách là trình tự các bước trong tổ chức triển khai,
thực hiện chính sách. Quy trình tổ chức thực hiện chính sách gồm các bước, mỗi
bước có yêu cầu, nhiệm vụ khác nhau, nhưng có hiệu lực tác động qua lại lẫn nhau,

ra trong dự thảo kế hoạch triển khai thực hiện chính sách BHTN cần quy định nội
dung, quy chế về tổ chức điều hành, về trách nhiệm, nhiệm vụ, quyền hạn của các
cơ quan nhà nước, các chi bộ, công chức tham gia tổ chức thực hiện chính sách, về
các biện pháp khen thưởng, kỷ luật cá nhân, tập thể trong tổ chức thực hiện chính
sách.
Dự thảo kế hoạch triển khai thực hiện chính sách BHTN ở cấp nào do lãnh
đạo ở cấp đó xem xét thông qua. Sau khi các cấp có thẩm quyền quyết định thông
qua kế hoạch triển khai thực hiện chính sách BHTN có giá trị pháp lý, được mọi
người chấp hành thực hiện. Kế hoạch triển khai thực hiện chính sách BHTN có thể
được xem xét điều chỉnh nếu kế hoạch đó không phù hợp với tình hình thực tế. việc
điều chỉnh kế hoạch c ng do cấp có thẩm quyền thông qua kế hoạch quyết định.
1.4.2. Phổ biến, tuyên truyền chính sách bảo hiểm thất nghiệp:
Phổ biến, tuyên truyền chính sách là bước thứ hai trong quy trình tổ chức
thực hiện chính sách BHTN, nhưng là bước quan trọng có ý nghĩa lớn đối với các
cơ quan nhà nước và các đối tượng thực thi chính sách. Phổ biến tuyên truyền chính
sách tốt s giúp các đối tượng chính sách và mọi người dân tham gia thực thi hiểu
rõ về mục đích, ý nghĩa, tầm quan trọng và yêu cầu của chính sách, về tính đúng

17


đắn của chính sách trong điều kiện hoàn cảnh nhất định và về tính khả thi của chính
sách… để họ tự giác thực hiện theo yêu cầu của nhà nước. đồng thời còn giúp cho
cán bộ công chức có trách nhiệm tổ chức thực hiện chính sách nhận thức được đầy
đủ tính chất, độ phức tạp, quy mô của chính sách đối với đời sống xã hội, để họ chủ
động tích cực tìm kiếm các giải pháp thích hợp cho việc thực hiện mục tiêu chính
sách và triển khai thực hiện có hiệu quả kế hoạch tổ chức thực hiện chính sách được
giao: Phổ biến, tuyên truyền chính sách BHTN cần được thực hiện thường xuyên
liên tục để các đối tượng thụ hưởng chính sách có thêm niềm tin vào chính sách và
tích cực thực thi chính sách. Phổ biến tuyên truyền chính sách BHTN bằng nhiều


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status