Bài tập tình huống " định tội cướp tài sản " - Pdf 12


Đề bài số 5:
Đoạn đường từ thị trấn Đ đến xã V vắng vẻ, lợi dụng đêm tối ít người qua lại,
với ý định chiếm đoạt tài sản của người đi đường, A đã dùng dây théo căng ngang
đường. Hai đầu dây đều được cột chặt vào cây ven đường. Chị N đi xe máy qua
đoạn đường này bị dây thép hất ngược trở lại, nằm ngất xỉu. A từ chỗ nấp ở bụi cây
ven đường chạy ra tháo dây chuyền, nhẫn, đồng hồ, túi sách của N. Tổng tài sản có
giá trị 4.800.000 đồng. Sau đó, N được người đi qua nhìn thấy và đưa đi cấp cứu kịp
thời nên không chết. Tổng số tiền viện phí là 2.700.000 đồng, tổn hại sức khỏe của
chị N không đáng kể. Xe máy của chị N bị hỏng, tiền sửa chữa là 800.000 đồng.
1. Xác định tội danh và định khung hình phạt cho hành vi của A?
2. Giả sử N bị thương tích với tỷ lệ thương tật là 61% thì trách nhiệm hình sự
của A được xác định như thế nào?
1
A – ĐẶT VẤN ĐỀ:
Hiện nay, với sự phát triển không ngừng của xã hội theo đó dẫn tới hệ quả là
các loại tội phạm cũng gia tăng một cách đáng kể. Vì vậy, để giải quyết và nhằm
ngăn chặn các loại tội phạm này, các nhà làm luật đã không ngừng đặt ra những quy
định phù hợp với tình hình xã hội. Để hiểu rõ hơn về tội phạm và một số vấn đề
trong BLHS, em xin được trình bày và diễn giải về tình huống số 5 đã nêu trên.
B – GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ:
I. Xác định tội danh và định khung hình phạt cho hành vi của A:
1. Xác định tội danh:
- Đầu tiên chúng ta sẽ đi tìm hiểu về mặt khách thể đới với hành vi của A:
Hành vi phạm tội của A đã xâm phạm đến hai quan hệ: quan hệ nhân thân và
quan hệ sở hữu. Ở đây quan hệ nhân thân đã bị xâm phạm trước, cụ thể là A dùng
dây thép căng ngang đường , hai đầu dây được cột chặt vào cây ven đường, sau đó
chị N đi xe máy qua bị dây thép hất ngược trở lại và nằm ngất xỉu. Như vậy, sức
khỏe của chị N đã bị ảnh hưởng. Quan hệ sở hữu bị xâm phạm sau: A từ chỗ nấp ở
bụi cây ven đường chạy ra tháo dây chuyền, nhẫn, đồng hồ, túi xách của chị N. Tài
sản của chị N đã bị A chiếm đoạt một cách trái pháp luật. Hành vi của A đã xâm

- A là chủ thể thường - người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và đủ độ tuổi
theo pháp luật quy định.
Từ các dấu hiệu pháp lý đã nêu trên, ta thấy hành vi của A thỏa mãn dấu hiệu
pháp lý của tội cướp tài sản được quy định tại điều 133 BLHS.
2. Định khung hình phạt:
Trước hết, chúng ta khẳng định rằng các dấu hiệu hành vi của A thỏa mãn các
dấu hiệu mô tả tội phạm trong khoản 1 Điều 133 BLHS, cụ thể:
- Có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể
chống cự được: hành vi căng dây ngang đường làm cho chị N đi xe máy qua bị hất
ngược và bị ngất xỉu.
- Mục đích nhằm chiếm đoạt tài sản trái pháp luật.
Ngoài ra, hành vi phạm tội của A còn chứa đựng tình tiết tăng nặng được quy
định tại điểm d khoản 2 Điều 133: “ Sử dụng vũ khí, phương tiện hoặc thủ đoạn
nguy hiểm khác.
3
- A đã sử dụng thủ đoạn nguy hiểm để gây án. Thủ đoạn nguy hiểm là việc
người phạm tội sử dụng phương pháp gây nguy hại đến tính mạng, sức khỏe của
người bị hại và những người khác như: bỏ thuốc độc, dùng dây xiết cổ nạn nhân,
dùng dây chăng qua đường mà có nhiều phương tiện đi lại Tính nguy hiểm của
những thủ đoạn không phụ thuộc vào phương tiện mà phụ thuộc vào phương pháp
sử dụng phương tiện đó vào mục đích gì. Trong trường hợp này, phương tiện mà A
dùng để gây án là một đoạn dây, sau đó A đã chăng ngang dây qua đường – nơi có
nhiều phương tiện qua lại, khiến cho người đi đường bị ngã để nhằm chiếm đoạt tài
sản của họ. Đoạn dây không chứa đựng khả năng gây nguy hại cho sức khỏe, tính
mạng nhưng do A đã dùng đoạn dây đó để tạo ra khả năng gây nguy hại đến sức
khỏe, tính mạng của người đi đường nên hành vi của A là hành vi nguy hiểm.
Vậy A phạm tội thuộc điểm d khoản 2 Điều 133 BLHS năm 1999 với khung
hình phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm.
II - Giả sử N bị thương tích với tỷ lệ thương tật là 61% thì trách nhiệm
hình sự của A được xác định như thế nào?


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status