Hoạt động sở hữu chéo trong hệ thống ngân hàng việt nam - Pdf 30

MỤC LỤC
Sở hữu chéo là một thuộc tính kinh tế khách quan đã xuất hiện trong quá trình phát
triển tại nhiều nền kinh tế trên thế giới. Hình thức sở hữu chéo tồn tại khá lâu và mang lại
những thành công không nhỏ cho nhiều nước. Tuy nhiên trên thực tế, sở hữu chéo phức
tạp hơn nhiều bởi nó hàm chứa những mối quan hệ chằng chịt và đôi khi rất khó phân
tách rạch ròi.
Trong những năm gần đây, vấn đề sở hữu chéo liên quan đến các tổ chức tín dụng ở
Việt Nam đang ngày càng trở nên phổ biến. Bên cạnh các mặt tích cực mang lại thì trong
bối cảnh hiện nay, sở hữu chéo là một trong những nguyên nhân quan trọng có thể dẫn
đến các tác động tiêu cực cho hệ thống ngân hàng như cho vay theo quan hệ, thu xếp vốn
cho những dự án đầu tư chưa minh bạch, hoặc phục vụ mục đích thâu tóm ngân hàng.
Đối với quá trình tái cơ cấu các ngân hàng Việt Nam hiện nay, sở hữu chéo là một trong
những vấn đề cần quan tâm xử lý hàng đầu, đặc biệt là đối với công tác giải quyết nợ xấu
cũng như tăng cường minh bạch hoạt động của hệ thống ngân hàng.
Chính vì sự nguy hiểm tiềm ẩn của vấn đề sở hữu chéo trong lĩnh vực ngân hàng mà
chúng ta cần phải tìm hiểu tổng quan về sở hữu chéo, thực trạng diễn ra cũng như tìm ra
những giải pháp để hạn chế những tiêu cực do sở hữu chéo mang lại cho hoạt động ngân
hàng. Đó cũng chính là lý do nhóm chúng tôi thực hiện đề tài “VẤN ĐỀ SỞ HỮU
CHÉO TRONG LĨNH VỰC NGÂN HÀNG”.
Vì hạn chế về mặt kiến thức và thời gian thực hiện đề tài nên chúng tôi khó tránh
khỏi sai sót. Rất mong nhận được sự giúp đỡ và góp ý của Thầy cùng các bạn!
1
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
- CTCK : Công ty Chứng khoán.
- CTCP : Công ty Cổ phần.
- Công ty TNHH MTV : Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên.
- DN : Doanh nghiệp.
- DNNN : Doanh nghiệp nhà nước.
- NH : Ngân hàng.
- NHTM : Ngân hàng thương mại.
- NHTMNN : Ngân hàng thương mại nhà nước.

nghĩa “Sở hữu chéo (cross ownership) là mối quan hệ giữa hai hay nhiều định chế tài
chính hoặc các doanh nghiệp, trong đó các chủ thể này có quan hệ sở hữu cổ phần lẫn
nhau”.
Thông thường, sở hữu chéo giữa các doanh nghiệp có tính trực tiếp. Ví dụ, doanh
nghiệp A sở hữu doanh nghiệp B hoặc ngược lại. Tuy nhiên, sở hữu chéo có thể tồn tại
một cách gián tiếp. Ví dụ, một nhà đầu tư (hoặc một nhóm nhà đầu tư) sở hữu cả doanh
nghiệp C và doanh nghiệp D, thì thực chất doanh nghiệp C và doanh nghiệp D là sở hữu
chéo của nhau. Hình thức này thiếu minh bạch và rất khó kiểm soát.
1 Alberto Onetti, Alessia Pisoni, “Ownership and control in Germany: Do cross-shareholdings reflect
bank control on large companies?”, 2009.
2 Mark Scher, “Bank-firm Cross-shareholding in Japan: What is it, why does it matter, is it winding down?”, 2001.
3
Và tùy vào bối cảnh, sở hữu chéo rất đa dạng khi kết hợp mọi thành phần tham gia
kinh tế như ngân hàng- doanh nghiệp sản xuất- công ty bảo hiểm- các quỹ đầu tư…
Nhưng trong nhiều mối quan hệ chằng chịt đó, mối quan hệ giữa ngân hàng và doanh
nghiệp lại là đặc biệt hơn cả.
1.2. Phân loại sở hữu chéo
Theo Báo cáo kinh tế vĩ mô 2012 của Ủy ban kinh tế Quốc hội
3
thì trong hệ thống
Ngân hàng Việt Nam hiện nay đang tồn tại 6 hình thức sở hữu chéo. Bao gồm:
- Ba nhóm tích cực:
(1) Sở hữu của các NHTM nhà nước và NHTM nước ngoài tại các Ngân hàng liên
doanh (NHLD).
(2) Cổ đông chiến lược nước ngoài tại các NHTM, cả nhà nước lẫn cổ phần.
(3) Cổ đông tại các NHTM là các công ty quản lý quỹ.
- Ba nhóm tiêu cực:
(4) Sở hữu của các NHTM nhà nước tại các NHTM cổ phần.
(5) Sở hữu lẫn nhau giữa các NHTM cổ phần.
(6) Sở hữu NHTM cổ phần bởi các tập đoàn, tổng công ty nhà nước và tư nhân.

mà chỉ có những quy định liên quan về vấn đề thành lập, tổ chức, sở hữu ngân hàng như
sau:
- Về quy định về vấn đề thành lập ngân hàng:
Những điều kiện để được cấp giấy phép thành lập và hoạt động Ngân hàng được
quy định tại Điều 20, Luật các TCTD số 47/2010/QH12 ngày 16/06/2010
● Quy định về vốn điều lệ: theo quy định của Nghị định 141/2006/NĐ-CP về ban
hành danh mục mức vốn pháp định của các TCTD, vốn điều lệ thực góp của các NHTM
phải đạt 3.000 tỷ đồng vào năm 2010.
● Quy định về năng lực chủ sở hữu.
● Quy định về điều lệ.
● Quy định về đề án thành lập ngân hàng: có đề án thành lập, phương án kinh doanh
khả thi, không gây ảnh hưởng tới sự an toàn, ổn định của hệ thống TCTD, không tạo ra
sự độc quyền hoặc hạn chế cạnh tranh không lành mạnh trong hệ thống TCTD.
Quy định về chủ sở hữu của TCTD có vai trò rất quan trọng trong việc minh bạch
hóa hoạt động của TCTD, khoản b Điều 20 Luật các TCTD 2010 quy định như sau: Chủ
sở hữu TCTD là Công ty TNHH MTV, cổ đông sáng lập, thành viên sáng lập là pháp
nhân đang hoạt động hợp pháp và có đủ năng lực hành vi dân sự đầy đủ và có khả năng
tài chính để góp vốn.
5
Điều kiện đối với chủ sở hữu của TCTD là Công ty TNHH MTV, cổ đông sáng
lập, thành viên sáng lập do NHNN quy định.
- Về cơ cấu quản lý, tổ chức NH: được quy định cụ thể tại Điều 32, Luật các TCTD số
47/2010/QH12.
- Về tỷ lệ sở hữu cổ phần: Điều 55 Luật các TCTD số 47/2010/QH12 quy định :
1. Một cổ đông là cá nhân không được sở hữu vượt quá 5% vốn điều lệ của một
tổ chức tín dụng.
2. Một cổ đông là tổ chức không được sở hữu vượt quá 15% vốn điều lệ của một
tổ chức tín dụng, trừ các trường hợp sau đây:
a. Sở hữu cổ phần theo quy định tại khoản 3 Điều 149 của Luật này để xử lý tổ chức tín
dụng gặp khó khăn, bảo đảm an toàn hệ thống tổ chức tín dụng;

được ưu tiên giải quyết. Trong khi đó lại chưa có văn bản pháp luật nào điều chỉnh vấn đề
sở hữu chéo sẽ gây ra hậu quả là các TCTD, các cá nhân lợi dụng những kẽ hở của pháp
luật nhằm mục đích trục lợi hết sức dễ dàng.
4 Điểm b, Mục 6, Chỉ thị số 01/CT-NHNN Về tổ chức thực hiện chính sách tiền tệ và đảm bảo hoạt động ngân hàng
an toàn, hiệu quả năm 2014 do Ngân hàng Nhà nước ban hành ngày 15 tháng 01 năm 2014.
7
CHƯƠNG 2: SỞ HỮU CHÉO TRONG HỆ THỐNG NGÂN HÀNG
2.1. Thực trạng sở hữu chéo trong hệ thống ngân hàng một số nước trên thế giới
“Sở hữu chéo” được xem là một vấn đề lớn và nan giải đối với hệ thống ngân hàng và
doanh nghiệp ở nhiều quốc gia trên thế giới. Đặc biệt khi những năm gần đây, với sự phát
triển của tài chính-ngân hàng, thì tình trạng sở hữu chéo trong hệ thống ngân hàng trên
thế giới diễn biến ngày càng phức tạp và khó kiểm soát. Đến nay, vấn đề sở hữu chéo
giữa các ngân hàng thu hút sự quan tâm đáng kể bởi nhiều lý do:
Thứ nhất, sở hữu chéo có thể gây cản trở đến năng lực cạnh tranh và vì vậy tác động
không nhỏ đến sự phân bổ quyền sở hữu tài sản;
Thứ hai, sở hữu chéo trong nhiều trường hợp có liên quan rất lớn đến những người
sáng lập chính của ngân hàng mà vì nhiều lý do không thể đảm bảo quản trị ngân hàng
hiệu quả.
Với tầm ảnh hưởng của tình trạng sở hữu chéo chúng ta sẽ tìm hiểu một số quốc gia
trên thế giới để thấy rõ hơn vấn đề này.
2.1.1. Sở hữu chéo trong hệ thống ngân hàng Ý
Sự hình thành nên mạng lưới sở hữu chéo chằng chịt giữa phần lớn các ngân hàng
của Ý gắn liền với quá trình tái cơ cấu hệ thống ngân hàng. Trong suốt 10 năm, những sự
kiện nổi bật đã làm thay đổi bộ mặt lĩnh vực ngân hàng Ý mà cơ bản là quá trình đổi mới
hệ thống khuôn khổ pháp lý, bắt đầu từ những năm 1990, trong đó điển hình là các đạo
luật mới của Châu Âu về lĩnh vực ngân hàng.
Trong bối cảnh hệ thống pháp luật mới, hai sự kiện quan trọng đóng vai trò nòng cốt
trong quá trình chuyển đổi cấu trúc sở hữu trong hệ thống ngân hàng Ý, đó là: việc bán
cổ phần của các ngân hàng mà nhà nước sở hữu và quá trình củng cố khu vực tín dụng
quốc gia. Việc bán cổ phần của các ngân hàng thương mại nhà nước bắt đầu từ năm 1993

Trên thực tế, sở hữu chéo tạo ra liên kết giữa các công ty trong các tập đoàn sản xuất
như Tập đoàn Toyota. Ngoài ra, phải kể đến sự liên kết duy trì sở hữu chéo giữa ngân
hàng trung tâm và các công ty sản xuất công nghiệp, công ty thương mại trong Tập đoàn
quy mô lớn nhất Nhật Bản là Mitsubishi, Sumitomo, Mitsui, Sanwa, Fuyo và Ichikan.
Kết quả sở hữu chéo là làm giảm số cổ phần lưu thông và tác động vào giá cổ phần, duy
trì chúng ở mức cao.
Bên cạnh những lợi thế kể trên, sở hữu chéo còn bộc lộ một số mặt hạn chế như có thể
làm phát sinh hiện tượng làm hình thức hóa vai trò của đại hội đồng cổ đông trong quyết
định phương hướng kinh doanh. Về mặt kế toán, do sở hữu chéo của các công ty có hiệu
quả kinh doanh thấp, cổ phiếu nắm giữ xuống giá là tác nhân buộc nhiều công ty phải sử
dụng lợi nhuận để bù lỗ phát sinh do nắm giữ cổ phần chéo; hay để xảy ra tình trạng
không hạch toán kế toán đầy đủ và chính xác các chi phí để duy trì sở hữu chéo.
b) Cách giải quyết của Chính phủ Nhật Bản
Sau khủng hoảng tài chính cuối thập niên 1980, Chính phủ Nhật Bản đã bắt đầu sửa
đổi lại các quy định pháp luật để hạn chế sở hữu chéo. Ngay từ năm 1981, Luật Thương
mại Nhật Bản đã quy định cấm công ty con sở hữu cổ phần của công ty mẹ, trừ một số
trường hợp đặc biệt. Sau đó, Luật Công ty cũng cấm thực hiện quyền biểu quyết của cổ
đông là công ty sở hữu chéo ngược chiều trong trường hợp sở hữu chéo có dấu hiệu chi
9
phối thực chất. Bên cạnh đó, luật cấm độc quyền gián tiếp tác động quan hệ sở hữu chéo
cổ phần thông qua quy định về giới hạn sở hữu và nghĩa vụ báo cáo nhằm kiểm soát tình
trạng độc quyền.
Và còn nhiều văn bản pháp luật của Nhật Bản ra đời nhằm duy trì những ảnh hưởng
tích cực của sở hữu chéo đồng thời cũng đưa ra nhiều quy định chặt chẽ để hạn chế
những ảnh hưởng tiêu cực của chúng.
2.2. Thực trạng sở hữu chéo tại Việt Nam
2.2.1. Sự hình thành và phát triển sở hữu chéo trong Ngân hàng ở Việt Nam
Quá trình phát triển của Ngân hàng Việt Nam được chia làm 4 thời kì: từ 1951- 1954,
1955-1975, 1975-1985 và từ 1986 tới nay. Qua 4 thời kì này hệ thống Ngân hàng Việt
Nam đã có rất nhiều biến chuyển lớn. Tiêu biểu có thể kể tới việc bùng nổ số lượng ngân

tư vào ngân hàng B hay C mà chuyện vài ba ngân hàng có thể cùng một chủ sở
hữu không phải hiếm.
● Thứ ba: thị trường tài chính phát triển thiếu quản lý cấp cao.
Nguyên nhân vi mô cần nhắc đến là thị trường tài chính phát triển lại thiếu quản lý
cấp cao nên cần sự tin cậy giữa các doanh nghiệp với nhau và với doanh nghiệp thì
sự tin tưởng này chỉ có thể thông qua mối quan hệ gia đình, đồng nghiệp. Đó mới
là nguyên nhân chính của tình trạng sở hữu chéo nghiêm trọng hiện tại.
2.2.2. Tình hình sở hữu chéo trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam
Đối với thực tiễn Việt Nam, từ nhiều năm trước khi việc thành lập hệ thống ngân hàng
cổ phần được thực thi, Chính phủ đã chủ trương phải có đại diện của mình trong mỗi
ngân hàng và các ngân hàng quốc doanh lớn đã được lựa chọn để góp vốn với tư cách cổ
đông nhà nước. Sự hiện diện của những ngân hàng quốc doanh nhằm mục đích hạn chế
những hoạt động vượt ra ngoài khuôn khổ pháp lý nếu có cũng như những yếu kém ban
đầu từ phía các ngân hàng cổ phần mới được thành lập. Trong bối cảnh bấy giờ, sự thận
trọng này là cần thiết. Ngoài ra, xét từ góc độ nghiệp vụ, các ngân hàng quốc doanh lớn
đã chia sẻ kinh nghiệm kinh doanh, quản trị thậm chí chia sẻ cả nguồn nhân lực với tất cả
các ngân hàng họ góp vốn. Tuy nhiên, cùng với thời gian và sự phát triển của hệ thống
ngân hàng Việt Nam, ảnh hưởng của các hình thức sở hữu chéo cũng có nhiều biến đổi.
Nhìn chung, thực trạng sở hữu chéo trong hệ thống ngân hàng Việt Nam như tỷ lệ nắm
giữ giữa các tổ chức, vai trò của các cổ đông và công tác giám sát vai trò này là những
vấn đề hết sức phức tạp bởi quan hệ chồng chéo mang tính lịch sử, đồng thời cũng mang
tính biến động cao, kết hợp với nguồn thông tin hạn chế. Tình hình sở hữu chéo trong
lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam hiện nay sẽ được phân tích một cách hệ thống qua sáu
hình thức sở hữu chéo trong ngân hàng dưới đây.
11
2.2.2.1 .Sở hữu của các NHTM nhà nước và NHTM nước ngoài tại các ngân hàng
liên doanh (NHLD)
Hiện tại có sáu NHLD trong hệ thống các TCTD của Việt Nam. Thông thường một
NHLD được sở hữu bởi một NH nước ngoài và một NH trong nước. Chẳng hạn NH Việt
Thái là NHLD giữa 3 đối tác lớn: NH Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam

Nam hiện nay. Biểu hiện sở hữu chéo giữa các NHTM cổ phần được thể hiện theo
phương thức đan xen lẫn nhau. Từ những thông tin công bố của các ngân hàng, hiện có ít
nhất 6 NHTM cổ phần có cổ đông là một NHTM cổ phần khác. Vietcombank hiện là
TCTD sở hữu nhiều nhất cổ phần của những ngân hàng khác. Sau khi thoái vốn khỏi
NHTM Cổ phần Gia Định (tên mới là Bản Việt), Vietcombank đang còn là cổ đông của
SaigonBank, Eximbank, Quân đội, Phương Đông và Oceanbank với các tỷ lệ nắm giữ
khác nhau. Theo thống kê, có khoảng 8 NHTM Cổ phần có quan hệ cổ phần với 4
NHTM nhà nước. Quan hệ sở hữu này hình thành chủ yếu từ những hạn chế nghiệp vụ
ngân hàng của các NHTM Cổ phần trong giai đoạn đầu thành lập cũng như trong giai
đoạn khủng hoảng 1997 – 1998. Ngoài ra, hiện tượng sở hữu lẫn nhau giữa các NHTM
14
Cổ phần cũng có xu hướng tăng lên trong thời gian qua. Một ví dụ khác là ACB sở hữu
20% cổ phần tại Eximbank, trong khi đó Eximbank lại sở hữu 10,3% cổ phần tại
Sacombank và 8,5% cổ phần tại NHTMCP Việt Á. ACB không chỉ sở hữu cổ phần tại
Eximbank, mà còn sở hữu cổ phần tại nhiều NHTM Cổ phần khác như: 6,1% ở
NHTMCP Kiên Long (thông qua Công ty chứng khoán ACBS), 10,8% ở NHTMCP Đại
Á, 10% ở NHTMCP Việt Nam Thương Tín.…
Bên cạnh đó, hệ thống ngân hàng còn tồn tại những quan hệ ràng buộc phức tạp về
mặt sở hữu khi mà các ngân hàng có những công ty con, công ty liên kết và những công
ty này cũng nắm giữ cổ phiếu ngân hàng. Đơn cử, tính đến ngày 17/5/2012, CTCK Sài
Gòn – Hà Nội (SHS) sở hữu 3,74% vốn tại NHTMCP Sài Gòn – Hà Nội (SHB), đồng
thời, SHB sở hữu 8,22% vốn tại SHS.
Sở hữu chéo giữa các ngân hàng đã tạo nên một ma trận rắc rối và phức tạp, làm méo
mó và lệch lạc các dòng chảy tiền tệ trong nền kinh tế. Nói "méo mó" và "lệch lạc" là bởi,
có những cổ đông lớn của các ngân hàng chính là doanh nghiệp và rất có thể các doanh
nghiệp này biến ngân hàng thương mại trở thành sân sau, chuyên huy động vốn từ dân để
tài trợ cho các dự án của mình. Có thể thấy rất rõ điều này qua điển hình vụ “bầu Kiên”
(Nguyễn Đức Kiên). Với vị trí là Phó Chủ tịch Hội đồng sáng lập và đại diện nhóm cổ
đông chiếm 9,03% vốn điều lệ, Nguyễn Đức Kiên đã đóng vai trò chỉ đạo, chi phối toàn
bộ hoạt động quản trị, điều hành Ngân hàng ACB.

nước và tư nhân. Nhiều tập đoàn kinh tế nhà nước và các tập đoàn cổ phần, dù không
chuyên sâu về lĩnh vực tài chính nhưng hiện đang đầu tư dài hạn với vai trò là nhà sáng
lập, nhà đầu tư chiến lược tại các NHTM. Điều đáng lưu ý là, mặc dù các tập đoàn, tổng
công ty nắm giữ số lượng cổ phần tương đối lớn tại các NHTM cổ phần nhưng không
trực tiếp tham gia quản trị điều hành, có tình trạng buông lỏng quản lý vốn góp của Nhà
nước, trong khi đó vai trò quản trị điều hành và thâu tóm lại thuộc về nhóm lợi ích hoặc
một vài cá nhân.
Theo thống kê, hiện nay có khoảng 40 DNNN và tư nhân có sở hữu trên 5% vốn tại
các NHTMCP và các Doanh nghiệp này lại sở hữu các công ty đầu tư tài chính. Trong đó,
Tập đoàn Bảo Việt sở hữu 52% cổ phần của NHTMCP Bảo Việt; Tập đoàn Viễn thông
Quân đội (Viettel) sở hữu 10%, Tổng công ty trực thăng Việt Nam sở hữu 7,2%, Tổng
công ty Tân cảng Sài Gòn sở hữu 5,7% cổ phần của NHTMCP Quân đội (MB); Tập đoàn
Điện lực Việt Nam (EVN) sở hữu 25,4% cổ phần của NHTMCP An Bình; Tập đoàn Than
khoáng sản Việt Nam, Tập đoàn Cao su Việt Nam đều sở hữu 9,3% cổ phần của
NHTMCP Sài Gòn - Hà Nội (SHB); Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam sở hữu 20%
cổ phần của NHTMCP Đại Dương; NH Nông nghiệp và Phát triển nông thôn VN
(Agribank) sở hữu 15%, Tập đoàn Bưu chính viễn thông Việt Nam (VNPT) sở hữu
12,5%, Tổng công ty Hàng hải Việt Nam (Vinalines) sở hữu 5,3% cổ phần của NHTMCP
Hàng Hải (Maritimebank). Ngoài ra, VNPT còn sở hữu 6,1% cổ phần của NHTMCP
Đông Nam Á, sở hữu 6% cổ phần của NHTMCP Bưu điện Liên Việt Ngoài ra, tình
trạng sở hữu chéo giữa các NHTM cổ phần với nhau diễn ra cũng khá phổ biến ở Việt
Nam. Điều này gây không ít khó khăn cho các nhà hoạch định chính sách, các nhà quản
lý kinh tế vĩ mô, nguy cơ bất ổn đối với thị trường tài chính Việt Nam.
19
2.3. Tác động của sở hữu chéo trong lĩnh vực ngân hàng
Ở Việt Nam, hình thức sở hữu chéo được thừa nhận là khá phổ biến nhưng chưa có
một nghiên cứu khoa học nào để xác nhận cũng như chứng minh được thành quả từ mối
quan hệ sở hữu chéo này. Sở dĩ như vậy là vì mức độ sở hữu chéo ở Việt Nam rất khó
đánh giá. Nguyên do là không minh bạch thông tin và các kế sách lách luật sở hữu một
cách hợp pháp. Tuy nhiên, dựa trên những tác động của sở hữu chéo ở nước ngoài cũng

phiếu của các công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ của Ngân hàng A.
Việc này được xem là một rủi ro đạo đức rất lớn khi các NHTM đem tiền gửi
của khách hàng đi kinh doanh chứng khoán (một cách gián tiếp).
● Các quy định về vốn.
Theo quy định của Nghị định 141/2006/NĐ-CP, vốn điều lệ thực góp của các
ngân hàng phải đạt 1.000 tỷ đồng vào năm 2008 và 3.000 tỷ đồng vào năm
2010. Thông qua sở hữu chéo, cổ đông Ngân hàng A có thể vay tiền Ngân hàng
B để góp vốn vào Ngân hàng A và ngược lại, việc này được thực hiện theo một
thỏa thuận ngầm giữa hai bên. Khi đó, Ngân hàng A và Ngân hàng B sẽ có đủ
số vốn mình cần. Hoạt động đi vay này tạo ra tình trạng tăng vốn ảo trong các
ngân hàng. Thực tế là nhiều ngân hàng đã thực hiện tăng vốn với một tốc độ
nhanh đáng ngạc nhiên, và để rồi sau khi hoàn thành được mức khoán 3.000 tỷ
của NHNN thì nhiều NHTM cỡ nhỏ đã rơi vào tình trạng khó khăn do năng lực
quản lý nguồn vốn hạn chế. Mặt khác, không ít lãnh đạo các ngân hàng đã tận
dụng doanh nghiệp “sân sau” để giúp tăng vốn. Khi đó doanh nghiệp có vốn
góp lớn của các ông chủ ngân hàng sẽ đứng ra phát hành trái phiếu kì hạn 3-5
năm. Sau đó, ngân hàng của các ông chủ trên sẽ bỏ tiền ra mua trái phiếu của
doanh nghiệp. Khi đã có tiền, doanh nghiệp này sẽ sử dụng vốn đó góp vào
đúng ngân hàng vừa bỏ tiền ra mua trái phiếu của mình để tăng vốn điều lệ.
Trên thực tế, việc tăng vốn ảo đã giúp không ít ông chủ ngân hàng cùng một
lúc sở hữu 2-3 ngân hàng và đẩy vốn vào lĩnh vực đầu tư bất động sản, dẫn đến
khó khăn về thanh khoản cho những ngân hàng nhỏ.
● Giới hạn tín dụng theo quy định hiện hành đã bị sở hữu chéo làm vô hiệu hoá.
Điều 128.1 Luật các tổ chức tín dụng 2010 quy định tổng dư nợ cấp tín dụng
đối với một khách hàng không được vượt quá 15% vốn tự có của NHTM.
Trường hợp cấp tín dụng cho các dự án Chính phủ chỉ dành cho các NHTMNN
là một điển hình. Do Chính phủ vừa là chủ sở hữu các DNNN đồng thời là cổ
đông chi phối tại các NHTMNN, nên khi cấp tín dụng cho một khách hàng
vượt mức 15% vốn tự có của mình, các NHTMNN sẽ xin phê duyệt của Chính
phủ và NHNN. Thêm vào đó, quy định về các trường hợp không được cấp tín

ổn. Nhưng vào lúc kinh tế gặp khó khăn như mấy năm gần đây, nhiều khoản
vay này trở thành nợ xấu khi "sân sau" gặp khó khăn không thể trả; thậm chí
nhiều khoản nợ xấu, ngân hàng cũng không ráo riết thu hồi vì "người nhà vay".
Ước tính của chuyên gia tài chính Nguyễn Trí Hiếu
6
, khoản nợ xấu từ các "sân
sau" này chiếm không dưới 25% trong tổng nợ xấu của toàn hệ thống ngân
hàng, tương đương giá trị 65.000 tỉ đồng.
6 Người thành lập Ngân Hàng First Vietnamese-American Bank, Ngân Hàng người Việt đầu tiên tại Mỹ.
22
Với bản chất "sở hữu chéo" này, nếu xử lý nợ xấu theo cách mà chúng ta đang
đưa ra hiện nay (giãn nợ, gia hạn nợ, mua nợ xấu cho toàn hệ thống ngân hàng)
sẽ dẫn đến tình trạng tiền thuế của dân được sử dụng để "cứu" các ông chủ
ngân hàng các nhóm lợi ích.
● Sở hữu chéo cũng làm sai lệch việc đánh giá rủi ro của hệ thống ngân hàng, vì
rất nhiều chỉ số dựa trên số vốn tự có, trong khi đó lại là vốn ảo. Việc che giấu
nợ xấu và tăng vốn ảo có thể khiến cho “Đề án tái cơ cấu hệ thống Ngân
hàng”
7
của Chính phủ bị sai mục đích do không hướng tới đúng đối tượng cần
tác động. Nhiều ngân hàng thuộc khu vực ngoài quốc doanh bị lũng đoạn bởi
các thế lực tài chính. Hoạt động cho vay sân sau đầy rủi ro đã làm thất thoát
một lượng lớn vốn đầu tư xã hội vào những dự án kém chất lượng.
Có thể thấy các rủi ro trong thị trường tài chính đến từ sở hữu chéo là rất nguy
hiểm, vì chúng mang tính hệ thống nên một khi bùng phát thành khủng hoảng
thì nó không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến ngân hàng mà sẽ lây lan ra toàn hệ
thống và nền kinh tế. Hậu quả khi đó sẽ vô cùng khủng khiếp.
● Khi các ngân hàng sở hữu cổ phần của nhau, sẽ tạo thành một mạng lưới mà
từ đó dễ nảy sinh độc quyền nhóm. Liên minh ngân hàng này có thể đủ sức
mạnh để chi phối lãi suất, tỷ giá và kể cả chính sách. Điều này có thể gây xáo

hàng mà vì nhiều lý do không thể đảm bảo quản trị ngân hàng hiệu quả. Vì vậy, cần thiết
phải hạn chế tình trạng sở hữu chéo để tạo một môi trường cạnh tranh lành mạnh, góp
phần nâng cao hiệu quả của quá trình tái cấu trúc khu vực ngân hàng. Các quốc gia trên
thế giới đã có những giải pháp hạn chế tiêu cực của sở hữu chéo khác nhau để phù hợp
với đặc điểm nền kinh tế của mình.
- Về vấn đề sở hữu chéo của các ngân hàng tại Nhật Bản – một cường quốc kinh tế,
từ 1/4/2000, họ đã áp dụng chế độ hạch toán kế toán theo giá thị trường đối với hàng hóa
tài chính thay thế chế độ hạch toán theo nguyên giá. Kết quả là các NHTM và công ty sở
hữu chéo cổ phần bị rơi vào tình trạng thua lỗ do định giá cổ phần sở hữu chéo theo giá
thị trường. Các chủ thể này đã nhận thức được sở hữu chéo là tác nhân gây ra tăng trưởng
lợi nhuận âm và từng bước điều chỉnh tỷ lệ sở hữu cổ phần chéo. Từ năm 2000, nhiều
NHTM và các công ty đã bán tháo số lượng lớn cổ phần khiến hàng loạt cổ phiếu sụt giá.
Tình trạng này đã tạo ra áp lực đối với thị trường chứng khoán và xã hội nói chung.
Trong bối cảnh đó, năm 2001, Nhật Bản ban hành Luật Hạn chế Ngân hàng sở hữu
cổ phần. Luật này quy định về tổ chức và hoạt động của tổ chức mua cổ phần sở hữu của
NHTM, ngân hàng tín dụng dài hạn, quỹ nông lâm trung ương, liên minh quỹ tín dụng.
Như vậy, sở hữu chéo cổ phần vẫn được duy trì ở Nhật Bản nhưng pháp luật nước này
đã đặt ra khá nhiều quy định chặt chẽ để hạn chế những bất cập của chúng.
- Ở Đức, tuy không có cấm sở hữu chéo, nhưng quyền biểu quyết được giới hạn
25% và bị cấm quyền biểu quyết trong trường hợp quan hệ giữa hai công ty là mẹ - con.
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status