ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN THỊ HƯỜNG
TR¸CH NHIÖM D¢N Sù DO X¢M PH¹M QUYÒN T¸C GI¶
THEO PH¸P LUËT VIÖT NAM LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2014
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
bất kỳ công trình nào khác. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong
Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực. Tôi đã
hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ
tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội.
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để
tôi có thể bảo vệ Luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Nguyễn Thị Hường
MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các từ viết tắt
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ XÂM PHẠM
QUYỀN TÁC GIẢ VÀ TRÁCH NHIỆM DÂN SỰ DO XÂM
PHẠM QUYỀN TÁC GIẢ 5
1.1. LÝ LUẬN CHUNG VỀ XÂM PHẠM QUYỀN TÁC GIẢ 5
1.1.1. Khái quát chung về quyền tác giả 5
1.1.2. Khái niệm hành vi xâm phạm quyền tác giả 7
1.1.3. Đặc điểm hành vi xâm phạm quyền tác giả 7
1.2. LÝ LUẬN CHUNG VỀ TRÁCH NHIỆM DÂN SỰ DO XÂM
3.2.1. Giải pháp hoàn thiện xây dựng quy định của pháp luật 82
3.2.2. Giải pháp hoàn thiện áp dụng pháp luật 84
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 87
KẾT LUẬN 88
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 89
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BLDS : Bộ luật Dân sự
SHTT : Sở hữu trí tuệ
TAND : Tòa án nhân dân
TNDS : Trách nhiệm dân sự
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Quyền tác giả là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm do mình
sáng tạo ra hoặc sở hữu. Quyền này được Nhà nước bảo hộ; do đó, pháp luật
đã quy định trình tự thực hiện và bảo vệ các quyền này khi có hành vi xâm
giả, để việc bảo vệ quyền tác giả bằng biện pháp dân sự trở thành cơ chế bảo vệ
quyền sở hữu trí tuệ phổ biến và hữu hiệu nhất, tôi quyết định lựa chọn đề tài
“Trách nhiệm dân sự do xâm phạm quyền tác giả theo pháp luật Việt Nam”
làm Luận văn thạc sĩ luật học của mình.
2. Tình hình nghiên cứu
Cho đến thời điểm tác giả nghiên cứu đề tài “Trách nhiệm dân sự do
xâm phạm quyền tác giả theo pháp luật Việt Nam”, đã có một số bài nghiên
cứu về vấn đề này như “Hoàn thiện pháp luật về bảo hộ quyền tác giả ở Việt
Nam hiện nay” của tác giả Hoàng Minh Thái, luận văn thạc sĩ luật học năm
2001; “Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ ở Việt Nam” của tác giả Ngô Văn Giang,
luận văn thạc sĩ luật học năm 2007; “Bồi thường thiệt hại do hành vi xâm
phạm quyền sở hữu trí tuệ theo pháp luật sở hữu trí tuệ Việt Nam” của tác giả
Đinh Thị Thúy Vân, khóa luận tốt nghiệp năm 2011; “Bồi thường thiệt hại do
hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn”
của tác giả Ngô Thị Thu Huyền, khóa luận tốt nghiệp năm 2012; “Nội dung
quyền tác giả theo pháp luật sở hữu trí tuệ Việt Nam” của tác giả Ngô Thị
Lam, khóa luận tốt nghiệp năm 2012; “Xâm phạm quyền tác giả ở Việt Nam –
Thực trạng và giải pháp” của tác giả Nguyễn Hồng Oanh, khóa luận tốt
nghiệp năm 2012… và một số bài báo, tạp chí như “Thực trạng giải quyết
tranh chấp về quyền tác giả tại Việt Nam giai đoạn 2006 – 2012 và một số đề
3
xuất tiếp tục hoàn thiện pháp luật và thực thi về sở hữu trí tuệ” của nhóm tác
giả TS. Nguyễn Hợp Toàn, PGS.TS. Nguyễn Thị Thanh Thủy, PGS.TS. Trần
Văn Nam; “Xử lý xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ bằng biện pháp dân sự tại
Việt Nam – Thực tiễn pháp luật và đề xuất hoàn thiện” của tác giả Phạm Văn
Toàn (nguyên Phó Chánh thanh tra Bộ Khoa học và Công nghệ) đăng trên
trang web của Bộ Khoa học và Công nghệ ngày 15/10/2013… Tuy nhiên, các
công trình này chỉ đề cập tới một số khía cạnh về trách nhiệm dân sự do xâm
phạm quyền tác giả nói riêng và quyền sở hữu trí tuệ nói chung; chưa có công
định của pháp luật về trách nhiệm dân sự do xâm phạm quyền tác giả nói
riêng và quyền sở hữu trí tuệ nói chung.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và tài liệu tham khảo, Luận văn
được bố cục theo 3 chương trong phần nội dung, như sau:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận chung về xâm phạm quyền tác giả
và TNDS do xâm phạm quyền tác giả.
Chương 2: Các quy định pháp luật và đánh giá việc áp dụng pháp luật
về TNDS do xâm phạm quyền tác giả.
Chương 3: Thực tiễn xâm phạm quyền tác giả và những giải pháp
hoàn thiện pháp luật.
5
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ XÂM PHẠM
QUYỀN TÁC GIẢ VÀ TRÁCH NHIỆM DÂN SỰ DO XÂM PHẠM
QUYỀN TÁC GIẢ
1.1. LÝ LUẬN CHUNG VỀ XÂM PHẠM QUYỀN TÁC GIẢ
1.1.1. Khái quát chung về quyền tác giả
* Khái niệm quyền tác giả: Theo nghĩa rộng, quyền tác giả là một chế
định pháp luật là tổng thể các quy phạm pháp luật, xác định và bảo hộ các
không quy định bắt buộc nghĩa vụ đăng ký và nộp đơn yêu cầu bảo hộ quyền
tác giả, hay nói cách khác, việc đăng ký quyền tác giả không phải là căn cứ
làm phát sinh quyền tác giả mà chỉ có giá trị là chứng cứ chứng minh cho chủ
thể quyền khi phát sinh tranh chấp.
+ Thứ tư, quyền tác giả không được bảo hộ một cách tuyệt đối: Đối với
các tác phẩm đã được công bố, phổ biến và tác phẩm không bị cấm sao chụp
thì trong một số trường hợp, cá nhân, tổ chức được sử dụng tác phẩm không
phải xin phép, không phải trả tiền nhuận bút, thù lao và một số trường hợp
không phải xin phép nhưng phải trả tiền nhuận bút, thù lao.
* Nội dung quyền tác giả: Cũng giống như các quyền dân sự khác,
khái niệm nội dung quyền tác giả có nội hàm hẹp hơn so với khái niệm quyền
tác giả. Nội dung quyền tác giả chỉ nhằm xác định các quyền nhân thân và
quyền tài sản của tác giả, chủ sở hữu tác phẩm.
Quyền nhân thân của tác giả đối với tác phẩm là các quyền mang yếu tố
tinh thần của chủ thể đối với tác phẩm, thông thường, về bản chất, các quyền
nhân thân luôn gắn liền với chủ thể nhất định và không thể chuyển dịch được
(trừ quyền công bố hoặc cho người khác công bố tác phẩm).
Quyền tài sản của chủ thể quyền đối với tác phẩm là các lợi ích vật
7
chất có được từ tác phẩm mà tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả có quyền
được hưởng, như: được hưởng nhuận bút, thù lao hoặc hưởng các lợi ích
vật chất khác khi tác phẩm được sử dụng (làm tác phẩm phái sinh, biểu
diễn tác phẩm, sao chép tác phẩm…). Các quyền nhân thân và quyền tài
sản này được Nhà nước và pháp luật bảo hộ.
1.1.2. Khái niệm hành vi xâm phạm quyền tác giả
Trong hệ thống pháp luật Việt Nam hiện hành không có khái niệm
chung để chỉ các hành vi xâm phạm quyền tác giả mà các hành vi này được
liệt kê tại Điều 28 Luật SHTT 2005, sửa đổi bổ sung năm 2009. Tuy nhiên,
như đã phân tích ở trên, các quyền nhân thân và quyền tài sản của tác giả
quy định tại khoản 1 Điều 25 của Luật SHTT).
Một đặc điểm nữa của hành vi xâm phạm quyền tác giả là một hành vi
xâm phạm quyền tác giả không chỉ gây tổn hại cho chủ thể quyền đối với đối
tượng sở hữu trí tuệ bị xâm phạm, mà còn có thể gây tổn hại cho lợi ích của
toàn xã hội. Hành vi xâm phạm quyền tác giả tác động tiêu cực tới các quyền
của tác giả, làm suy giảm một phần hoặc hoàn toàn cơ hội của tác giả để khai
thác tác phẩm nhằm mục đích kinh tế. Hơn nữa, các hành vi xâm phạm quyền
tác giả xảy ra không nằm trong sự kiểm soát của tác giả, dẫn đến triệt tiêu
mục đích khuyến khích sáng tạo mà pháp luật về quyền sở hữu trí tuệ nói
chung và quyền tác giả nói riêng đặt ra.
1.2. LÝ LUẬN CHUNG VỀ TRÁCH NHIỆM DÂN SỰ DO XÂM
PHẠM QUYỀN TÁC GIẢ
1.2.1. Khái niệm trách nhiệm dân sự
* Khái niệm TNDS
BLDS 2005 không có một điều khoản cụ thể nào quy định về khái niệm
9
TNDS mà chỉ quy định các loại TNDS được áp dụng trong những trường hợp
cụ thể tại các Điều 303, Điều 304, Điều 305, Điều 306 và Điều 307. Hiện nay,
một số học giả đưa ra khái niệm về TNDS như sau:
Trong cuốn sách “Những vấn đề cơ bản và thuật ngữ của BLDS”,
TNDS được hiểu theo nghĩa rộng “ là các biện pháp có tính cưỡng chế được
áp dụng nhằm khôi phục lại tình trạng ban đầu của một quyền dân sự bị vi
phạm”; còn theo nghĩa hẹp, TNDS được hiểu:
Là các biện pháp có tính cưỡng chế áp dụng đối với người có
hành vi vi phạm pháp luật gây ra thiệt hại cho người khác, người
gây ra thiệt hại phải chịu trách nhiệm khắc phục những hậu quả xấu
xảy ra bằng tài sản của mình (trong đó có bồi thường thiệt hại trong
hợp đồng hoặc ngoài hợp đồng) [8, tr.168].
Trong cuốn “Từ điển giải thích thuật ngữ luật học” của Trường Đại học
với bên vi phạm. Bởi vì, khi có hành vi vi phạm pháp luật dân sự, thiệt hại
gây ra thường là những thiệt hại về tài sản. Ngay cả khi thiệt hại gây ra là
thiệt hại về tinh thần thì để bù đắp cho những tổn thất tinh thần đó, cũng chỉ
có thể được thực hiện bằng việc bù đắp về mặt tài sản. Việc áp dụng TNDS
nhằm bù đắp những tổn thất mà người bị vi phạm phải gánh chịu do hành vi
vi phạm pháp luật của người có hành vi vi phạm gây ra.
Thứ tư, chủ thể chịu TNDS có thể là người thực hiện hành vi vi phạm
hoặc không phải là người thực hiện hành vi vi phạm. Thông thường người
thực hiện hành vi vi phạm sẽ phải tự mình gánh chịu TNDS. Tuy nhiên, trong
một số trường hợp đặc biệt người gánh chịu TNDS lại không phải là người
thực hiện hành vi vi phạm. Đó là một trong các trường hợp: Người của pháp
nhân thực hiện nhiệm vụ của pháp nhân mà gây ra thiệt hại thì pháp nhân sẽ
là người phải bồi thường; trường hợp người đại diện theo pháp luật của người
11
chưa thành niên phải bồi thường khi người chưa thành niên gây thiệt hại mà
người đại diện theo pháp luật có lỗi trong việc quản lý.
* Phân loại TNDS
TNDS được chia thành hai loại, TNDS trong hợp đồng và TNDS ngoài
hợp đồng. TNDS trong hợp đồng là trách nhiệm pháp lý phát sinh giữa các
bên có quan hệ hợp đồng và hành vi vi phạm, là hành vi không thực hiện,
hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ nghĩa vụ theo hợp đồng; còn TNDS
ngoài hợp đồng là trách nhiệm pháp lý phát sinh giữa các bên không có quan
hệ hợp đồng và hành vi của chủ thể vi phạm là hành vi xâm phạm đến tài sản
và các quyền nhân thân của chủ thể khác. Một số điểm khác nhau giữa TNDS
trong hợp đồng và TNDS ngoài hợp đồng như [2]:
- Về việc xác định thiệt hại: Thiệt hại xảy ra đối với TNDS trong hợp
đồng chỉ có thể là thiệt hại về vật chất và chế tài áp dụng chủ yếu không chỉ
có bồi thường thiệt hại mà còn có hình thức phạt do vi phạm hợp đồng. Riêng
TNDS ngoài hợp đồng thì ngoài thiệt hại về vật chất còn có thiệt hại về tinh
Trường hợp bên vi phạm và bên bị vi phạm quyền tác giả đã ký hợp
đồng liên quan đến quyền tác giả và hợp đồng này đã có hiệu lực pháp luật thì
trách nhiệm của bên vi phạm khi không thực hiện hợp đồng, hoặc có thực
hiện nhưng không đúng, không đầy đủ là TNDS trong hợp đồng.
Trường hợp hai bên, bên vi phạm và bên bị vi phạm không có quan
hệ hợp đồng liên quan đến quyền tác giả thì TNDS mà bên vi phạm phải
gánh chịu là TNDS ngoài hợp đồng; hoặc có thể các bên này có ký hợp
đồng nhưng hành vi vi phạm không liên quan đến việc thực hiện nghĩa vụ
trong hợp đồng; hoặc nếu hành vi xâm phạm quyền tác giả gây ra tổn thất
về tinh thần cho chủ thể quyền tác giả thì dù các bên có quan hệ hợp đồng
hay không có quan hệ hợp đồng thì TNDS được áp dụng đối với bên vi
phạm luôn là TNDS ngoài hợp đồng.
13
TNDS do xâm phạm quyền tác giả có thể là hành vi xâm phạm quyền tài
sản, có thể là hành vi xâm phạm quyền nhân thân. Hành vi xâm phạm quyền tài
sản sẽ làm cho chủ thể quyền bị mất đi những lợi ích vật chất đáng lẽ ra họ
được hưởng (tiền nhuận bút, thù lao ), mất đi độc quyền sử dụng tác phẩm
dưới những hình thức do pháp luật quy định và hành vi xâm phạm quyền nhân
thân gây ra tổn thất về tinh thần cho tác giả (danh dự, uy tín, nhân phẩm ). Các
hành vi xâm phạm này đều được Luật SHTT quy định tại Điều 28.
Qua những phân tích trên, ta có thể hiểu rằng: TNDS do xâm phạm
quyền tác giả là một loại trách nhiệm pháp lý do Tòa án hoặc chủ thể khác
được phép áp dụng đối với các chủ thể có hành vi xâm phạm quyền tác giả,
phát sinh giữa các bên có quan hệ hợp đồng hoặc không có quan hệ hợp
đồng, trong đó chủ thể vi phạm phải gánh chịu những hậu quả bất lợi,buộc
các chủ thể này phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ và phải bù đắp những tổn
thất về vật chất, tinh thần cho người bị thiệt hại.
1.2.3. Đặc điểm trách nhiệm dân sự do xâm phạm quyền tác giả
TNDS do xâm phạm quyền tác giả là một trong những loại trách nhiệm
lỗi trong việc quản lý).
- Hành vi xâm phạm của chủ thể chịu TNDS là hành vi xâm phạm đến
đối tượng được bảo hộ của quyền tác giả bao gồm: Tác phẩm văn học, khoa
học, sách giáo khoa, giáo trình và tác phẩm khác được thể hiện dưới dạng chữ
viết hoặc ký tự khác; bài giảng, bài phát biểu và bài nói khác; tác phẩm báo
chí; tác phẩm âm nhạc; tác phẩm sân khấu; tác phẩm điện ảnh và tác phẩm
được tạo ra theo phương pháp tương tự (sau đây gọi chung là tác phẩm điện
ảnh); tác phẩm tạo hình, mỹ thuật ứng dụng; tác phẩm nhiếp ảnh; tác phẩm
kiến trúc (Điều 14 Luật SHTT năm 2005, sửa đổi bổ sung năm 2009).
15
1.3. TRÁCH NHIỆM DÂN SỰ DO XÂM PHẠM QUYỀN TÁC GIẢ
THEO PHÁP LUẬT MỘT SỐ QUỐC GIA
Trong lịch sử pháp luật, so với các quyền và lợi ích hợp pháp của cá
nhân, tổ chức, vấn đề quyền tác giả được thừa nhận muộn hơn. Vào thời cổ,
các quy định luật pháp chỉ dành cho những vật mang tác phẩm trí tuệ, ví dụ:
Không được phép trộm cắp một quyển sách nhưng lại được phép chép lại từ
quyển sách đó. Hình thức khởi thủy của sự bảo hộ bản quyền xuất hiện ở Anh
khoảng đầu thế kỷ XVI với việc cấp giấy phép cho các chủ xưởng in với mục
tiêu bảo hộ độc quyền in sách cho các chủ xưởng in, làm tăng thêm một
khoản tiền đáng kể cho ngân quỹ của nhà cầm quyền, tạo ra sự dễ dàng, thuận
tiện cho chính quyền trong việc kiểm soát các ấn phẩm có tính chất dấy loạn
hoặc phản tôn giáo. Nước Anh là quốc gia đi tiên phong trong việc đưa ra quy
định pháp luật về quyền tác giả với Đạo luật “Statue of Anne” có hiệu lực từ
tháng 10/1710. Đây là luật Bản quyền đầu tiên trên thế giới, đưa ra hai quyền
cơ bản: Tác giả có độc quyền những tác phẩm của mình và độc quyền đó
được bảo vệ trong một khoảng thời gian nhất định. Nữ hoàng Anne qui định
dành 14 năm độc quyền cho việc in một cuốn sách và độc quyền này có thể
được gia hạn thêm 14 năm nữa, nếu tác giả của cuốn sách vẫn còn sống khi
thời hạn bảo hộ đầu tiên đã hết [28, tr.16-23].
phẩm vi phạm hoặc áp dụng các biện pháp khác. Ngoài ra, chủ sở hữu quyền
có thể tìm trợ giúp từ Cục Văn hóa hoặc cơ quan có quyền trung gian hòa giải
trong vụ việc về quyền tác giả (Điều 105 Luật Quyền tác giả).
Theo quy định của pháp luật Nhật Bản, những hành vi sau đây được coi
là xâm phạm quyền tinh thần của tác giả, quyền tác giả, quyền xuất bản hoặc
một số quyền kết cận:
(i) Nhập khẩu vào Nhật Bản để phân phối những sản phẩm
17
được tạo ra bởi hành vi vi phạm quyền tinh thần của tác giả, quyền
tác giả, quyền xuất bản hoặc một số quyền kết cận;
(ii) Phân phối, hoặc sở hữu có chủ ý, ý đồ xấu sản phẩm là
hành vi vi phạm quyền tinh thần của tác giả, quyền tác giả, quyền
xuất bản hoặc một số quyền kết cận.
Người có mục đích kinh doanh bằng cách sao chép
chương trình máy tính chịu trách nhiệm pháp lý tới mức như
hành vi có ý đồ xấu.
Thông thường trong một vụ kiện về vi phạm bản quyền, nguyên đơn
phải chứng minh bị đơn đã sử dụng tác phẩm của mình hoặc tác phẩm của bị
đơn giống một cách cơ bản với tác phẩm của mình về hình thức thể hiện. Do
đó, việc bảo hộ quyền tác giả của Nhật Bản là việc bảo hộ đối với hình thức thể
hiện một ý tưởng chứ không đơn thuần là ý tưởng đó. Theo đó, nếu xác định bị
đơn có sử dụng tác phẩm, tòa án buộc phải so sánh tác phẩm của bị đơn với tác
phẩm của nguyên đơn để xác định có sự giống nhau cơ bản về hình thức thể
hiện giữa hai tác phẩm không? Việc so sánh này thường được tiến hành trong
trường hợp liên quan tới quyền tái bản độc quyền của nguyên đơn bị xâm
phạm. Theo Điều 21 của Luật Bản quyền Nhật bản quy định: “Tác giả có
quyền tuyệt đối về việc tái bản đối với tác phẩm viết của mình” [43]. Tái bản
được hiểu là “tái bản trong một hình thức hữu hình bằng cách in ấn, chụp ảnh,
sao chụp, ghi âm, ghi hình hoặc các hình thức khác” [43, Điều 2, Khoản 1].
không có sự tương tự cơ bản nào giữa hai tác phẩm âm nhạc này. Theo đó,
Tòa án Tối cao Nhật Bản ra phán quyết không có sự xâm phạm quyền tác giả
của bị đơn đối với tác phẩm của nguyên đơn [26].
Cũng giống như ở Việt Nam, pháp luật về sở hữu trí tuệ của Nhật Bản
cũng bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ nói chung và quyền tác giả nói riêng bằng
19
biện pháp dân sự, trong đó biện pháp buộc bồi thường thiệt hại là một trong
những biện pháp dân sự đối với hành vi xâm phạm quyền tác giả được áp
dụng khá phổ biến, theo đó, nguyên đơn của vụ kiện xâm phạm quyền tác giả
có thể yêu cầu bồi thường từ bị đơn về lỗi cố ý hoặc bất cẩn xâm phạm quyền
tác giả của bị đơn. Theo quy định của Luật Quyền tác giả Nhật Bản, các
khoản bồi thường được quy định rất cụ thể hai loại. Các khoản bồi thường
được công nhận (bao gồm: Thiệt hại thực tế, lợi nhuận từ vi phạm và án phí)
và các khoản bồi thường không được công nhận (bao gồm: Bồi thường theo
luật định, Bồi thường trừng phạt, phí luật sư). Việc quy định này tạo điều kiện
dễ dàng cho việc áp dụng pháp luật, tránh tình trạng khiếu kiện kéo dài; đồng
thời tạo sự tin tưởng của người dân khi thực hiện quyền bảo vệ tài sản của
mình trước tòa án.
Theo Điều 114 Luật Quyền tác giả Nhật Bản, thiệt hại được xác định
dựa trên ba nguyên tắc:
Thứ nhất, khi người vi phạm có được lợi nhuận từ sự vi phạm, số lợi
nhuận đó được giả định là số thiệt hại của nguyên đơn;
Thứ hai, nguyên đơn có thể đòi hỏi người vi phạm bồi thường số lượng
mà nguyên đơn trong điều kiện bình thường nhận được do sử dụng quyền tác
giả của mình và quyền liên quan, được coi như là số thiệt hại của nguyên đơn;
Thứ ba, nguyên đơn không bị ngăn cản việc yêu cầu bồi thường vượt
quá mức mà nguyên đơn trong điều kiện bình thường nhận được do sử dụng
quyền tác giả của mình và quyền liên quan, thậm chí trong trường hợp người
vi phạm không có lỗi cố ý hoặc vô ý nặng.