Nghiên cứu đặc điểm lối sống sinh viên hiện nay và những phương hướng, biện pháp giáo dục lối sống cho sinh viên - Pdf 30

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC
BÁO CÁO PHỤ LỤC

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM LỐI SỐNG SINH VIÊN
HIỆN NAY VÀ NHỮNG PHƢƠNG HƢỚNG,
BIỆN PHÁP GIÁO DỤC LỐI SỐNG CHO SINH VIÊN

(Đề tài cấp Bộ. Mã số: B94-38-32)


BIỆN PHÁP GIÁO DỤC LỐI SỐNG CHO SINH VIÊN

(Đề tài cấp Bộ. Mã số: B94-38-32)

Chủ nhiệm đề tài
PGS. PTS. Mạc Văn Trang
Những sản phẩm nghiên cứu năm 1995 (Mẫu số 04)
BÁO CÁO TỔNG KẾT TOÀN DIỆN VỀ KẾT QUẢ
NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI


Ngày 25/4/1996 Ngày 2/7/1996
Chủ tịch hội đồng đánh giá chính thức Thủ trƣởng cơ quan quản lý đề tài
(Ký và đóng dấu) (Ký và đóng dấu)
Mục lục MỤC LỤC

PHẦN II: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 6
I. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ LỐI SỐNG VÀ LSSV 6
1. Những nghiên cứu ngoài nƣớc. 6
2. Tình hình nghiên cứu trong nƣớc. 9
II. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 12
1. Tìm hiểu những khái niệm cơ bản của đề tài 12
2. Những cơ sở kinh tế - xã hội của lối sống 25
3. Một vài nét về đặc điểm tâm sinh lý sinh viên cần quan tâm trong việc nghiên cứu,
giáo dục LSSV . 46
III. NHỮNG BIỂU HIỆN CỦA LSSV HIỆN NAY 55
A . Định hƣớng giá trị của sinh viên (SV) 55
B. Tập lối sống sinh viên biểu hiện trong học tập 76
C. Một số đặc điểm lối sống sinh viên thể hiện trong nhu cầu sinh hoạt văn hóa của sinh
viên hiện nay 89
D. Lối sống sinh viên điển hình trong hoạt động xã hội – chính trị 105
E- Vài nhận xét về LSSV thể hiện trong quan hệ xã hội, giao tiếp, ứng xử… 117
G - Một số suy nghĩ về lối sống và giáo dục , lối sống SV trong sinh hoạt cá nhân ở ký
túc xá 123

- Sƣu tập, phân tích các kết quả nghiên cứu liên quan đến LSSV của các đề tài khác
trong mấy năm lại đây và thực tế LSSV phản ảnh trên báo chí để khái quát những đặc điểm
LSSV.
- Toạ đàm, xêmina với cán bộ quản lý, nhà nghiên cứu, nhà giáo và nhất là với đại
biểu SV.
- Điều tra điểm, để xác định rõ thêm đặc điểm LSSV.
- Trƣng cầu ý kiến về đặc điểm, xu hƣớng LSSV và phƣơng hƣớng giáo dục.

4. Kế hoạch nghiên cứu:
- 1994:
- Sƣu tập tài liệu, làm tổng quan
- Nghiên cứu lí luận (1 bƣớc cơ bản sau hoàn thiện tiếp)
- Chuẩn bị phiếu điều tra,…
- 1995:
- Toạ đàm, xêmina
- Điều tra khảo sát
- Lấy ý kiến…
- Hoàn thiện tài liệu khoa học của đề tài

5. Những ngƣời tham gia nghiên cứu:
- PGS.PTS. Mạc Văn Trang
- PST.PTS. Lê Đức Phúc
- Thạc sĩ. Phạm Hồng Tín
- Thạc Sĩ. Nguyễn Danh Bình
- Thạc sĩ. Đinh Hữu Liễn
6

PHẦN II: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

I. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ LỐI SỐNG VÀ LSSV

- Cƣỡng dâm
- v.v… (3)
Xem nhập môn xã hội học (Introductory sooilogy) NXB Khoc học xã hội, H1993.
(4)
Tài liệu đã dẫn
7 Tuy nhiên, tất cả những vấn đề đó đƣợc nghiên cứu tách rời nhau và chủ yếu là mô tả
hiện tƣợng, chƣa đƣợc phân tích hệ thống hoá theo phạm trù lối sống và chƣa thấy những
nghiên cứu riêng về LSSV.

Trong cuốn “The student Pevolution: A Global Analysis” của nhiều tác giả, đƣợc xuất
bản 1970 tại Ấn Độ, đã đề cập đến nhiều vấn đề của sinh viên Thế giới:
- Các tổ chức xã hội, đoàn thể của SV (Hội sinh viên,…)
- Sự tham gia của sinh viên vào các phong trào xã hội chính trị ở các nƣớc.
- Thái độ của sinh viên đối với những sự kiện chính trị, đảng phái, chính sách của
Chính phủ…
- Số lƣợng và cơ cấu sinh viên trong một số nƣớc…
- v.v…

Tuy nhiên, vấn đề đặc điểm LSSV, xu hƣớng diễn biến của nó… không đƣợc đề cập ở
đây.
Nói tóm lại, qua một số ít tài liệu đã biết trong vấn đề lối sống nói chung và LSSV
chƣa thấy đƣợc nghiên cứu hệ thống, cân đối giữa các mặt nhƣ một lĩnh vực, một phạm trù
tƣơng đối độc lập, mà chỉ đƣợc nghiên cứu từng mặt, từng hiện tƣợng rất sâu và rời rạc.
1.2. Ở Liên Xô (cũ) và các nƣớc XHCN trƣớc đây rộ lên những nghiên cứu về lối

- Nhu cầu tinh thần phát triển cao…
- Chủ nghĩa sùng bái tiêu dùng…
- Dân chủ và bình đẳng.
- Dân chủ giả hiệu, bất bình đẳng…
- Chủ nghĩa lạc quan, tin tƣởng,…
- Bế tắc và bi quan, thất vọng
- Sự phát triển cá nhân toàn diện, hài hoà…
- Sự phát triển phiến diện, bệnh hoạn…

Đồng thời tất cả những gì là xấu xa, tiêu cực, tệ nạn xã hội đều đổ tại “tàn dƣ của xã
hội cũ” và “nhiễm phải tuyên truyền phản động của lối sống phƣơng Tây”.
Một thái độ nhƣ vậy bao trùm trong nghiên cứu xã hội học về lối sống đã khiến cho
những kiến giải thiếu khách quan và thƣờng sa vào phê phán các quan điểm, trình bày quan
điểm lí
9

luận chung thiếu phân tích, lí giải đời sống hiện thực.
Ngày nay nghiên cứu khoa học với con mắt thiếu khách quan nhƣ vậy không còn phù
hợp. Cần phải có cách nhìn mới, có phê phán, nhƣng khách quan.
2. Tình hình nghiên cứu trong nƣớc.
2.1. Giai đoạn trƣớc 1986. Thuật ngữ “Lối sống”, “Nếp sống” đƣợc dùng ở văn kiện
Đại hội Đảng CSVN lần thứ IV, thứ V và sau đó thƣờng đƣợc dùng trong các tài liệu chính
thức.
Một số tài liệu về lối sống XHCN của Liên Xô (cũ) đƣợc dịch giới thiệu ở Việt
Nam.
(5)

Một số giáo trình, tài liệu giáo khoa, chuyên khảo đã đƣợc xuất bản.
(5)
Một số bài viết

Phạm Hồng Tín, 1993).
- Ngoài ra còn nhiều cuộc thăm dò, điều tra xã hội học về thanh niên, học sinh, sinh
viên của Ban Khoa giáo TW Đảng, Ban Văn hoá tƣ tƣởng TW Đảng, của các Viện nghiên
cứu, các tổ chức xã hội, đoàn thể,… cũng xoay quanh những vấn đề nhân cách, đạo đức, tƣ
tƣởng, thái độ chính trị, niềm tin.
- Đặc biệt trong chƣơng trình nhà nƣớc về khoa học xã hội nghiên cứu con ngƣời
trong công cuộc đổi mới mang mã số KX07, đã có nhiều đề tài đề cập đến lí luận và khảo sát
thực tế xung quanh vấn đề đạo đức, lối sống của các nhóm xã hội đặc biệt là thế hệ trẻ.
Chƣơng trình này vẫn đang triển khai tiếp tục.
Nói tóm lại từ thời kì đổi mới, khoa học xã hội đã đƣợc chú ý hơn, nhất là những
nghiên cứu về giáo dục, gia đình, về phụ nữ, thanh niên thiếu niên, sinh viên,…
Những nghiên cứu không chỉ đề cập đến những mặt tốt, mặt tích cực mà còn nhấn
mạnh những mặt yếu kém, mặt tiêu cực, các tệ nạn xã hội diễn ra trong xã hội ta, trong các
11

tầng lớp, nhất là trong sinh viên, học sinh.
Cùng với những kết quả nghiên cứu khoa học, các báo chí, phim ảnh, các phƣơng tiện
thông tin đại chúng thƣờng xuyên đăng tải, truyền đi các hiện tƣợng xã hội cả tốt và xấu (có
khi cái xấu lại đƣợc chú ý hơn vì giật gân).
Tất cả tình hình trên đã đƣa ra một bức tranh sinh động nhƣng hết sức phức tạp về bộ
mặt đạo đức, lối sống, nếp sống của xã hội.
Do đó rất cần những công trình nghiên cứu khách quan, hệ thống hoá, khái quát
những sự kiện, những dƣ luận xã hội tản mạn về lối sống, nếp sống trong xã hội ta hiện nay
và đƣa ra những định hƣớng giáo dục cần thiết.
Đề tài nghiên cứu những đặc điểm LSSV là một trong những cố gắng theo hƣớng đó. 12

II. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

đại - Tham luận trình bày tại hội nghị “Lối sống” ở Long An tháng 8-1984.
13

hình thái kinh tế xã hội. Một số công trình nghiên cứu “lối sống” của Liên Xô đã đặt vấn đề
định nghĩa “lối sống” khi bàn về nội hàm và cơ cấu của phạm trù này họ đã hƣớng tới ba cách
tiếp cận, có thể tạm gọi là ba nhóm định nghĩa nhƣ sau:
Nhóm thứ nhất định nghĩa lối sống bằng cách liệt kê càng nhiều càng tốt cả mọi hoàn
cảnh có liên quan đến cuộc sống của con ngƣời và của toàn xã hội. Do đó lối sống đƣợc kiến
giải nhƣ một phạm trù xã hội học bao hàm cả các điều kiện sống, các hình thức hoạt động
sống của con ngƣời, các quan hệ xã hội, sinh hoạt, các hình thức thoả mãn nhu cầu, thế giới
quan… Cách định nghĩa này bị nhiều ý kiến phê phán vì sự mở quá rộng khái niệm lối sống,
làm cho lối sống mất nội hàm riêng và đặc trƣng của nó.
Nhóm thứ hai có hai xu hƣớng định nghĩa: Một, cho rằng lối sống là phạm trù nói lên
các nhu cầu của con ngƣời, những cách thức thoả mãn những nhu cầu đó, nói lên khuynh
hƣớng muốn giải thích lối sống nhƣ là một khái niệm chung nhất, một cái gì ngang hàng với
“vật chất xã hội” thay thế cho tất cả những khái niệm khác. Việc khắc phục các khuynh
hƣớng sai lầm này đòi hỏi phải xác định một cách chính xác hơn vị trí của khái niệm “lối
sống” trong hệ thống những khái niệm triết học và phạm trù xã hội học.
(8)

Xu hƣớng khác, cho rằng lối sống là phạm trù chỉ nếp nghĩ và nếp hành vi, nếp sống
nội tâm của con ngƣời. Theo A.F.Buchen-cô, cả hai xu hƣớng định nghĩa trên không dựa vào
những hoàn cảnh bên ngoài mà dựa vào các điều kiện bên trong, vốn có của chủ thể (nhu cầu,
nếp nghĩ).
Nhƣ vậy, ngƣời ta sẽ loại trừ hình thức hoạt động sống quan trọng nhất của con ngƣời
là lao động ra khỏi lối sống và cả hoạt động chính trị - xã hội cũng nằm ngoài lối sống. (8)
Kejzerov N.M. vấn đề lối sống trong những chiến dịch tuyên truyền tƣ sản hiện nay. Trong “Proolemy,

(10)
Tƣ duy toàn cầu – hành động tại địa phƣơng. Trong hỗ trợ trẻ em nghèo khổ; 1/1994, Duisburg.
15

thƣờng ngày trong những mối qua hệ qua lại của mọi ngƣời và trong đời sống cá nhân”
(11)

V. Đô-bơ-ri-a-nếp quan niệm “lối sống là sinh hoạt cá nhân, chủ quan hoá của hệ
thống những quan hệ xã hội, của toàn bộ tổng thể những điều kiện sống, thể hiện trong hoạt
động của con ngƣời”.
(12)

Dựa vào mối quan hệ tƣơng tác giữa các điều kiện và các mặt của thực tiễn sinh sống
cá nhân, H.D.Schmidt đƣa ra một sơ đồ phân tích đƣợc trình bày cụ thể ở bảng 1.
(13)Phạm vi quan hệ
Xác định đặc điểm nội dung
Cơ thể của bản thân
Cách thức ăn uống
Cách thức vận động
Sự chăm sóc cơ thể và văn hoá thể chất
Sản xuất
Phƣơng thức lao động
Phƣơng thức nâng cao trình độ
Nội trợ
Văn hoá mua sắm
Sử dụng ngân sách
Gia đình

Theo một quan niệm chung, lối sống đƣợc đặc trƣng bởi:
- Toàn bộ các hình thức (phƣơng thức) khách quan của hoạt động sinh sống của con
ngƣời.
- Những cách thức phản ánh, nhận thức các hình thức đó thông qua quan hệ của chủ
thể đối với chúng.
Trong cuộc sống thƣờng ngày, lao động là một hoạt động và cũng là giá trị có ý nghĩa
hơn cả. Dựa trên những phân tích sâu sắc trong “Hệ tƣ tƣởng Đức” của Marx và Engels,
Lucien Seve đi sâu phân định nhân cách, lối sống cá nhân gắn với nhu cầu, tính tích cực dựa
vào kế hoạch thời gian thực tế, đƣợc chia thành 4 khu vực.
I. Hoạt động cụ thể bao gồm những hành động tạo năng lực, khả năng cho cá nhân: II.
Hoạt động cụ thể bao gồm những hành động tạo sản phẩm; III. Hoạt động trừu tƣợng (14)
F.Pataki: Kollektivíinns es szocialista eletmod Budapest 1976.

17

bao gồm những hnh động tạo năng lực, khả năng cho cá nhân; IV. Hoạt động trừu tƣợng bao
gồm những hành động tạo sản phẩm, nghĩa là tạo ra lao động xã hội một cách trực tiếp
(15)
.
Đó là những ví dụ mang tính giả thiết.
Nhìn vào đó, ta có thể thấy kế hoạch thời gian của một ngƣời sinh viên chẳng hạn sẽ
đƣợc miêu tả trong hoạt động nhƣ sau:

Hoạt động cụ thể Hoạt động trừu tƣợng
Tạo ra sản phẩm
cho xã hội


các quan hệ giao tiếp xã hội và trong đời sống cá nhân.
Chúng tôi xác định nghiên cứu lối sống SV cần tiếp cận theo quan điểm phức hợp, ít
nhất ở cả 3 góc độ: Xã hội học - tâm lý học - giáo dục học. Nghĩa là cần trắc đạc, thống kê,
khái quát đƣợc những đặc điểm LSSV, phân tích sâu hơn về tính đặc thù tâm lý sinh viên
trong lối sống và đề xuất những phƣơng pháp, biện pháp giáo dục LSSV.
1.2. Khái niệm nếp sống
(*)Đó là thuật ngữ đƣợc dùng thông dụng ở Việt Nam theo thói quen của ngôn ngữ Việt
Nam ngay cả trên sách báo cũng (16)
Bàn về lối sống, nếp sống XHCN, NXB văn hoá, tháng 4/1985, tr.17
(*)
Theo Phạm Hồng Tín: “những biểu hiện của LSSV,…” tiểu luận tốt nghiệp cao học - 1993.
19

đều dùng hai thuật ngữ: Lối sống và nếp sống; nó không hoàn toàn là một nhƣng cũng không
thể nói lên 2 phạm trù khác nhau.
Có thể nói lối sống và nếp sống là hai thuật ngữ mới trong tiếng Việt, sách cổ, sách
chữ Hán, chữ Nôm, hiếm thấy xuất hiện. Trong thời kỳ cận đại và hiện đại, nhất là sau cách
mạng tháng 8 đã bắt đầu hình thành khái niệm về cách thức, lề lối, nề nếp của con ngƣời
trong cuộc sống. các khái niệm này có thể mƣợn dịch, hoặc phỏng theo từ nƣớc ngoài. Thuật
ngữ về khái niệm này trong các tiếng Anh, Pháp, Đức, Nga, Trung Quốc đƣợc viết: “Mode de
vie”, “Way of life”, “Obraz jiznhi”, “Lebens Weise”, “sinh hoạt phƣơng thức”… Các từ điển
không có sự phân biệt rõ ràng về lối sống, nếp sống, thí dụ từ điển tiếng Việt – NXB KHXH
1988 chỉ đề cập tới ý nghĩa của lối và nếp(ở nghĩa 2) nhƣ:
Lối: Hình thức diễn ra của hoạt động đã trở thành ổn định mang đặc điểm riêng…

Còn
A.P.Buchenkô cho rằng: nếp sống không phải là một phần mà là một trong những hình thức
biểu hiện của lối sống”. Có thể thấy 3 nhóm ý kiến khác nhau trong sự hiểu lối sống và nếp
sống:
- Nếp sống đồng nghĩa với lối sống.
- Nếp sống có ý nghĩa hẹp hơn lối sống.
- Nếp sống và lối sống có những mặt khác nhau.
Theo Mạc Văn Trang thì: “…Nếp sống là mặt ổn định của lối sống, là những đặc
điểm biểu hiện của lối sống đã đƣợc định hình thành nếp sống, thói quen của cá nhân (thành
phong tục, tập quán truyền thống) lối sống mới đƣợc nẩy sinh hình thành phát triển, và đến
một mức độ đƣợc củng cố định hình mới thành nếp sống, lối sống và nếp sống không tách rời
nhau”.
(20)
(18)
Báo cáo chính trị Đại hội IV, NXBST - tr.125
(19)
Thông tin XHKH số 5/83, tr. 138
(20)
Mạc Văn Trang, giáo dục lối sống cho H/S HN - kết quả NCKH DN - 86 - 90 trang 171
21

Nhƣ vậy, nếp sống là những phƣơng thức hoạt động, hành vi ứng xử của con ngƣời đã
đƣợc lặp đi, lặp lại thành nếp, thành thói quen, phong tục đƣợc xã hội công nhận. Việc thay
dổi một nếp sống là rất khó khăn không thể đơn giản làm ngay một lúc. Việc sử dụng hai
thuật ngữ lối sống và nếp sống dựa theo nguyên tắc bám sát tính chất khác nhau của khái
niệm: “Lối sống nói lên tính định hƣớng, định tính chỉ ra phƣơng hƣớng chính trị và tƣ tƣởng
của vấn đề, còn nếp sống nói lên định hình và định lƣợng”.

thể ngang nhau nhƣng lối sống có thể khác nhau “Mức sống” có quan hệ trực tiếp đến lối
sống là điều kiện quan trọng nhất cho hoạt động sống của con ngƣời. Nó cho phép con ngƣời
có thể phát triển và áp dụng năng lực của mình, thoả mãn nhu cầu của mình nhƣ thế nào và
đến mức nào. Nhƣng mức sống chỉ chủ yếu nói lên khía cạnh số lƣợng của đời sống, khía
cạnh kinh tế, phúc lợi của con ngƣời. Tiêu chuẩn của mức sống là: ăn, mặc, ở, đi lại học tập,
sinh hoạt văn hoá, bảo vệ sức khoẻ, bảo hiễm xã hội…
“…Mức sống không trực tiếp quy thành lối sống mà nó còn phụ thuộc vào những điều
kiện xã hội - chính trị và bản chất của xã hội. Vì sự dồi dào của mức sống có thể là phƣơng
tiện làm cho con ngƣời phát triển tốt hơn, cũng có thể biến con ngƣời trở thành nô lệ của vật
chất và lối sống tiêu dùng…”
(23)
.
1.4. Khái niệm lẽ sống:
Theo từ điển tiếng Việt - NXBKHXH (1988 - trang 582) định nghĩa về “lẽ” - "lẽ là
điều thƣờng thấy ở đời đƣợc (22)
Sau tập chuyên đề lối sống XHCN - Viện thông tin KHXH, UB-KHXH Việt Nam Hà Nội 1978, trang 3.
(23)
Mạc Văn Trang, Giáo dục lối sống cho h/s học nghề - 1986 - 90, trang 170.
23

coi là hợp lý với quy luật đạo lý; điều đƣợc coi là lý do giải thích là nguyên nhân của sự việc:
Lẽ sống…”. Điều này chƣa giải thích đƣợc gì về lẽ sống - nó chỉ là sự minh hoạ cho định
nghĩa về “lẽ” mà thôi. Lẽ sống cần phải đặt trong hệ thống nghiên cứu của lối sống, nếp sống,
mức sống để thấy thuật ngữ này có vai trò gì? và nhƣ thế lẽ sống đã có nội dung của nó.
Chúng ta có thể thống nhất rằng: Lẽ sống là mặt ý thức của lối sống. Nó đề cập tới mục đích,
ý nghĩa lý tƣởng của cuộc sống, là lý chí, khát vọng của con ngƣời, cũng không hẳn là bản
thân hoạt động sống của con ngƣời. Nó giải đáp câu hỏi sống để làm gì? Nó phản ánh tính

+ Giáo dục tốt
+ Chuẩn cao về sức khoẻ và dinh dƣỡng
+ Ít nghèo khổ
+ Môi trƣờng trong sạch
+ Bình đẳng hơn về cơ hội
+ Cá nhân tự do hơn
+ Cuộc sống văn hoá phong phú hơn.
(25)

Tóm lại, các khái niệm trên đây đƣợc tìm hiểu, xác định nhƣ những công cụ để triển
khai nghiên cứu theo mục đích, nhiệm vụ của đề tài này, chứ không nhằm phê phán đóng góp
về mặt lý luận việc nghiên cứu lối sống nói chung. (24)
Nguyễn Minh Đức: Vấn đề dân số trong chiến lƣợc phát triển giáo dục - T/c NCGD - 12/86 - trang 6
(25)
Phạm Minh Hạc: vấn đề con ngƣời trong công cuộc đổi mới, 4/1994


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status