Khảo sát sự có mặt của các biệt dược kháng sinh tại thị trường việt nam tính đến tháng 12 2005 - Pdf 30

BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DUỢC HÀ NỘI
MA THỊ BÍCH HUỆ
KHẢO SÁT Sự CÓ MẬT CỦA CÁC BIỆT Dược
KHÁNG SINH TẠI THỊ TRƯỜNG VIỆT NAM
TÍNH ĐẾN THÁNG 12/2005
(KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP Dược s ĩ ĐẠI HỌC KHÓA 2001 - 2006 )
Người hướng dẫn : ThS. Nguyễn Thị Thanh Hương
Nơi thực hiện : Cục Quản lý Dược- Bộ Y tê
Bộ môn Quản lý kinh tế Dược
(Trường ĐH Dược HN)
Thời gian thực hiện : 12/2005 - 05/2006
LỜI CẢM ƠN
Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, em xỉn chán thành cảm
ơn ThS. Nguyễn Thị Thanh Hương, người đã trực tiếp hướng dẫn em
hoàn thành khoá luận tốt nghiệp này.
Em cũng xin chân thành cảm ơn các thầy giáo, cô giáo bộ môn
Quản lý kinh tê Dược- trường Đại học Dược Hà Nội, Cục Quản lý
Dược- Bộ Y tế đã tận tình giúp đỡ và tạo mọi điều kiện đ ể em thực
hiện khoá luận.
Nhân dịp này em cũng xin được bày tỏ lòng biết ơn gia đình, các
thầy cô giáo, các bạn sinh viên Trường Đại Học Dược Hà Nội, những
người đã giúp đỡ, động viên em trong suất quá trình học tập và hoàn
thành khoá luận tốt nghiệp này.
Hà nội, ngày 19 tháng 5 năm 2006
Sinh viên: Ma Thi Bích Huê
MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Phần 1
TỔNG QUAN 3
1. Đại cương về kháng sinh

3.2. Tổng sô SDK thuốc KS trong nước và thuốc KS nước ngoài lưu
hành tại thị trường Việt Nam qua các năm 21
3.3. Danh sách một sô cơ sở sản xuất trong nước có sô lượng thuốc
KS được đăng kí nhiều năm 2005 23
3.4. Tiêu chuẩn chất lượng của thuốc KS trong nước được đăng
kí 24
3.5. Một số nhóm thuốc KS có nhiều SDK tính từ năm 2001 đến năm
2005 27
3.6. Một số hoạt chất có SDK lớ n 29
3.7. Một số quốc gia có nhiều thuốc KS được cấp SDK từ năm 2001
đến năm 2005 30
3.8. Sô lượng hoạt chất KS đăng kí kưu hành qua các n ăm

32
3.9. Giá của KS nước ngoài và KS trong nước 34
Phần 4
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 46
TÀI LIỆU THAM KHẢO 47
CÁC CHỮ VIẾT TẮT
KS : Kháng sinh
SDK : Số đăng kí
DN : Doanh nghiệp
VND : Việt Nam đồng
TCCL : Tiêu chuẩn chất lượng
TCCS : Tiêu chuẩn cơ sở
DĐVN : Dược điển Việt Nam
DĐTQ : Dược điển Trung Quốc
TCN : Tiêu chuẩn ngành
BD KS : Biệt dược kháng sinh
USP : Dược điển Mỹ

21
Bảng 3.11. Các cơ sở sản xuất trong nước có số lượng SDK thuốc kháng sinh
được đăng kí nhiều năm 2005 23
Bảng 3.12. Tiêu chuẩn chất lượng của các thuốc kháng sinh trong nước được
đăng kí 24
Bảng 3.13. Một số nhóm thuốc kháng sinh có nhiều SDK từ 2001 đến
2 0 05 27
Bảng 3.14. Các hoạt chất có SDK lớn

29
Bảng 3.15. Các quốc gia có nhiều SDK thuốc kháng sinh ở Việt Nam

30
Bảng 3.16. Số lượng hoạt chất kháng sinh được đăng kí lưu hành qua các
năm.
32
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.17. So sánh giá các biệt dược cùng hoạt chất Ceftriaxone (lg, dạng bột
pha tiêm) 35
Bảng 3.18. So sánh giá các biệt dược cùng hoạt chất Ciprofloxacin (500mg, viên
nang) 37
Bảng 3.19. So sánh giá các biệt dược cùng hoạt chất Cefoperazone (lg, dạng
tiêm) 38
Bảng 3.20. So sánh giá các biệt dược cùng hoạt chất Cefaclor (250mg, viên
nang) 39
Bảng 3.21. So sánh giá các biệt dược cùng hoạt chất Cefuroxime (500mg, viên
nén) 41

nang) 40
Hình 3.14. So sánh giá các biệt dược cùng hoạt chất Cefuroxime (500mg, viên
nén) 41
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 3.15. So sánh giá các biệt dược cùng hoạt chất Amoxicillin (500mg, viên
nén) 42
DAT VẤN Dầ
Cùng với sự phát triển như vũ bão của nền kinh tế thị trường, hoạt
động của ngành Dược cũng diễn ra hết sức sôi động và phát triển mạnh
trong những năm gần đây.
Do đất nước ta là một đất nước đang phát triển, mô hình bệnh chủ
yếu là các bệnh nhiễm khuẩn nên vấn đề thuốc kháng sinh luôn được chú
trọng, đầu tư và phát triển, đồng thời cũng là một vấn đề hết sức nóng
bỏng.
Trong nhiều năm trở lại đây, ngành công nghiệp sản xuất kháng
sinh phát triển mạnh đã cho ra đời nhiều loại kháng sinh mới, mặt
khác công tác nhập khẩu cũng được thuận lợi hơn. Chính vì vậy số
lượng kháng sinh tăng lên đáng kể và chủng loại ngày càng phong phú.
Mạng lưới cung ứng thuốc phát triển mạnh mẽ nên thuốc kháng sinh
được cung ứng sâu rộng đến mọi tầng lớp nhân dân, đáp ứng kịp thời
nhu cầu phòng và chữa bệnh của người dân.
Các công ty Dược phẩm trong và ngoài nước với các hoạt động của
mình cũng góp phần làm cho thị trường thuốc kháng sinh ngày càng sôi
động và phong phú.
Tuy nhiên chúng ta cũng cần phải quan tâm tới mặt trái của nó đó
là tình trạng lạm dụng thuốc kháng sinh trong phòng và chữa bệnh có xu
hướng ngày càng gia tăng ở Việt Nam trong những năm gần đây.
Để góp phần có cái nhìn tổng quát về thị trường thuốc kháng sinh hiện nay,
chúng tôi tiến hành đề tài “ Khảo sát sự có mặt của các biệt dược kháng sinh tại
thị trường Việt Nam tính đến tháng 12/2005” với các mục tiêu:

+ Phân nhóm Cephalosporin: Cefalexin, Cefotaxime,
Cefuroxime
• Nhóm Aminosid:
+ Dẫn chất Streptidin: Streptomycin, Dihydrostreptomycin
4- Dẫnchất thế 4,6 của Deoxy-2-Streptamin : Kanamycin,
Gentamicin
+ Dẫn chất 4,5 của Deoxy-2-Streptamin: Neomycin,
Paromycin
+ Dẫn chất Streptamin: Spectinomicin.
• Nhóm Phenicol: Chloramphenicol, Thiammphenicol.
• Nhóm Tetracyclỉn: Tetracyclin, Oxytetracyclin
• Nhóm Macrolid: Erythromycin, spiramycin
• Nhóm Lincosamid: Lincomycin, Clindamycin.
• Nhóm Quỉnolon: Acid Nalidixic, Ciprofloxacin, Ofloxacin
• Nhóm Sulfamid: Sulfamethoxazol, Sulfadiazin
• Nhóm Imidazol: Metronidazol
• Nhóm Rifampicin: Rifampicin.
1.2. TÌNH HÌNH s ử DỤNG KHÁNG SINH
Theo số liệu điều tra của Ngân hàng thế giới (World Bank) và trường đại
học Oxford (Mỹ) thì trên thế giới có 2 loại mô hình bệnh tật:
- Mô hình bệnh tật của các nước phát triển
- Mô hình bệnh tật của các nước đang phát triển
Việt Nam là một quốc gia nhiệt đới đang phát triển với khoảng 83 triệu
dân nên có mô hình bệnh tật rất đặc thù của quốc gia nhiệt đới đang phát triển.
4
Bảng 1.1. Mô hình bệnh chung ở Việt Nam từ năm 1986-2000
Đơn vị tính: Tỷ lệ %
Chương bệnh
1986 1995 1999
2000

mác
Tên bệnh Sô lần
mắc
Tên bệnh
Sô lần
mác
1 lả chảy, viêm ruột
do nhiễm khuẩn
353,04 Các bệnh viêm
phổi
426,60 Các bệnh viêm

phổi
354,14
2 Viêm phế quản cấp
138,66 Viêm họng,
amidan
291,44
Suy tim 298,40
3 Viêm phổi
109,92 Viêm phế quản và
tiểu phế quản cấp
250,29
Viêm họng,
amidan
293,47
4
Tai nạn giao thông 102,40
ỉa chảy, viêm ruột
do nhiễm khuẩn

103,24 Tăng huyết áp
nguyên phát
119,06
9
Loét dạ dày- tá
tràng
37,44 Tai nạn giao
thông
90,86 Xảy thai do can
thiệp y tế
115,06
10
Viêm loét cổ tử
cung
35,30
Lao bộ máy hô
hấp
97,92
Viêm dạ dày và tá
tràng
99,24
Nguồn: Niên giám thống kê Y học năm 1994, 1999,2000
6
thiếu được. Hàng năm có xấp xỉ 100 tấn kháng sinh được nhập vào Việt Nam.
Theo thống kê của Bộ Y tế, chi phí cho kháng sinh chiếm khoảng 40- 50%
tổng chi phí thuốc. [ 10]
Trong những năm qua cùng với công cuộc đổi mới và mở cửa nền kinh
tế, thị trường thuốc ngày càng đa dạng, phong phú. Đáp ứng ngày càng tốt hơn
nhu cầu điều trị và chăm sóc sức khoẻ. Thuốc kháng sinh được nhập khẩu
hoặc sản xuất trong nước và đưa ra thị trường gồm rất nhiều loại, từ những

Thống kê cho thấy 80% bệnh nhân nội trú và 60% bệnh nhân ngoại trú
dùng kháng sinh, 30% sử dụng không đúng liều. [12]
Kháng sinh hiện nay mua dễ dàng người bệnh tự mua kháng sinh để điều
trị mặc dù chưa đủ kiến thức để sử dụng đúng loại, đúng thuốc, đúng thời gian
dẫn đến sự kháng thuốc của vi khuẩn.
Tại Hà Nội trong một cuộc điều tra khi được hỏi: ’Theo ông bà kháng sinh
được dùng để chữa bệnh gì”? Có 34,5% số người dược hỏi trả lời để chữa bệnh
nhiễm trùng; 20% cho biết họ không biết kháng sinh dùng để chữa bệnh gì; 9,8%
trả lời để chữa bệnh ho; 2,4% chữa ỉa chảy; 8,4% để chữa sốt; 19% chữa đau họng
[19].
Trong những năm qua, một số giải pháp nhằm đưa ra việc sử dụng
kháng sinh hợp lý đã được tiến hành. Nhiều Hội đồng thuốc và điều trị ở các
bệnh viện đã hoạt động có hiệu quả, đưa ra các nguyên tắc lựa chọn đánh giá
thuốc để điều trị, đã ban hành 119 hướng dẫn điều trị bằng kháng sinh, quy
định chỉ các xí nghiệp đạt GMP mới được phép sản xuất thuốc kháng sinh
nhóm |3- Lactam để tránh ô nhiễm chéo. Các trung tâm thông tin thuốc, trung
tâm ADR tích cực tập huấn, in ấn bản tin gửi tới các cơ sở điều trị. Việc giáo
dục truyền thông về sử dụng thuốc hợp lý an toàn được đẩy mạnh Tuy vậy
8
những thành tích đạt được vẫn còn thấp, không như mong muốn. Nguyên nhân
của sử dụng kháng sinh chưa hợp lý:
- Thiếu thông tin thuốc: Hiện nay mạng lưới thông tin thuốc của Việt
Nam chưa hoàn chỉnh từ TW đến cơ sở, do đó thông tin về thuốc chưa đầy đủ,
chính xác, trung thực và phi thương mại. Chỉ có thông tin thương mại từ các
hãng. Bộ Y tế thí điểm thông tin thuốc tại 10 bệnh viện, nhưng thực tế làm tốt
thông tin thuốc và thực hành Dược lâm sàng hiện nay còn là một thách thức
mới đối với khu vực bệnh viện. Phần lớn dược sỹ đại học tại bệnh viện chưa
làm được nhiệm vụ thông tin thuốc và thực hành dược lâm sàng
- Bác sỹ thiếu kiến thức về Dược động học, Dược lý lâm sàng, Dược lâm
sàng do đó sử dụng thuốc chưa hợp lý.

PGS.TS Nguyễn Đức Hiền, TS Phạm Văn Ca và cs thì: 12.381 chủng vi khuẩn
phân lập từ các bệnh phẩm lâm sàng được thử nghiệm độ nhạy cảm với kháng
sinh tại 7 địa điểm đại diện 3 khu vực Bắc Trung Nam Việt Nam, kết quả cho
thấy 4 loại vi khuẩn gây bệnh hay gặp nhất là: Pseudomonas aeruginosa 22,3%;
Klebsiella spp 21,8%; E. coli 21,1%; Staphylococcus aureus 16,0%.Trong đó
Pseudomonas aeruginosa, Klebsiella spp, E.coli thuộc nhóm vi khuẩn Gr(-). Trực
khuẩn Gr(-) được biết đến như các tác nhân chính gây nhiễm khuẩn bệnh viện.
Tình hình kháng thuốc của Pseudomonas aeruginosa, Klebseilla
spp, E. coli như bảng 1.3.
10
Bảng 1.3. Tỷ lệ kháng thuốc của một sô trực khuẩn Gr(-).
stt
Kháng sinh
Mức độ đề kháng %
P. aeruginosa
Klebsiella spp E.coli
1
Amikacin
41,4
13,9
8,4
2
Ampicillin
-
45,8
90,0
3 Amoxicillin
- -
28,9
4

45,7 18,2
56,8
12
Imipenem
12,5
0,1
0,4
13
Levofloxacin
53,8 10,8
61,8
14
Nalidixic acid
-
35,5
61,2
15
Netilmycin 43,9
12,4
9,7
16
Nafloxacin
- -
41,3
17 Ofloxacin
45,4 33,5
51,7
18
Piperacillin/Tazobactam 35,7
11,1

7
Erythromycin 68,3
8 Imipenem
23,6
9
Netilmicin
1,0
10
Oxacillin 47,2
11 Ofloxacin
50,8
12
Piperacillin/ tazobactam
85,5
13
Ticarcillin 59,2
14
Tobramycin 53,7
15
Co- trimoxazol
26,5
16 Vancomycin
1,5
Ngày càng có nhiều bệnh nhân không còn đáp ứng với các kháng sinh
phải chết do không còn kháng sinh nào có hiệu lực. Các nhà y học và các nhà
sản xuất Dược phẩm đang lo ngại về cuộc đời của các kháng sinh mới được
nghiên cứu thành công và tung ra thị trường ngày càng rút ngắn. Chính con
người bằng những sai lầm của mình đang tạo điều kiện cho vi khuẩn rèn luyện
khả năng thích nghi của chúng. [4]
12

5
Ceftazidime 75,0 5,3
- 0 ,0 41,5
-
6
Ceftriaxone 60,0
5,1
75,5
0 ,0
41,3
-
7
Cefuroxime axetil 50,0 16,6
- - 57,2
-
8
Chloramphenicol 7 3,2 59,5
66,7 80,3 60,2
31,9
9
Ciprofloxacin 17,4 24,5
30,0
0,0 35,1
-
10
Imipenem
-
0,0
-
-

hợp thầy thuốc đã phải đối mặt với những thất bại chưa hề gặp phải trong
những năm trước đây. [7]
Tỷ lệ vi khuẩn có khả năng đề kháng với thuốc kháng sinh ngày càng
tăng nhanh và các chuyên gia trong lĩnh vực này đã cảnh báo rằng trong
những năm tới tốc độ gia tăng của các chủng vi khuẩn kháng thuốc không hề
giảm, chưa kể tới khả năng còn có thể có sự tăng tốc trong tương lai không xa.
Viễn cảnh sẽ là những vũ khí chúng ta có trong tay mất dần hiệu lực. Và trong
cuộc chiến đấu dai dẳng suốt nửa thế kỷ qua với các bệnh nhiễm khuẩn, con
13
cuộc chiến đấu dai dẳng suốt nửa thế kỷ qua với các bệnh nhiễm khuẩn, con
người rốt cuộc sẽ có thể trở thành kẻ chiến bại nếu chúng ta không có thêm các
vũ khí mới hay không có một chiến lược thích hợp để sử dụng các vũ khí có
trong tay một cách hữu hiệu.[7]
Hiện nay vi khuẩn có khả năng kháng lại nhiều thuốc kháng sinh cùng
một lúc (thường gọi là đa đề kháng) đã xuất hiện ngày càng nhiều hơn không
chỉ trong nhiễm khuẩn bệnh viện mà ngay cả trong nhiễm khuẩn cộng đồng.
Việc chữa trị trong các trường hợp nhiễm khuẩn bởi các vi khuẩn đa kháng
đương nhiên tốn kém và khó khăn hơn nhiều. [7]
Tổ chức Y tế thế giới đã cảnh báo: 17 tỷ đô la chi tiêu trong 5 năm qua
do nghiên cứu và triển khai thuốc mới chống các bệnh nhiễm khuẩn có thể bị
mất nếu không nhanh chóng có hành động để ngăn chặn mối đe dọa của tình
hình kháng thuốc ngày càng tăng. Vấn đề kháng thuốc là hiển nhiên ở các
nước giàu và nghèo, bắt nguồn từ việc sử dụng thuốc bừa bãi quá mức ở nhiều
nước công nghiệp và sử dụng dưới mức ở các nước nghèo. Đó là lời phát biểu
của tiến sĩ David Heymann- Giám đốc điều hành của WHO về các bệnh lây
truyền. WHO cho biết tình hình kháng thuốc đang tăng nhanh và ngày càng
có nhiều thuốc tuyến đầu trở nên không còn có hiệu lực, đặc biệt là các thuốc
chữa viêm màng não, các bệnh lây truyền đường tình dục như lậu, các nhiễm
khuẩn mắc tại bện viện và thuốc kháng retrovirus. Ở các nước chủng lao đã
kháng không ít nhất là 2 trong số thuốc hiệu lực nhất và ở nhiều nơi các thuốc

15
Bảngl.6. Tổng giá trị thuốc kháng sinh từ năm 1995 đến năm 1998
Đơn vị tính: 1000 USD
Năm
Tổng trị giá thuốc nhập khẩu
Tổng trị giá thuốc KS Tỷ trọng %
1995 280.052 66.932,43 23,9
1996 349.409
110.063,8
31,5
1997
387.096 105.290,1
27,2
1998
415.727 106.010,4
25,5
Theo báo cáo của 822 bệnh viện với 121.023 giường bệnh, tình hình sử
dụng thuốc trong ba năm 1998, 1999, 2000 như sau Ị15 ị.
Bảng 1.7. Tiền thuốc kháng sinh từ năm 1998 đến năm 2000
TT Nội dung
Năm 1998 Năm 1999 Năm 2000
Tổng tiền thuốc
Trong đó
634 429 569 74 615 445
903 218 283
-Tiền thuốc sx trong nước
131 941 100 151 453 856
179 219 333
1
Tỷ lệ %

Như vậy, tiền thuốc kháng sinh có chiều hướng giảm nhưng giảm không
đáng kể, dao động 22- 23% tổng tiền thuốc, điều này chứng tỏ bệnh nhiễm
khuẩn vẫn đang còn là vấn đề cần quan tâm trong điều trị [15]. Vấn đề bất cập
16


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status