BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP & PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
= = = = = = = = VŨ DUY NINH QUẢN LÝ QUY TRÌNH THU THUẾ ĐỐI VỚI
CÁC DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI
TẠI TỈNH HẢI DƯƠNG
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN TRỊ KINH DOANH
MÃ SỐ: 60.34.01.02
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. NGUYỄN THỊ TÂM
HÀ NỘI, NĂM 2014
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
nghiệp đã giúp đỡ tôi hoàn thành tốt đề tài.
Hải Dương, ngày 05 tháng10 năm 2014
Tác giả Vũ Duy Ninh
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page iii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC BẢNG BIỂU vi
DANH MỤC HÌNH VÀ SƠ ĐỒ vii
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT viii
1. MỞ ĐẦU 1
1.1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI 1
1.2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU: 2
1.2.1. Mục tiêu chung 2
1.2.2. Mục tiêu cụ thể 3
1.3. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU. 3
1.3.1. Đối tượng nghiên cứu. 3
1.3.2. Phạm vi nghiên cứu. 3
2. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ QUI
TRÌNH THU THUẾ VỚI CÁC DOANH NGHIỆP CÓ VỐN
4.1.1 Khái quát hoạt động của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
tại tỉnh Hải Dương 53
4.1.2. Tình hình thu thuế đối với DN có vốn ĐTNN 54
4.1.3. Tổ chức bộ máy quản lý thu thuế đối với DN có vốn ĐTNN tại Cục
thuế tỉnh Hải Dương 56
4.1.4. Quy trình quản lý thu thuế đối với DN có vốn ĐTNN 60
4.1.5. Đánh giá sự tuân thủ thuế của DN có vốn ĐTNN trên địa bàn tỉnh Hải
Dương 77
4.1.6. Đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý thu thuế DN có vốn
ĐTNN trên địa bàn tỉnh Hải Dương 85
4.1.7. Đánh giá chung về quản lý thu thuế đối với DN có vốn ĐTNN trên
địa bàn tỉnh Hải Dương 91
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page v
4.2. ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ QUY TRÌNH THU
THUẾ ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC
NGOÀI TẠI TỈNH HẢI DƯƠNG 98
4.2.1. Định hướng, mục tiêu hoàn thiện công tác quản lý thuế đối với các
doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại tỉnh Hải Dương 98
4.2.2. Một số giải pháp chủ yếu hoàn thiện công tác quản lý quy trình thu
thuế đối với các DN có vốn ĐTNN tại tỉnh Hải Dương 100
5. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 116
5.1. KẾT LUẬN 116
5.2. KIẾN NGHỊ 117
5.2.1. Kiến nghị với Nhà nước 117
5.2.2 Đối với Tổng Cục thuế 117
TÀI LIỆU THAM KHẢO 119
PHỤ LỤC
tỉnh Hải Dương 65
Bảng 4.7. Số lượng khai thuế của DN có vốn ĐTNN 66
Bảng 4.8. Kết quả hoàn thuế đối với DN có vốn ĐTNN trong 3 năm 67
Biểu 4.9. Tổng hợp nợ thuế của DN có vốn ĐTNN tại Hải Dương 69
Bảng 4.10. Tổng hợp tình hình kiểm tra quyết toán thuế 73
Bảng 4.11. Kết quả kiểm tra truy thu thuế 74
Bảng 4.12. Truy thu thuế hàng năm qua hoạt động thanh tra DN có vốn ĐTNN 74
Bảng 1.13 : Các chỉ số đặc trưng cho các cấp độ tuân thủ thuế của DN có
vốn ĐTNN 77
Bảng 4.14. Tỷ lệ DN ở từng cấp độ tuân thủ thuộc các nhóm doanh nghiệp
có nhận thức khác nhau về thuế 80
Bảng 4.15. Tỷ lệ DN ở từng cấp độ tuân thủ thuộc các nhóm doanh nghiệp
có thời gian hoạt động khác nhau 81
Bảng 4.16. Chi phí cho tuân thủ thuế thuộc các nhóm doanh nghiệp có đặc
điểm hoạt động khác nhau 82
Bảng 4.17. Tỷ lệ DN theo cấp độ tuân thủ ở các nhóm doanh nghiệp bị ảnh
hưởng khác nhau bởi các yếu tố tâm lý 84
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page vii
DANH MỤC HÌNH VÀ SƠ ĐỒ
Biểu đồ 2.1: So sánh chủ yếu cải cách của cơ quan thuế 3144
Biểu đồ 3.1: Tăng trưởng số thu NSNN qua các năm 44
Biểu đồ 4.1. Tỷ trọng số thu từ DN có vốn ĐTNN tại Hải Dương 56
Sơ đồ 4.1. Về tổ chức bộ máy quản lý quy trình thu thuế đối với DN nước ngoài 56
Sơ đồ 4.2. Quy trình quản lý thu thuế đối với các DN có vốn ĐTNN. 61
Sơ đồ 4.3. Quản lý khai thuế và nộp thuế ở Cục thuế Hải Dương 64
Sơ đồ 4.4. Quản lý nợ thuế 68
Sơ đồ 4.5. Quy trình kiểm tra, thanh tra thuế 72
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 1
1. MỞ ĐẦU
1.1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Trước yêu cầu hiện đại công tác quản lý thuế nhằm đảm bảo chính sách động
viên của Đảng và Nhà nước, thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển, phục vụ sự
nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, góp phần bình đẳng công bằng xã
hội, phù hợp với nền kinh tế thị trường và chủ động hội nhập quốc tế, tại Kỳ họp
thứ 10 (Khoá XI), Quốc hội đã thông qua Luật quản lý thuế số 78/2006/QH11
ngày 29/11/2006 và có hiệu lực thi hành từ 01/7/2007 và Luật sửa đổi bổ sung
một số điều của Luật quản lý thuế số 21/2012/QH13 ngày 20/11/2012 có hiệu
lực thi hành từ ngày 01/7/2013. Bước chuyển quan trọng được đề cập trong Luật
Quản lý thuế là đề cao tính tự chủ của người nộp thuế trong quá trình khai thuế,
nộp thuế vào NSNN, đó là cơ chế người nộp thuế tự khai, tự nộp.
Đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hoạt động kinh doanh ở Việt
Nam, trong những năm qua đã góp phần đáng kể thúc đẩy phát triển kinh tế trong
nước và nguồn thu cho NSNN. Số lượng các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
có xu hướng ngày càng tăng, đặc biệt sau khi Việt Nam gia nhập Tổ chức thương mại
Thế giới, môi trường đầu tư ngày càng được cải thiện theo tiến trình hội nhập. Nhìn
chung, các DN có vốn đầu tư nước ngoài thực hiện tốt nghĩa vụ thuế và các yêu cầu
của quản lý thuế. Tuy nhiên, do phạm vi hoạt động rộng, tính chất và các mối quan hệ
trong hoạt động kinh doanh và trong quản lý của các DN có vốn đầu tư nước ngoài
phức tạp, khi áp dụng cơ chế tự khai, tự nộp thuế lại chủ yếu dựa vào sự tự giác của họ
trong việc chấp hành Luật thuế và Luật quản lý thuế, nên cũng có không ít các DN đã
lợi dụng sự thông thoáng của pháp luật và cơ chế quản lý để gian lận thuế. Các hình
thức trốn thuế, gian lận về thuế của đối tượng này thường rất tinh vi, khó phát hiện
như: thông qua chuyển giá, giao dịch thương mại điện tử
luận đến thực tiễn để tìm ra nguyên nhân và giải pháp khắc phục trong đó hoàn
thiện quản lý thu thuế được coi là nội dung trọng tâm của cải cách hệ thống thuế.
Là người tham gia quản lý lĩnh vực này của tỉnh Hải Dương, tôi lựa chọn đề tài:
"Quản lý quy trình thu thuế đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại
Hải Dương" làm luận văn tốt nghiệp.
1.2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU:
1.2.1. Mục tiêu chung
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 3
Trên cơ sở phân tích thực trạng công tác quản lý quy trình thu thuế đối với
doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trên địa bàn tỉnh Hải Dương, từ đó đưa ra
những giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý quy trình thu thuế đối với doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trên địa bàn tỉnh Hải Dương trong thời gian tới.
1.2.2. Mục tiêu cụ thể
(1) Hệ thống hóa lý luận và thực tiễn về thuế và quản lý quy trình thu thuế các
doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
(2) Đánh giá thực trạng công tác quản lý quy trình thu thuế của Cục thuế tỉnh Hải
Dương đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại tỉnh Hải Dương.
(3) Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý quy trình thu
thuế đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại tỉnh Hải Dương.
1.3. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU.
1.3.1. Đối tượng nghiên cứu.
- Hoạt động quản lý quy trình thu thuế đối với doanh nghiệp có vốn ĐTNN của Cục thuế
tỉnh Hải Dương.
- Các quy định pháp luật về quản lý quy trình thu thuế đối với DN có vốn ĐTNN tại tỉnh
Hải Dương.
- Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trên địa bàn tỉnh Hải Dương.
1.3.2. Phạm vi nghiên cứu.
Phạm vi về nội dung: Đề tài nghiên cứu về thực trạng công tác quản lý quy
đóng góp để dùng vào mọi việc chi tiêu của Nhà nước". ĂngGhen cũng đã chỉ ra:
“Để duy trì quyền lực công cộng, cần phải có sự đóng góp của công dân cho Nhà
nước, đó là thuế”. [9]
Nhà nước là điều kiện đầu tiên cho sự ra đời và tồn tại hệ thống thuế của một
quốc gia. Trong trường hợp thu nhập của người dân không đủ chi dùng cho bản
thân họ thì Nhà nước cũng không thể thu được thuế. Do đó, một điều kiện thứ hai
rất quan trọng cần phải có để biết sự tồn tại của thuế đó là thu nhập xã hội. Sự hình
thành thu nhập trong xã hội chính là tiền đề cho việc động viên các khoản thu của
Nhà nước mà trong đó thuế là khoản động viên cơ bản nhất.
Tuỳ theo từng góc độ nghiên cứu mà người ta có những cách nhìn khác nhau
về thuế:
- Dưới góc độ nghiên cứu của kinh tế chính trị học, thuế được coi là hình thức
phân phối và phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân để hình
thành nên quỹ tiền tệ của Nhà nước nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu theo chức năng
của Nhà nước.
- Dưới góc độ nghiên cứu pháp luật, thuế được coi là một phần thu nhập mà các tổ
chức và cá nhân có nghĩa vụ đóng góp cho Nhà nước theo qui định của pháp luật.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 6
- Dưới góc độ nghiên cứu của kinh tế học, thuế được coi là khoản mất mát của
các doanh nghiệp hay hộ gia đình để hình thành nên quỹ tiền tệ của Nhà nước nhằm
đáp ứng cho việc sử dụng các hàng hoá và dịch vụ công.
Dù được nhìn nhận dưới góc độ nào, có lẽ không ai có thể phủ nhận rằng thuế
là khoản đóng góp có tính chất bắt buộc cho Nhà nước, được thực hiện mà không
đề cập đến lợi ích cụ thể của người đóng thuế. Cũng chính vì đặc điểm này mà
người nộp thuế thường không mấy dễ chịu và có cảm giác bị tước đoạt một phần tài
sản cá nhân của họ, dù rằng ai cũng muốn được hưởng nhiều dịch vụ phúc lợi công
cộng từ Nhà nước. Nhận thức được đặc điểm này của thuế, chúng ta sẽ dễ dàng xác
định những yêu cầu mà người nộp thuế thường đòi hỏi ở một hệ thống thuế. [6]
doanh nghiệp ở đây chỉ giữ vai trò như người thu hộ thuế cho Nhà nước. Thuộc loại
thuế gián thu gồm có các luật thuế như: thuế Giá trị gia tăng, thuế Tiêu thụ đặc biệt,
thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu.
Tuỳ theo đặc điểm và trình độ phát triển kinh tế, xã hội của mỗi nước, cũng
như quan điểm của những người lãnh đạo Nhà nước trong từng thời kỳ, người ta có
thể lựa chọn, coi trọng loại thuế gián thu hay thuế trực thu.
b) Phân loại theo đối tượng đánh thuế
Phân loại theo tiêu thức này, thuế bao gồm các loại thuế sau:
- Thuế đánh vào hoạt động sản xuất kinh doanh như: thuế Giá trị gia tăng.
- Thuế đánh vào sản phẩm đặc thù, như: thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất khẩu,
thuế nhập khẩu.
- Thuế đánh vào thu nhập, như: thuế Thu nhập doanh nghiệp, thuế Thu nhập
cá nhân.
- Thuế đánh vào tài sản, như: thuế Nhà đất, thuế Chuyển quyền sử dụng đất.
- Thuế đánh vào tài sản thuộc sở hữu Nhà nước, như: Thuế tài nguyên.
c) Phân loại thuế theo phương thức sử dụng
Theo phương thức này, thuế được phân thành: Thuế tổng hợp và thuế chuyên dùng.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 8
Thuế tổng hợp: Là loại thuế tuy được thu từ nhiều nguồn đơn lẻ khác nhau
nhưng được tập trung vào ngân sách Nhà nước và được sử dụng chung cho các mục
đích phát triển kinh tế - xã hội có tính chất toàn quốc.
Thuế chuyên dùng: Là loại thuế thu từ một nguồn (hoặc một số nguồn) đơn lẻ
nhất định nào đó và được tập trung vào một quỹ nhất định trong Ngân sách Nhà
nước. Quỹ này được sử dụng gắn với mục đích đã được xác định trước.
Ngày nay, Chính phủ các nước phát triển chủ yếu là qui định các loại thuế
tổng hợp. Tuy nhiên, họ vẫn còn duy trì một vài loại thuế chuyên dùng nhất định để
thực hiện một số nhiệm vụ chi cấp bách, quan trọng.
2.1.2. Quản lý thuế và Luật quản lý thuế
trách nhiệm tổ chức hoạt động quản lý thuế nhằm ban hành và thực thi đầy đủ, chính
xác và kịp thời hệ thống chính sách pháp luật về thuế. Trong phạm vi nghiên cứu của
đề tài, quản lý thuế được giới hạn trong các hoạt động của cơ quan quản lý thuế.
Do vậy, quản lý thuế được hiểu là hoạt động của cơ quan quản lý nhà nước nhằm
tác động và điều hành hoạt động chấp hành pháp luật thuế của người nộp thuế.
Hoạt động tác động nói trên của các cơ quan quản lý nhà nước được hiểu dưới
các góc độ sau:
(1) Là quá trình vận dụng bản chất, chức năng của thuế để hoạch định chính
sách, bao gồm cả chính sách điều tiết qua thuế và chính sách quản lý; Là quá trình
xây dựng tổ chức bộ máy ngành thuế và đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu
quản lý thuế; Là việc vận dụng các phương pháp thích hợp tác động đến quá trình
thực hiện nghĩa vụ thuế của người nộp thuế phù hợp với quy luật khách quan, bao
gồm các hoạt động tuyên truyền, hướng dẫn, hỗ trợ, thanh tra, kiểm tra thuế… Đây
chính là cách hiểu về quản lý thuế theo nghĩa rộng. Theo đó, quản lý thuế bao gồm
cả hoạt động xây dựng chính sách thuế, ban hành pháp luật thuế và hoạt động tổ
chức tiến hành thu thuế.
Khái niệm quản lý thuế nêu trên cho thấy quản lý thuế bao gồm các khía cạnh
chủ yếu sau đây:
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 10
Thứ nhất, chủ thể của quản lý thuế là Nhà nước, bao gồm cơ quan lập pháp
với vai trò là người nghiên cứu, xây dựng hệ thống pháp luật thuế; cơ quan hành
pháp với tư cách là người điều hành trực tiếp công tác thu và nộp thuế; hệ thống
các cơ quan chuyên môn giúp việc cho cơ quan hành pháp (cơ quan thuế, cơ quan
hải quan) thay mặt cho Nhà nước tổ chức và thực hiện thu thuế.
Thứ hai, đối tượng quản lý thuế là các tổ chức và cá nhân có nghĩa vụ nộp
thuế vào ngân sách nhà nước (người nộp thuế).
Thứ ba, mục tiêu của quản lý thuế là huy động nguồn lực tài chính từ các tổ
chức, cá nhân trong xã hội cho Nhà nước thông qua việc ban hành và tổ chức thực
Nhà nước, tổ chức khác. Trong các quan hệ đó thì cơ quan Nhà nước cấp dưới phải
phục tùng mệnh lệnh của cấp trên theo thứ bậc hành chính, đối tượng bị quản lý
(người nộp thuế) phải chấp hành mệnh lệnh của các cơ quan Nhà nước trong việc
đảm bảo nguồn thu vào NSNN. Đồng thời phương pháp hành chính trong quản lý
thuế còn thể hiện trong qui trình, thủ tục thu, nộp thuế - đó là trình tự các bước
công việc phải tiến hành và các giấy tờ, tài liệu cần thiết ghi nhận việc thực hiện
nghĩa vụ thuế của người nộp thuế. Do đó, hoàn thiện pháp luật về quản lý thuế có ý
nghĩa rất quan trọng trong việc đảm bảo qui trình quản lý thuế rõ ràng, minh bạch,
thủ tục thu, nộp thuế đơn giản.
- Quản lý thuế là hoạt động mang tính kỹ thuật, nghiệp vụ chặt chẽ. Đặc điểm
này thể hiện ở chỗ các thủ tục hành chính và các chứng từ kèm theo phục vụ cho
quản lý thuế có quan hệ mật thiết với nhau, phụ thuộc nhau do các yêu cầu kỹ thuật
của việc xác định số thuế phải nộp. Ví dụ: Tập hợp thuế GTGT đầu vào được khấu
trừ trong ký tính thuế; xác định các khoản chi phí được trừ khi xác định thu nhập
chịu thuế để tính thuế TNDN phải nộp trong kỳ tính thuế của doanh nghiệp. [1]
2.1.2.2. Luật Quản lý Thuế
Từ khi thành lập hệ thống thuế thống nhất trong cả nước năm 1990 đến nay,
ngành thuế đã tiến hành hai giai đoạn cải cách thuế, nhờ đó đã hình thành được một
hệ thống chính sách thuế bao quát được hầu hết các nguồn thu, áp dụng thống nhất
đối với mọi thành phần kinh tế. Hệ thống chính sách thuế đã trở thành công cụ điều
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 12
tiết vĩ mô có hiệu quả của Nhà nước. Bộ máy quản lý thuế đã được xây dựng thống
nhất, nghiệp vụ quản lý thuế từng bước được kiện toàn theo tiến trình đổi mới và
phát triển kinh tế của đất nước. Cơ chế quản lý thuế đã có nhiều chuyển biến tích
cực theo hướng rõ ràng, công khai, dân chủ, minh bạch hơn. Các thủ tục hành chính
thuế được thực hiện thống nhất trong cả nước và ngày càng được củng cố, tăng
cường về mọi mặt, đảm bảo thực thi tốt và thống nhất các luật thuế trong cả nước.
Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, số lượng doanh nghiệp
cách pháp lý, hoạt động theo qui định trong giấy chứng nhận đầu tư, điều lệ liên
doanh, hợp đồng liên doanh và pháp luật của nước nhận đầu tư. Về phương diện
pháp lý sự tồn tại và hoạt động của các doanh nghiệp này chi phối tới hoạt động
quản lý thuế của các nước như sau:
- Thông thường doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ở các nước là chi
nhánh, hoặc công ty con của các công ty mẹ ở nước ngoài, nên trong quan hệ kinh
doanh cũng như về trách nhiệm pháp lý của các doanh nghiệp tại nước nhận đầu tư
rất hạn chế, như họ không có đủ thẩm quyền để quyết định các vấn đề phát sinh
trong kinh doanh, hoặc không chịu trách nhiệm pháp lý trước đối tác và Nhà nước,
mà phải do công ty mẹ quyết định. Điều này gây khó khăn cho quản lý nói chung
và quản lý thuế nói riêng.
- Giữa doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài với chủ đầu tư hoặc với công
ty mẹ ở nước ngoài là quan hệ nội bộ, nên trong nhiều trường hợp ngay cả cơ quan
quản lý tại nước có doanh nghiệp đầu tư cũng không quản lý được. Bởi vậy những
khó khăn, vướng mắc trong quản lý thuế trong nhiều trường hợp không giải quyết
được, ví dụ vấn đề chuyển giá giữa công ty mẹ và công ty con.
- Các quy định của pháp luật và thủ tục pháp lý mà mỗi bên trong quan hệ
đầu tư phải tuân theo trong hoạt động kinh doanh là khác nhau, nên khi thực hiện
các quyết định hành chính của cơ quan quản lý thường mất nhiều thời gian, do đó
trong nhiều trường hợp khi thực hiện được quyết định thì kết quả cũng không còn ý
nghĩa nữa. Như khi thực hiện các chế tài về ngăn chặn, hoặc chế tài hành chính. [9]
2.1.3.2. Đặc điểm về chế độ kế toán
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 14
Thông thường ở các nước doanh nghiệp có vốn ĐTNN áp dụng chung chế độ kế
toán đối với các doanh nghiệp trong nước thuộc mọi lĩnh vực, mọi thành phần kinh tế.
Tuy nhiên, trong một số hoạt động đặc thù phải tuân theo quy định riêng như của nước
nhận đầu tư: về đồng tiền sử dụng trong hạch toán kế toán và sổ sách kế toán; hệ thống
tài khoản áp dụng để hạch toán; các định mức kinh tế, kỹ thuật áp dụng áp dụng trong
phát triển nên trình độ quản lý kinh tế, ý thức tự giác chấp hành pháp luật được
đánh giá cao hơn các doanh nghiệp khác. Trong công tác hạch toán kế toán, cũng
như chấp hành nghĩa vụ thuế thường được các công ty luật và kiểm toán chuyên
nghiệp tư vấn, nên đúng pháp luật hơn. Mặt khác, do có trình độ chuyên môn cao,
lại được các công ty luật tư vấn nên cũng không loại trừ khả năng các doanh nghiệp
này lách luật tránh thuế và trốn thuế, đối với các nước tiếp nhận đầu tư thì khía
cạnh này là thách thức trong quản lý. [4]
2.1.3.4. Một số ưu đãi về chính sách thuế cho Doanh nghiệp có vốn ĐTNN
Nhận thức được tầm quan trọng của đầu tư nước ngoài đối với sự phát triển
kinh tế xã hội trong nước, để thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài, ngoài những ưu
đãi chung như các doanh nghiệp trong nước, các nước tiếp nhận đầu tư thường cho
phép các doanh nghiệp ĐTNN được hưởng các chính sách ưu đãi riêng như: được
hoàn thuế TNDN do dùng lợi nhuận thu được để tái đầu tư; được miễn thuế hoặc
hưởng thuế suất thuế TNDN thấp hơn mức thuế suất phổ thống cả suốt đời dự án;
được miễn thuế nhập khẩu máy móc thiết bị tạo TSCĐ; được hưởng ưu đãi về tiền
thuê mặt đất, mặt nước, mặt biển và được hưởng các ưu đãi khác theo giấy phép
đầu tư. [17]
Bên cạnh mặt tích cực như đã nêu, chính sách ưu đãi thuế đối với DN có vốn
ĐTNN cũng có những bất cập nhất định:
- Gây khó khăn cho quản lý vì có những ngoại lệ, tốn kém chi phí và thời gian
quản lý;
- Nếu giám sát các điều kiện ưu đãi không chặt chẽ, không kiểm soát được đầy
đủ hoạt động của các DN ĐTNN, ưu đãi không đúng đối tượng sẽ làm mất công
bằng trong việc thực hiện nghĩa vụ thuế và có nhiều cơ hội để nhà đầu tư lợi dụng
tránh thuế, trốn thuế. Đối với nhiều quốc gia, ưu đãi thuế là vấn đề khó giải quyết
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 16
trong mối quan hệ với thu hút đầu tư nước ngoài.
2.1.3.5. Hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp ĐTNN rất đa dạng