Sử dụng atlát trong dạy học địa lí lớp 12 - Pdf 30


Giáo viên
Giáo viên
:
: Đơn Vị:
Năm Học: -
A. MỞ ĐẦU
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Các nhà phương pháp học nổi tiếng khi nghiên cứu về những phương pháp
dạy học tích cực đều có chung nhận định, phươg pháp trực quan tích cực hơn
phương pháp thuyết giảng truyền thống. Trong giảng dạy địa lí có thể sử dụng rất
nhiều những thiết bị dạy học trực quan nhằm nâng cao hiệu quả bài học. Thiết bị
dạy học có ý nghĩa rất lớn đối với việc tiếp thu kiến thức của học sinh.
Trong việc đổi mới phương pháp giảng dạy hiện nay, các giáo viên đã rất chú
trọng đến việc sử dụng kênh hình để hướng dẫn học sinh học tập môn Địa lí, bao
gồm : bản đồ treo tường, mô hình, lược đồ, các tranh ảnh, bảng biểu, số liệu thống
kê trong sách giáo khoa và trong Atlat …
Trong giảng dạy bộ môn Địa lí, việc khai thác sử dụng kênh hình là phương pháp
giảng dạy mới. Những năm gần đây do tiến bộ của khoa học kỹ thuật và công
nghệ đã cung cấp cho ngành Giáo dục nhiều phương tiện tiên tiến khoa học như :
Máy vi tính, máy chiếu đa năng, băng - đĩa hình…giúp cho việc giảng dạy nâng
cao hiệu quả. Việc sử dụng Atlat để dạy kênh hình là vấn đề tuy không mới lạ
nhưng cũng không ít khó khăn, song lại rất hấp dẫn học sinh và đem lại hiệu quả
cao. Giúp cho học sinh chủ động tiếp thu những kiến thức theo nội dung bài học,
ít phải ghi nhớ máy móc mà hiệu quả cao.
Hiện tại còn một số giáo viên chưa chú trọng sử dụng Atlat trong việc giảng dạy
Địa lí, không hướng dẫn học sinh sử dụng Atlat nên chưa nắm được vai trò của
Atlat trong việc giảng dạy môn Địa lí, nên hiệu quả thấp.

-Phương pháp thực nghiệm: Thực hiện kiểm tra đánh giá ở các lớp 12A1, 12A3,
12T1, 12D, 12T2.
B. NỘI DUNG ĐỀ TÀI
I . CƠ SỞ LÍ LUẬN CHUNG CỦA ĐỀ TÀI.
1.Quan niệm về sử dụng thiết bị dạy học theo tinh thần dạy học tích cực.
Trong các bộ môn khoa học đang dạy ở nhà trường môn nào cũng có một vai trò
nhất định, giúp học sinh nâng cao nhận thức về tự nhiên và xã hội. Môn Địa lí giữ
một vị trí hết sức quan trọng, nó mở mang cho học sinh hiểu biết về thiên nhiên
trên Trái Đất và cả ngoài Vũ trụ, hoạt động văn hoá, xã hội kinh tế của con người.
Giúp các em đi sâu nghiên cứu khoa học, tìm hiểu khám phá cấu trúc của Trái
Đất, nguồn tài nguyên thiên nhiên, các yếu tố tự nhiên, xã hội để phát triển kinh
tế, góp phần nâng cao đời sống nhân dân.…
Riêng ở trường THPT, mỗi môn học đều yêu cầu những đặc điểm riêng, cần các
phương pháp giảng dạy thích hợp. Môn Địa lí đã xác định phương pháp đặc trưng
là sử dụng kênh hình và kênh chữ trong việc dạy và học. Song việc giảng dạy
kênh chữ đã quen thuộc trong nhà trường, nhưng kênh hình mới được chú trọng
trong những năm đổi mới phương pháp dạy học, nên việc vận dụng nó còn nhiều
khó khăn bỡ ngỡ. Nhất là đối với học sinh lớp 12, việc sử dụng Atlat Địa lí Việt
Nam để đọc và phân tích các dữ liệu, rồi đi đến nhận biết kiến thức qua các trang
bản đồ trong Atlat là rất cần thiết, giúp cho học sinh nhận thức đầy đủ kiến thức,
tiếp thu nhanh, dễ hiểu. Đồng thời tránh được phương pháp diễn giải dài dòng,
từng bước gây hứng thú và ham mê học tập môn Địa lí cho học sinh.
2. Một số thiết bị dạy học Địa lí cơ bản
2.1.Bản đồ: Bản đồ, Atlát là nguồn tri thức quan trọng, được coi là quyển sách
giáo khoa địa lí thư hai của học sinh. Vì vậy giáo viên cần nghiên cứu kĩ càng nội
dung chứa đựng trong bản đồ, từ đó giúp học sinh lực chọn bản đồ phù hợp với
nội dung bài học. Trên cơ sở đó mà chiếm lĩnh tri thức, rèn luyện kĩ năng sử dụng
bản đồ.
2.2 Máy tính cá nhân: Giúp HS tính toán xử lí số liệu trong Átlát.
2.3. Những thiết bị kĩ thuật hiện đại.

GIẢNG DẠY VÀ HỌC TẬP MÔN ĐỊA LÍ LỚP 12.
1.1. Bố cục của Atlat Địa lí Việt Nam do nhà xuất bản Giáo dục phát hành
năm 2009 có thể khái quát như sau:
a/ Bản đồ chung bao gồm các bản đồ: Hành chính, hình thể, địa chất khoáng sản,
khí hậu, đất, thực vật và động vật, các miền tự nhiên, dân số.
b/ Bản đồ dùng cho các ngành kinh tế : Nông nghiệp chung, nông nghiệp, lâm
nghiệp và thuỷ sản, công nghiệp chung, công nghiệp, giao thông, thương mại, du
lịch.
c/ Bản đồ dùng cho các vùng kinh tế:
Trung du và miền núi Bắc Bộ.
Vùng Đồng bằng sông Hồng
Vùng Bắc Trung Bộ.
Vùng Duyên hải Nam Trung Bộ
Vùng Tây Nguyên
Vùng Đông Nam Bộ.
Vùng Đồng bằng sông Cửu Long.
* Trong mỗi vùng đều có bản đồ tự nhiên, bản đồ kinh tế và biểu đồ GDP so với
cả nước.
* Trong một trang bản đồ của Atlat thể hiện nhiều yếu tố:
- Yếu tố tự nhiên : Địa hình, đất đai, khoáng sản, sông ngòi, khí hậu, sinh vật…
- Yếu tố kinh tế, xã hội : Dân cư, hành chính, các ngành kinh tế, các vùng kinh tế.
* Trong một trang bản đồ của Atlat còn thể hiện:
- Hình thể của cả nước, một vùng hay hai vùng liền kề nhau.
- Một số biểu đồ như dân số qua các năm, cơ cấu, mật độ dân số, hay biểu đồ biểu
hiện giá trị sản xuất các ngành nông nghiệp, lâm nghiệp, thuỷ sản, công nghiệp…
- Một số hình ảnh quan trọng của những địa phương, sản xuất kinh tế, hoạt động
văn hoá…
1.2. Tầm quan trọng của Atlat Địa lí Việt Nam :
+ Do bố cục của Atlat rất phong phú, nên có thể giúp cho việc giảng dạy môn Địa
lí đạt hiệu quả:

kinh tế - xã hội theo từng nội dung của bài học.
2.2. Khai thác bản đồ, biểu đồ trong Atlat để rèn luyện cho học sinh kỹ năng
tìm hiểu kiến thức địa lí về dân cư.
Ví dụ:
a- Giáo viên hướng dẫn cho học sinh cách phân tích bản đồ trang 16 (dạy bài16)
học sinh rút ra nhận xét :
+ Phân bố các dân tộc nước ta không đều: Các nhóm dân tộc ít người chỉ có trên
13% dân số nhưng phân bố rất rộng trên khắp các vùng trong cả nước. Dân cư
tập trung đông ở đồng bằng, nhất là ở đô thị.
+ Hiểu được ngữ hệ và các nhóm ngôn ngữ của các dân tộc.
b- Phân tích các bản đồ, biểu đồ trang 15 của Atlat (dạy từ bài 16-17 SGK) rút ra
kết luận về đặc điểm dân cư và nguồn nhân lực nước ta:
+ Dựa vào màu sắc của bản đồ, phân tích mật độ dân số: Nước ta có mật độ dân
số cao nhưng phân bố không đều (tập trung đông ở Đồng bằng sông Hồng và
Đồng bằng sông Cửu Long, đặc biệt mật độ dân số ở các thành thị rất cao, thưa
thớt ở miền núi nhất là vùng Tây nguyên).
+ Phân tích biểu đồ phát triển dân số nước ta qua các năm, từ đó học sinh nhận
thức được: Dân số nước ta đông, gia tăng nhanh từ đầu thế kỷ XX đến nay (Năm
1960 có khoảng 30,17 triệu người. Năm 1989 có 64,41 triệu người. Năm 1999 có
76,3 triệu người. Năm 2003 có khoảng 80,9 triệu người, năm 2007 có khoảng
85,97 triệu người).
+ Phân tích tháp tuổi trong biểu đồ để rút ra kết luận: Dân số nước ta có kết cấu
dân số trẻ, giải thích xu hướng thay đổi cơ cấu theo độ tuổi ở nước ta. So sánh
được giới tính giữa nam và nữ tương đối cân bằng.
+ Qua biểu đồ sử dụng lao động theo ngành, học sinh có thể nhận thức được :
Nước ta có nguồn lao động dồi dào, tỷ lệ lao động trong nông - lâm - thuỷ sản
chiếm tỷ lệ cao, công nghiệp và dịch vụ còn thấp.
2.3. Phân tích bản đồ trong Atlat để rút ra nhận định tình hình phát triển
của các ngành kinh tế nước ta.
Ví dụ 1: Sử dụng Atlat Địa lí Việt Nam để tìm hiểu tình hình sản xuất nông

trong bản đồ, giúp cho học sinh hoạt động trí tuệ hợp lý hơn.
- Ngành chăn nuôi : Dựa vào kỹ năng sử dụng Atlat như trên, học sinh sử dụng
biểu đồ trang 19 của Atlat để trình bày giá trị sản lượng của ngành chăn nuôi gia
súc và gia cầm tăng trưởng mạnh qua các năm 2000, 2005,2007.
Ví dụ 2: Dùng Atlat Địa lí Việt Nam để học sinh tìm hiểu sự phân bố lâm nghiệp (
các loại rừng) và thuỷ sản của nước ta (Bài 14 - SGK Địa lí CB12).
Để trình bày được nội dung trên ta hướng dẫn học sinh khai thác kiến thức qua
các trang bản đồ, biểu đồ trang 20 của Atlat. Cụ thể là:
+Tổng diện tích rừng nước ta qua các năm 2000,2005, 2007 và giá trị sản xuất
lâm nghiệp của các tỉnh năm 2007.
+ Sự phát triển của ngành thuỷ sản:
- Về sản lượng thuỷ sản của cả nước qua các năm 2000, 2005, 2007.
Ví dụ 3: Sử dụng Atlat để học sinh tìm hiểu tình hình phát triển và phân bố tổ
chức lãnh thổ công nghiệp ở nước ta (Bài 28 – SGK Địa lí CB12).
+ Atlát trang 8: Giúp cho học sinh tìm hiểu về tài nguyên khoáng sản của nước ta
để phát triển công nghiệp.
+ Khi giảng dạy nội dung về ngành công nghịêp ta phải hướng dẫn cho học sinh
biết sử dụng bản đồ công nghiệp chung trang 21 Atlat, cách thực hiện như sau:
- Học sinh đọc kỹ, hiểu về ngành công nghiệp, các trung tâm công nghiệp trong
phần chú thích.
- Khai thác kiến thức trên lược đồ, biểu đồ thấy rõ đặc điểm phân hoá công
nghiệp nước ta như thế nào?
+ Qua phần hướng dẫn kỹ năng sử dụng Atlat, học sinh nhanh chóng nhận thức
được:
- Giá trị sản xuất công nghiệp của nước ta tăng liên tục từ 336,1 nghìn tỉ đồng
(2000) lên 1469,3 nghìn tỉ đồng (2007)
- Công nghiệp nước ta phân bố không đều trên khắp lãnh thổ mà tập trung theo
từng khu vực, từng vùng như Đồng bằng sông Hồng và Đông Nam Bộ.
- Cơ cấu giá trị sản xuất công nghiệp của cả nước phân theo thành phần kinh tế.
- Cơ cấu các ngành công nghiệp trọng điểm của nước ta, giá trị sản xuất của các

công nghiệp, GDP của vùng Trung du miền núi phía Bắc so với cả nước, sự phân
bố các trung tâm công nghiệp lớn của vùng. Các ngành công nghiệp trọng điểm
có mối liên hệ như thế nào đến giao thông, sông ngòi, nguồn tài nguyên.
- Đọc được các loại khoáng sản, nắm được vị trí địa lí, điều kiện tự nhiên, sông
ngòi, khí hậu, tài nguyên thiên nhiên của vùng Đồng bằng Sông Hồng và giải
thích được tại sao ở đây đông dân cư, GDP của Đồng bằng sông Hồng so với cả
nước, đây là vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc.
* Qua các phân tích trên ta thấy rằng : Khi tìm hiểu một số kiến thức về kinh tế -
xã hội, việc sử dụng Atlat đã giúp cho học sinh có phương pháp tiếp thu kiến thức
chủ động so với cách học thụ động trước đây. Học sinh tự tìm hiểu các kiến thức
cần thiết, bổ ích, ít phải thuộc lòng các kiến thức một cách máy móc, tầm nhìn
khoa học của học sinh được mở rộng hơn.
Như vậy việc khai thác kiến thức qua bản đồ, biểu đồ, học sinh nhận thức kiến
thức địa lí một cách nhẹ nhàng, đơn giản, tăng thêm hứng thú, trên cơ sở đã mã
hoá các thông tin bằng ký hiệu, mầu sắc, kích thước làm cho học sinh say mê
học môn Địa lí hơn.
2.4. Phân tích bản đồ, biểu đồ để rút ra nhận định về tình hình phát triển
kinh tế của các Vùng kinh tế nước ta.
Trong chương trình Địa lí lớp 12 nội dung về kinh tế xã hội chia theo các vùng:
Nội dung kiến thức quan trọng của chương trình Địa lí 12 là nghiên cứu các vùng
Kinh tế. Vấn đề phát triển kinh tế của mỗi vùng vừa thể hiện đặc điểm chung của
cả nước, vừa thể hiện tính chất đặc thù riêng của từng vùng. Vì vậy khi trình bày
nội dung kiến thức của vùng đòi hỏi phảỉ có kỹ năng sử dụng nhiều trang Atlat để
tìm hiểu kiến thức. Giáo viên cần hướng dẫn học sinh làm như sau:
- Trước hết học sinh phải xác định vị trí, ranh giới của vùng. Dựa vào bản đồ
trong Atlat xác định vị trí: phía Bắc, phía Nam, phía Đông, phía Tây giáp đâu?
- Xác định đặc điểm tự nhiên : Địa hình, khí hậu, sông ngòi…
- Từ những đặc điểm trên, tìm thuận lợi khó khăn cho việc phát triển kinh tế của
vùng.
- Sau đó dựa vào bản đồ để phát hiện được các tiềm năng, các thế mạnh kinh tế

- Đặc biệt là ngành du lịch sinh thái là một tiềm năng lớn, mở ra hướng phát triển
mới cho ngành du lịch nước ta.
- Đây là vùng kinh tế trọng điểm, thuận lợi cho phát triển nông nghiệp lúa nước,
công nghiệp, giao thông vận tải đi các nơi trong nước. Đồng thời ngành thuỷ - hải
sản có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển. Phân tích bản đồ trang 8 Atlat học
sinh rút ra nhận xét về đặc điểm và sự phân bố các loại đất ở Đồng bằng sông
Cửu Long.
- Khí hậu trong vùng mang tính chất cận xích đạo, một năm có hai mùa rõ rệt là
mùa mưa và mùa khô.Mùa mưa nhiệt độ cao, độ ẩm lớn, tạo điều kiện cho vùng
trồng được nhiều cây ăn quả nhiệt đới, nhiều cây đặc sản như : soài, sầu riêng,
dừa, măng cụt…
- Dân cư trong vùng đứng thứ hai trong cả nước, sau vùng Đồng bằng sông
Hồng. Ngoài người Kinh còn có người Khơ Me, người Chăm, người Hoa cùng
sinh sống và xây dựng inh tế của vùng. Tuy nhiên trình độ dân trí chung của vùng
chưa cao bằng vùng Đồng bằng sông Hồng, tỷ lệ dân thành thị còn thấp.
Tóm lại đây cũng là vùng kinh tế phát triển toàn diện, tuy nhiên nông nghiệp vẫn
là thế mạnh của vùng, nơi xuất khẩu gạo cao nhất nước ta…
Tương tự ta có thể hướng dẫn học sinh tìm hiểu các vùng kinh tế khác dựa vào
các trang bản đồ trong Atlat.
* Tóm lại khi phân tích tình hình phát triển kinh tế - xã hội mỗi vùng chúng ta
phải xác định xem nên sử dụng bản đồ nào, từ đó ta khai thác kiến thức gì theo
trình tự : đặc điểm tự nhiên, xã hội, tình hình phát triển kinh tế của mỗi vùng .
Mỗi kiến thức địa lí tự nhiên, xã hội, kinh tế của từng vùng nói riêng và cả nước
nói chung đều chứa đựng trong các trang bản đồ của Atlat. Mỗi ước hiệu đều nói
lên một kiến thức địa lí, giáo viên cần cho học sinh tìm hiểu kỹ ngôn ngữ của bộ
môn Địa lí mà các em cần ghi nhớ chính là các ký hiệu, ước hiệu này.
2.5. Rèn luyện kỹ năng sử dụng hình ảnh trong Atlat để khắc sâu kiến thức
của bài học.
Trong một số bài có những hình ảnh minh hoạ có thể sử dụng hình ảnh trong Atlat
để hỗ trợ cho nội dung của bài.

trình bày kiến thức một cách đầy đủ. Nếu chỉ dựa vào kiến thức đã học, thì nhiều
kiến thức từ Atlát bị bỏ sót, đặc biệt các kiến thức về sự phân bố cụ thể, mối quan
hệ về mặt không gian lãnh thổ về các sự vật, hiện tượng địa lí…Nhưng nếu chỉ
dựa vào Atlat, nhiều kiến thức như tình hình phát triển, nguyên nhân phát triển, về
đường lối, chính sách…không được đề cập đến một cách đầy đủ và hợp lí.
- Làm việc với Atlát Địa lí Việt Nam, cũng cần chú ý đến việc phân tích các biểu
đồ, số liệu…Đó là các thành phần bổ trợ làm rõ nội dung của đối tượng địa lí.
Bài tập 1.Dựa vào Atlat Địa lí Việt Nam (NXBGD tháng 9-2009) và kiến thức đã
học, hãy so sánh hai tháp dân số năm 1999 và năm 2007, rút ra nhận xét.
Qua việc phân tích Átlát HS sẽ thấy được:
* Giống nhau:
- Hình dạng tháp: đáy rộng, đỉnh tháp nhọn. Dạng tháp có kết cấu dân số trẻ.
- Tỉ lệ giới tính: + 0 - 14 tuổi: nam lớn hơn nữ
+ 15 - 59 tuổi: nữ và nam tương đương nhau
+ 60 tuổi trở lên: nữ lớn hơn nam
* Khác nhau:
+ Năm 1999: đáy tháp rộng, đỉnh tháp nhọn, sườn thoải, thể hiện tỉ lệ sinh cao, trẻ
em đông, tuổi thọ trung bình thấp, dân số tăng nhanh ⇒ Cơ cấu dân số trẻ, tỉ lệ
dân số phụ thuộc cao.
+ Năm 2007: đáy tháp thu hẹp hơn, sườn tháp và đỉnh tháp mở rộng hơn thể hiện
tỉ lệ sinh giảm, nhóm tuổi lao động cao, tuổi thọ trung bình tăng ⇒ cơ cấu dân số
vàng ⇒ xu hướng chuyển từ cơ cấu dân số trẻ sang dân số già.
Bài tập 2.Dựa vào Atlat Địa lí Việt Nam trang nông nghiệp chung (NXBGD
tháng 9-2009) và kiến thức đã học, hãy tính giá trị sản xuất của các ngành nông
nghiệp, lâm nghiệp, thuỷ sản.
Tính giá trị sản xuất của các ngành trong nông nghiệp: (tỉ đồng)
Năm Nông nghiệp Lâm nghiệp Thuỷ sản
2000 129017,7 7675,7 26620,1
2007 236987,1 12187,9 89378,0
* Nhận xét về giá trị sản xuất và cơ cấu giá trị sản xuất của các ngành trong nông

đất khác và núi đá
Chủ yếu ở đồng bằng
- ĐBSH, ĐBCL, ngoài ra còn ở DH MT (s.Mã, s.Cả, S.Đà
Rằng)
- Đồng Tháp Mười, tứ giác Long Xuyên, Cần Thơ, Cà Mau
- Ven biển ĐBSCL, ĐBSH
-Dọc duyên hải miền Trung
- Đông Nam Bộ, Gia Lai, rìa phía Bắc của ĐBSH
Chủ yếu ở trung du miền núi
- Tập trung chủ yếu ở Tây Nguyên, Đông Nam Bộ, ngoài ra
còn có ở Tây Bắc và Bắc Trung Bộ
- Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ
- Trung du miền núi Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ
b. Giả thích vì sao đồng bằng Sông cửu Long lại có nhiều iện tích đất phèn và đất
mặn:
- Ba mặt giáp biển
- Địa hình thấp nhiều vùng trũng ngập úng trong mùa mưa, sông ngòi kênh rạch
chằng chịt không có đê
- Mùa khô kéo dài dẫn tới thiếu nước nghiêm trọng làm tăng cường độ chua mặn
trong đất
- Thuỷ triều theo các sông lớn vào sâu trong đất liền làm các vùng đất ven biển bị
nhiễm mặn.
Qua việc phân tích mối quan hệ từ kênh hình trong Atlát học sinh sẽ làm bài
tốt hơn và phát triển tư duy của học sinh khi mà các em không phải gi nhớ máy
móc.
C. KẾT LUẬN
I. K Ế T QU Ả TH Ự C NGHI Ệ M
Qua quá trình thực nghiệm rèn luyện cho học sinh kỹ năng sử dụng Atlat. Giáo
viên đánh giá việc sử dụng Átlát qua việc kiểm tra 1tiết học kì II ở các lớp với nội
dung đề giống nhau nhưng:12A3, 12A1 không được sử dung Átlát còn đối với các


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status