Giáo viên
Giáo viên
:
: Đơn Vị:
Năm Học: -
A/ Đặt vấn đề:
I/ Lý do chọn đề tài:
Để góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục đáp ứng được xu hướng
phát triển của xã hội trong thời đại ngày nay. Ngành Giáo dục nói chung
và đội ngũ giáo viên nói riêng đã nhận được sự quan tâm rất lớn của Đảng
và Nhà nước. Giáo dục và đạo tạo được coi là quốc sách hàng đầu trong
sự nghiệp phát triển kinh tế đất nước và để thực hiện tốt nhiệm vụ: Nâng
cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài cho đất nước. Là giáo
viên dạy môn GDCD tôi cũng rất mong mình sẽ góp một phần công sức
bé nhỏ cho sự nghiệp giáo dục của đất nước. Bởi ở trường THPT môn
Giáo dục công dân giữ vai trò quan trọng trong việc giáo dục cho học sinh
ý thức hành vi của người công dân, hình thành và phát triển nhân cách
đạo đức và lối sống để trở thành công dân có ích cho xã hội. Chương trình
GDCD từ lớp 10,11,12, đều có sự liên kết nối tiếp chương trình với nhau
trong cả cấp học, đối với học sinh Lớp10 mới bước chân vào cấp THPT
đã được tiếp cận ngay với phần kiến thức của triết học. Thực tế cho thấy
đây là phần kiến thức mới và khó đối với học sinh đầu cấp, nếu sử dụng
phương pháp chưa phù hợp học sinh tiếp thu kiến thức một cách thụ động,
dẫn đến khả năng vận dụng bài học vào thực tiễn còn khó khăn, chưa đáp
ứng được mong muốn của người dạy.
Vì vậy qua nhiều năm giảng dạy ở trường THPT Đào Duy Từ với
nhiều đối tượng học trò cùng với việc dự giờ của đồng nghiệp cũng như
Lớp Sĩ số Giỏi Khá TB Yếu
Phương
pháp
10C1 39 4 = 10,3% 17 = 43,6% 14 = 35,9% 4 = 10,2%
10C2 49 5 = 10,2% 20 = 40,8% 19 = 38,8% 5 = 10,2%
Phương
pháp
10C3 44 8 = 18,2% 23 = 52,2% 13 = 29,6% 0
10C4 45 9 = 20% 24 = 53,4% 11 = 24,4% 1 = 2,2%
B/ Giải quyết vấn đề :
I/ Cơ sở thực hiện đề tài :
1/ Cơ sở lý luận :
a) Khái quát lý luận đối với các bài liên quan đến đề tài trong phần triết
học GDCD Lớp 10.
Đối với bộ môn GDCD ở trườngTHPT, là môn học gồm nhiều hệ
thống tri thức khác nhau như: triết học, đạo đức, kinh tế, pháp luật trong
đó triết học là một trong những đơn vị kiến thức khó và trìu tượng nhất
trong toàn bộ chương trình, nổi lên gồm các bài theo thứ tự trong chương
trình lớp 10 như sau: Bài 3: Sự vận động và phát triển của thế giới vật
chất; Bài 4 : Nguồn gốc vận động phát triển của sự vật và hiện tượng ; Bài
5 : cách thức vận động, phát triển của sự vật hiện tượng ; và Bài 6 :
Khuynh hướng phát triển của sự vật và hiện tượng. Mỗi bài đều có vị trí
khác nhau trong tư duy nhận thức và hoạt động thực tiễn. Chẳng hạn như.
Bài 3: Sự vận động và phát triển của thế giới vật chất. Thông qua bài học
chúng ta thấy rõ thế giới vật chất kể cả con người muốn tồn tại thì phải
vận động, trong muôn vàn phương thức vận động, vận động theo chiều
hướng tiến lên, cái mới cái tiến bộ ra đời thay thế cho cái cũ cái lạc hậu,
đó là sự phát triển. Như vậy, phát triển sẽ diễn ra trong tất cả các lĩnh vực
của tự nhiên, xã hội và tư duy.
với nhau. Để làm được điều đó người dạy phải biết kết hợp và lựa chọn
những phương pháp phù hợp.
b) Lí luận chung về phương pháp vận dụng:
Để thực hiện nghiêm túc văn kiện đại hội Đảng khoá XI đã nêu “…
Phát triển giáo dục phải thực sự là quốc sách hàng đầu…Tập trung nâng
cao chất lượng giáo dục, đào tạo, coi trọng giáo dục đạo đức lối sống,
năng lực sáng tạo, kĩ năng thực hành khả năng lập nghiệp…”. Trong sự
nghiệp trồng người của chúng ta để tạo ra sản phẩm là con người vừa có
nhân cách lại vừa có trí tuệ hay theo ngôn ngữ của Bác Hồ vừa “Hồng”
vừa “Chuyên” là không hề đơn giản. Vậy muốn làm tốt điều đó, buộc
người dạy trong quá trình giảng dạy phải biết lựa chọn phương pháp cho
phù hợp với từng bài. Một sự thật mà bất kỳ ai trong nghề cũng thấy rõ là
không có phương pháp nào là vạn năng dù nó có tích cực đến bao nhiêu
đi chăng nữa. Mỗi phương pháp dạy học đều có mặt tích cực và mặt hạn
chế riêng, phù hợp với từng loại bài và đòi hỏi những điều kiện thực hiện
riêng vì thế chúng ta không nên phủ định hoặc quá lạm dụng một phương
pháp dạy học nào. Điều quan trọng là cần căn cứ vào nội dung, tính chất
từng bài, căn cứ vào trình độ nhận thức của học sinh và năng lực sở
trường của giáo viên, căn cứ vào điều kiện hoàn cảnh cụ thể của lớp, của
trường mà lựa chọn sử dụng phối hợp các phương pháp dạy học một cách
hợp lí. Để tạo nên một tiết dạy thành công, chúng ta cần sử dụng kết hợp
giữa các phương pháp mới và cũ, vừa kế thừa được tính truyền thống lại
hội tụ xu hướng thời đại, thực hiện tốt Nghị quyết của các kỳ đại hội gần
đây. Là tiếp tục đổi mới phương pháp dạy học, lấy học sinh làm trung
tâm.
Vận dụng nguyên lí trên để dạy học các bài 3, bài 4, bài 5, bài 6, phần
triết học Giáo dục công dân lớp10 THPT.Tôi đã sử dụng một số phương
pháp như nêu vấn đề, thảo luận nhóm, tìm hiểu nội dung bài học khai thác
ví dụ thực tiễn và sử dụng đồ dùng trực quan (sơ đồ, bảng, biểu, tranh
ảnh) Sử dụng giáo án điện tử để hỗ trợ cho bài giảng.
hợp tác giải quyết các vấn đề một cách thuận lợi hơn khi sử dụng những
phương pháp khác. Những vấn đề mà giáo viên đặt ra, tạo điều kiện cho
học sinh được giao lưu, để học hỏi lẫn nhau, cùng nhau hợp tác để giải
quyết những nhiệm vụ chung của cả nhóm. Qua đó giúp học sinh được
hợp tác với nhau, được trao đổi, tranh luận chia sẻ ý kiến kinh nghiệm và
được bày tỏ quan điểm. Đây cũng là cơ hội rèn luyện cho các em kĩ năng
sống như mạnh dạn trong giao tiếp và hợp tác học hỏi lẫn nhau, tạo cho
các em hứng thú trong học tập.
Sử dùng đồ dùng trực quan là một phương pháp dạy học mới hình
thành trong những năm gần đây, khi nhân loại bước sang một giai đoạn
mới – cách mạng tri thức ; Lý thuyết phải được minh họa bằng thực tiễn.
Trong môn GDCD như ta đã biết đồ dùng trực quan không nhiều chủ yếu
do giáo viên và học sinh tự làm như hệ thống sơ đồ, bảng, biểu, nếu lớp
học có máy chiếu thì hiệu quả tiện lợi hơn nhiều.
Đối với các bài học từ bài 3 đến bài 6 trong chương trình triết học
lớp10, ở phần này dường như các đơn vị kiến thức đều có mối quan hệ
giàng buộc biện chứng và hỗ trợ nhau. Từ đặc thù này cách làm hiệu quả
nhất khi khái quát bài là giáo viên nên đưa sơ đồ hệ thống hoá kiến thức
để các em rễ ràng nhận thấy mối quan hệ của nội dung đơn vị kiến thức.
Để kết hợp với các phương pháp đã nêu ở trên đạt được hiệu quả cao
nhất đối với bải giảng thì chúng ta cần sử dụng công nghệ thông tin để hỗ
trợ bài giảng làm cho tiết học sẽ trở nên sinh động, gây sự chú ý và lôi
cuốn học sinh vào bài học một cách thoải mái, nhẹ nhàng tránh được sự
khô khan nhàm chán. Đặc biệt là với các bài học này thì sử dụng phương
tiện công nghệ thông tin( giáo án điện tử) là điều cần thiết. Tuy nhiên
chúng ta cũng không nên lạm dụng trình chiếu quá nhanh nội dung kiến
thức hoặc tham nhiều các tranh ảnh sẽ mang lại một kết quả học sinh
không lưu nhớ được gì.
Như vậy : Sử dụng tổng hợp các phương pháp trong giảng dạy nói
chung và đối các bài học về. Quá trình vận động phát triển của sự vật,
được là môn này đâu có khô khan và trìu tượng như mọi người đã suy
nghĩ …
Thực tiễn trong các bài này lượng nội dung truyền đạt trong bài ngắn,
kiến thức ít, câu từ mang tính triết lý cao nếu sử dụng phương pháp thuyết
trình hoặc động não thì sẽ gây cho người học căng thẳng nhàm chán, dẫn
đến kết quả học tập chưa cao. Trong một số lớp vẫn còn số ít học sinh
ham chơi, lười học, trốn học đi đánh điện tử ngồi nói chuyện không
những trong giờ GDCD mà giờ Toán hay Hoá cũng vậy. Đối với bản thân
tôi dù mọi người có nghĩ rằng là môn phụ không có học sinh học thêm
cần gì phải đầu tư, nhưng tôi vẫn cố gắng tìm và mua sách vở tài liệu
tham khảo, máy tính để đầu tư cho chuyên môn của mình làm sao mình
có được nhiều giờ dạy thật hay và được học sinh tôn trọng yêu quý. Đây
cũng là tâm sự rất thật và là mong ước chủ quan của bản thân.
Từ những thực trạng trên qua một thời gian nghiên cứu thực dạy 2
năm tôi mạnh dạn đưa ra“ Hiệu quả sử dụng một số phương pháp dạy
học khi dạy bài 6 khuynh hướng phát triển của sự vật hiện tượng –
GDCD lớp 10 THPT” nhằm phát huy tối đa vai trò của bài học cũng như
cải thiện thực trạng dạy và học như hiện nay.
II/ Giải pháp và tổ chức thực hiện.
1/ Vận dụng một số các phương pháp vào một số phần của bài 4 và bài
5 GDCD Lớp 10 THPT.
Trong phần này tôi không trình bày chi tiết mà chỉ xin phép đi một số
nội dung cơ bản. Chẳng hạn như Bài 4: Nguồn gốc vận động phát triển
của sự vật hiện tượng
+ Khái thác nội dung Khái niệm mâu thuẫn. Để khắc sâu khái niệm mâu
thuẫn triết học, giáo viên đưa ra tình huống có vấn đề sau : Tôi đã sử dụng
giáo án điện tử để trình chiếu tình huống và các ví dụ. Tình huống: “Buổi
chiều, vì không học thêm nên Mạnh sang mượn của Nam cuốn sách toán
nâng cao của lớp 10. trong sách Nam có để 500.000VNĐ mẹ cho nộp tiền
học nhưng chưa nộp. Khi đưa sách cho bạn Nam quyên mất trong sách có
Đối với Bài 5 : Cách thức vận động phát triển của sự vật hiện tượng
+ Khai thác khái niệm chất, lượng : Tôi sử dụng đồ dùng trực quan hỗ trợ
và phương pháp thảo luận nhóm nhỏ. Giáo viên chia lớp thành 4 nhóm đặt
tên nhóm là những tên của các đồ dùng trực quan : Nhóm Quả cam, quả
tranh, quả ớt, gói muối trắng.
Câu hỏi :
1. Em hãy quan sát các sự vật và cho biết chúng có đặc điểm gì ở bên
trong và bên ngoài ?
2. Thuộc tính cơ bản bên trong của mỗi sự vật, hiện tượng có thể nhầm
lẫn với các sự vật, hiện tượng khác không ? Tại sao ?
3. Trong các thuộc tính đó đâu là chất, đâu là lượng ?
+ Học sinh trả lời Các nhóm nhận xét bổ sung sau đó giáo viên kết luận
(giáo viên sử dụng giáo án điện tử)
+ Khi tìm hiểu nội dung sự biến đổi về lượng dẫn đến sự biến đổi về chất :
giáo viên sử dụng phương pháp nêu vấn đề hoặc khai thác các ví dụ:
+ Sự biến đổi từ lượng : giáo viên đưa ra tình huống sau:
Đầu năm trong lớp 10C có 30 học sinh. Giữa kỳ I có1học sinh bị ốm nên
phải nghỉ điều trị. Chúng ta nói, lớp học đã giảm đi về lượng. Điều này có
đúng không? tại sao ?
+ Sự biến đổi về lượng dẫn đến sự biến đổi về chất :
Giáo viên nêu vấn đề :
Để thực hiện ước mơ trở thành một sinh viên đại học, các em phải làm
gì ? chúng ta có thể ngay lập tức đạt được những ước mơ đó không ? vì
sao ?
Sau khi học sinh giải quyết các vấn đề giáo viên đã nêu giáo viên trình
chiếu sơ đồ và giải thích cụ thể để học sinh nắm được lượng biến đổi dần
dần và chất biến đổi theo ngược lại chất mới ra đời lại cho một lượng mới
tương ứng.
Học sinh quan sát sơ đồ sự biến đổi về lượng dẫn đến sự biến đổi về chất
của phân tử nước, và ví dụ hình ảnh đối với học sinh, cấpI, cấp II, cấp
+ Phê phán thái độ phủ định sạch trơn quá khứ hoặc kế thừa thiếu chọn
lọc đối với cái cũ.
+ Đồng tình ủng hộ cái mới, bảo vệ cái mới, cái tiến bộ.
II.Tài liệu, phương tiện và kĩ năng sống:
1. Tài liệu: SGK, sách chuẩn kiến thức kĩ năng, SGV, thiết kế bài giảng
bài tập tình huống lớp 10.
2. Phương tiện : máy chiếu, sơ đồ, phiếu học tập, đồ dùng trực quan liên
quan đến bài giảng, sử dụng giáo án điện tử, sưu tầm tranh ảnh liên
quan đến bài học.
3. Kĩ năng sống : Kĩ năng tư duy, phê phán, kĩ năng giải quyết vấn đề, kĩ
năng hợp tác, kĩ năng nhận thức …
III. Tiến trình lên lớp:
1. Kiểm tra bài cũ :
Câu 1: Hãy lựa chọn một phương án mà em cho là đúng duy nhất trong mỗi câu
sau:
1. Khái niệm chất (của triết học) được dùng chỉ :
a. Quy mô của sự vật hiện tượng
b. Trình độ của sự vật hiện tượng
c. Cấu trúc và phương thức liên kết của sự vật hiện tượng
d. Những thuộc tính cơ bản vốn có và tiêu biểu của sự vật, hiện
tượng
2. Khái niệm lượng (của triết học) được dùng chỉ :
a. Những thuộc tính cơ bản vốn có và tiêu biểu của sự vật, hiện
tượng.
b. Quy mô, số lượng, trình độ, tính chất… của sự vật hiện tượng
c. Cấu trúc và phương thức liên kết của sự vật, hiện tượng
d. Cách thức vận động, phát triển của sự vật, hiện tượng .
3. Điểm giới hạn mà tại đó sự biến đổi về lượng làm thay đổi chất của sự
vật hiện tượng được gọi là :
A. Điểm đến B. Điểm nút C. Độ D. Tất cả đều
CH2: để xây dựng một toà nhà mới, hiện
đại vào vị trí khu nhà ổ chuột ở ngoại ô
Học sinh:
- CH1: Bỏ nội quy cũ thay vào đó nội
thành phố, điều đầu tiên họ phải làm gì ?
CH3: Bác An muốn mua 1 cái Tivi mới để
thay cho cái Tivi hiện tại ở phòng khách
đang bị hỏng Bác An phải làm gì?
CH? Vậy phủ định là gì ?
Giáo viên: (chiếu hình ảnh và các câu hỏi
lên màm hình gọi học sinh trả lời nhanh)
Giáo viên: kết luận, bổ sung:
Để cái mới, tiến bộ ra đời thay vào vị trí
cái cũ, lạc hậu, không phù hợp thì cần xoá
bỏ sự tồn tại của sự vật cũ. Việc xoá bỏ sự
tồn tại sự vật như thế được gọi là phủ định
– Học sinh ghi nhớ khái niệm
+ Tìm hiểu nội dung phủ định biện
chứng và phủ định siêu hình.
Hoạt động 2: Giáo viên sử dụng
phương pháp thảo luận nhóm nhỏ và dùng
đồ dùng trực quan, hình ảnh, máy vi tính
kết nối màn hình…
Giáo viên chia lớp thành 3 nhóm, thời
gian thảo luận 5 phút nội dung thảo luận
như sau :
quy mới …
- CH1: Phải phá bỏ các ngôi nhà cũ
- CH3: Bác An phải bán đi hoặc bỏ đi
cái ti vi cũ …
CH2 ? Trong 2 cách phủ định đó, cách
nào diễn ra do sự tác động từ bên ngoài ?
Cách nào diễn ra ngay trong bản thân sự
vật ?
Giáo viên kết luận : Như vậy, từ sự phân
tích của các nhóm chúng ta thấy có hai
nở và có những giống gà mới Cách
thứ nhất diễn ra do có sự can thiệp từ
bên ngoài Còn cách thứ 2 diễn ra ngay
trong bản thân sự vật hiện tượng…
a/ Phủ định siêu hình (HS ghi nhớ)
là sự phủ định được diễn ra do sự can
cách phủ định hoàn toàn khác nhau. Phủ
định theo cách của nhóm 1, là phủ định
do sự tác động từ bên ngoài, xoá bỏ sạch
trơn sự tồn tại của sự vật gọi là phủ định
siêu hình. Còn cách phủ định của nhóm
2, là sự diễn ra trong bản thân sự vật có
kế thừa những yếu tố tích cực,tiến bộ,
phủ định như thế gọi là phủ định biện
chứng .
Giáo viên: cho học sinh lấy thêm một số
ví dụ thực tiễn khác để học sinh hiểu rõ
bài hơn.
(Hình ảnh thực tiễn để học sinh quan sát)
Ví dụ : (PĐBC) Sự phát triển của xã hội
từ thấp lên cao:
NT-CHNL-PK-TBCN-XHCN
Hoạt động 3 : Phân biệt sự khác nhau
giữa phủ định biện chứng và phủ định siêu