BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2 NGUYỄN THỊ HUYỀN
ĐẶC ĐIỂM NGHỆ THUẬT KÝ
HOÀNG PHỦ NGỌC TƢỜNG Chuyên ngành: Lí luận văn học
Mã số: 60 22 01 20
LUẬN VĂN THẠC SĨ
NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS. TS. ĐOÀN ĐỨC PHƢƠNG
liệu, tài liệu trong luận văn đều có nguồn gốc cụ thể, rõ ràng.
Học viên
Nguyễn Thị Huyền
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1. Lí do chọn đề tài 1
2. Lịch sử vấn đề 2
3. Mục đích, đối tượng, phạm vi nghiên cứu 5
4. Phương pháp nghiên cứu 5
5. Đóng góp của luận văn 6
6. Cấu trúc luận văn 6
Chương 1. KHÁI LƯỢC VỀ THỂ KÝ VÀ HÀNH TRÌNH SÁNG TÁC CỦA
HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNG 7
1.1. Khái lược về thể ký 7
1.1.1. Khái niệm thể ký văn học 7
1.1.2. Đặc trưng thể ký văn học 8
1.2. Hành trình sáng tác của Hoàng Phủ Ngọc Tường 11
1.2.1. Đôi nét về cuộc đời 11
1.2.2. Hành trình sáng tác 13
1.2.3. Quan niệm sáng tác 16
Chương 2. NGHỆ THUẬT XÂY DỰNG HÌNH TƯỢNG NHÂN VẬT
TRONG KÝ HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNG 28
2.1. Khái lược về hình tượng, nhân vật 28
2.1.1. Khái lược về hình tượng nghệ thuật 28
2.1.2. Khái lược về nhân vật văn học và sự phân loại nhân vật theo cấu
trúc hình tượng 29
2.2. Các loại hình tượng, nhân vật trong ký Hoàng Phủ Ngọc Tường 30
thực nên ký đã lôi cuốn, gợi lòng tin nơi độc giả và đem đến cho người đọc
một cái nhìn chân thực nhất, tươi mới nhất về hiện thực cuộc sống muôn màu.
Khám phá sâu sắc về đối tượng, đề xuất được những tư tưởng quan niệm có ý
nghĩa đối với đời sống hiện thực, vừa chạm đến chiều sâu cảm xúc con
người… nên ký chính là nơi gặp gỡ của các nhân tố: trí tuệ và cảm xúc, sự
thật cuộc sống và nghệ thuật. Bằng vốn sống, bằng tài năng sáng tạo và cả
tâm hồn của người nghệ sĩ, các nhà văn viết ký đã khẳng định được vai trò
không thể thiếu được của mình trong việc xây dựng một nền văn học cân đối,
hoàn chỉnh nhiều màu sắc.
Trước năm 1975, ký Việt Nam phát triển mạnh và đạt được nhiều
thành tựu xuất sắc với các tên tuổi như Vũ Trọng Phụng, Vũ Bằng, Nguyễn
Tuân, Thạch Lam, Tô Hoài… Sau chiến tranh, thể loại này tiếp tục được tỏa
sáng với nhiều cây bút tâm huyết với văn học và cuộc sống, một trong đó có
Hoàng Phủ Ngọc Tường. Là nhà văn thể nghiệm sáng tác ở nhiều thể loại:
truyện ngắn, thơ, ký, nhàn đàm… thể loại nào ông cũng có những thành công
nhất định, nhưng bạn đọc nhớ tới ông nhiều nhất vẫn là: Hoàng Phủ Ngọc
Tường – nhà viết ký tài ba. Với thể ký, Hoàng Phủ Ngọc Tường đã tìm thấy
thể loại phù hợp để chuyển tải hết những cảm xúc suy tư trăn trở của một đời
cầm bút và như lời nhận xét của nhà văn Nguyên Ngọc “Anh là một trong số
mấy nhà văn viết ký hay nhất của văn ta hiện nay” [87,tr.846]. Có thể nói,
trong dòng ký hiện đại Việt Nam, ký Hoàng Phủ Ngọc Tường là một tiếng nói
rất riêng, cũng là sự tiếp nối sáng tạo, sự khẳng định sức sống vững bền của
thể loại nói chung. Với đề tài Đặc điểm nghệ thuật ký Hoàng Phủ Ngọc
- 2 -
Tường, người viết mong muốn đóng góp một cái nhìn đầy đủ hơn về nghệ
thuật xây dựng hình tượng nhân vật và các phương thức biểu hiện của ký
Hoàng Phủ Ngọc Tường – một trong những yếu tố góp phần làm nên phong
cách và vị trí của Hoàng Phủ Ngọc Tường trong sự vận động của ký Việt
Nam đương đại.
2. Lịch sử vấn đề
tính văn hóa và chất Huế trong các sáng tác của Hoàng Phủ Ngọc Tường.
Khám phá vẻ đẹp văn chương của những trang ký viết về thiên nhiên
có các bài: Huế vẫn xanh và Tường vẫn trong (báo Văn hóa Thể thao số 2/11/
1998) và Thế giới tồn tạo bởi sự lễ độ (báo Văn nghệ Tuổi trẻ số 22/8/1998 )
của Cầm Hải; Xin được nói về Hoàng Phủ Ngọc Tường như một thi sĩ của
thiên nhiên của Lê Thị Hường (Tạp chí Sông Hương số 161 – 7/2002 );
Hoàng Phủ Ngọc Tường và nỗi ám ảnh hoa phù dung của Ngô Minh (báo
Phụ nữ ngày 24/2/2005); Hoàng Phủ Ngọc Tường và tài sản sông Hương của
Kim Oanh (báo Tuổi trẻ số 29/11/2008 )…
Đánh giá về những đặc sắc nghệ thuật, nét độc đáo trong phong cách
nghệ thuật Hoàng Phủ Ngọc Tường cũng có nhiều bài viết, nhiều công trình
nghiên cứu. Trong bài viết Đọc Ngọn núi ảo ảnh, Hoàng Cát đã nhận định
“Hoàng Phủ Ngọc Tường có một phong cách viết bút ký văn học của riêng
mình”[7,tr.69]. Còn Nguyên Ngọc trong “Đọc Hoàng Phủ Ngọc Tường” thì
nhận xét “Hoàng Phủ Ngọc Tường là người hay suy nghĩ về lịch sử. Và những
mô tả của anh, cố gắng thật tỉnh táo, nhưng bao giờ cũng được chống đỡ bởi
những suy nghiệm sâu xa và ẩn ngầm về lịch sử; chính vì vậy mà những mô tả
ấy thật khách quan và không hời hợt”. Trần Đình Sử đã rất sắc sảo khi nhận
thấy“Nhịp điệu của ký hết sức chậm rãi (phải chăng đó là điệu slow rất Huế
trong văn xuôi) khác hẳn với phong cách Nguyễn Tuân đầy chất văn xuôi,
xương xẩu, gồ ghề với cái nhìn hóm hỉnh, ký Hoàng Phủ Ngọc Tường nghiêng
- 4 -
hẳn về chất thơ thi vị ngọt ngào”[52]. Lê Xuân Việt thì lại khẳng định “Sức
hấp dẫn của ký Hoàng Phủ Ngọc Tường là do tác giả sử dụng thành công các
thủ pháp nghệ thuật sinh động đa dạng” như “dùng những đoạn văn trữ tình
giàu cảm xúc để miêu tả thiên nhiên, khả năng tung hoành của cái tôi, nghệ
thuật sử dụng yếu tố lịch sử, yếu tố dân gian, truyền thống dân tộc”[95].
Ngay cả Đặng Tiến, một Việt kiều sống ở Paris sau khi “Đọc Tuyển tập
Hoàng Phủ Ngọc Tường” cũng đã đánh giá “Đặc điểm trong tác phẩm
Hoàng Phủ Ngọc Tường là chất trí tuệ, dựa trên vốn kiến thức sâu rộng về
- Phạm vi nghiên cứu:
Trong luận văn này, người viết tập trung khảo sát các tác phẩm ký đặc
sắc của Hoàng Phủ Ngọc Tường, chủ yếu là bút ký và tùy bút được tuyển
chọn trong tập 2 và tập 3 của Tuyển tập Hoàng Phủ Ngọc Tường do Trần
Thức tuyển chọn, gồm 80 tác phẩm (trọn bộ 4 tập), được nhà xuất bản Trẻ,
thành phố Hồ Chí Minh in và phát hành năm 2002. Ngoài ra người viết còn
khảo sát thêm hai tập ký của Hoàng Phủ Ngọc Tường mới được xuất bản gần
đây nhất là Trịnh Công Sơn và cây đàn Lya của hoàng tử bé (Nhà xuất bản
Trẻ, 2005) và Miền cỏ thơm (Nhà xuất bản Văn nghệ, 2007)
Đồng thời trong luận văn người viết cũng mạnh dạn so sánh đối chiếu
tác phẩm ký của Hoàng Phủ Ngọc Tường với ký của các nhà văn khác như
Nguyễn Tuân, Tô Hoài, Vũ Bằng. Nhưng các nghiên cứu, so sánh đó không
được tách ra thành mục riêng mà đặt trong hệ thống các tác phẩm của Hoàng
Phủ Ngọc Tường. Sự so sánh này không chỉ ra sự hơn kém giữa các nhà văn
mà chỉ giúp hiểu sâu sắc hơn về những nét nghệ thuật độc đáo của ký Hoàng
Phủ Ngọc Tường.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, người viết sử dụng một số phương pháp sau:
- Phương pháp thống kê, phân loại
- 6 -
- Phương pháp loại hình
- Phương pháp so sánh, đối chiếu
- Phương pháp phân tích, tổng hợp
- Phương pháp lịch sử - xã hội
- Phương pháp tiếp cận thi pháp học
Kết hợp với các phương pháp nghiên cứu chính trên, người viết còn sử
dụng một số phương pháp khác như phương pháp tiểu sử, phương pháp cấu
trúc … để làm rõ hơn nữa những đặc điểm nghệ thuật mà nhờ đó ký Hoàng
Phủ Ngọc Tường đi vào lòng bạn đọc các thế hệ.
5. Đóng góp của luận văn
học Việt Nam đương đại, ký là một thuật ngữ được dùng để gọi tên một thể
loại văn học bao trùm nhiều thể hoặc tiểu loại: bút ký, hồi ký, du ký, ký sự,
phóng sự, tùy bút, tạp văn, tản văn tiểu phẩm(ét-xe)…”.Tác giả cũng chỉ rõ
đặc trưng của ký là “thể loại nằm giữa báo chí và văn học”, “là sự hợp nhất
truyện và nghiên cứu” (M. Gorki) và là sự “nhức nhối của trí tuệ” [3,tr.220].
Trong bài Ký, một thể loại văn học có giá, tác giả Lê Minh đã có
những đánh giá chung nhất về thể ký: “sức mạnh của kí là công bố những sự
thật từ tâm huyết của tác giả từ nhức nhối trí tuệ và tình cảm của tác giả
trước thời cuộc. Người viết ký phải tìm được cái đẹp(…). Người viết ký phải
hết sức tỉnh táo (…) phải luôn tìm được nguồn kiến thức tự trau dồi, nhìn thực
tế với con mắt của nhà văn nhưng tầm suy nghĩ của một nhà nghiên cứu khoa
học xã hội. Và chỗ đứng luôn luôn là người trong cuộc” [3,tr.260].
Như vậy trong quá trình xác định thể loại, các nhà nghiên cứu đã có
nhiều cách tiếp cận để nhận diện ký, nhưng cho đến nay giới lí luận văn học
vẫn chưa đưa ra được một hệ thống lý thuyết nhất quán cho thể loại văn học
này. Tuy nhiên, vẫn có thể khẳng định ký là tên gọi cho một nhóm thể tài nằm
- 8 -
ở phần giao nhau giữa văn học và cận văn học (báo chí, chính luận, ghi chép
tư liệu các loại), chủ yếu là văn xuôi tự sự. Các thể ký văn học chủ yếu là các
hình thức ghi chép linh hoạt trong văn xuôi với nhiều dạng tường thuật, miêu
tả, biểu hiện, bình luận về những sự kiện và con người có thật trong cuộc
sống, với nguyên tắc phải tôn trọng tính xác thực và chú ý đến tính thời sự
của đối tượng miêu tả.
1.1.2. Đặc trưng thể ký văn học
Trong cuốn Giáo trình Lí luận văn học các tác giả có viết “Về ký, thực tế
là không thể nói đến cái gì xác định được đặc trưng của thể loại” [32,tr.421].
Tuy nhiên nói như vậy không có nghĩa là không thể xác định được các đặc
trưng để phân biệt ký với các thể loại khác. Ký vẫn có những đặc trưng riêng
rất dễ nhận thấy bởi ký cũng như bất kì thể loại văn học nào đều bắt nguồn từ
cuộc sống, nhưng mức độ phản ánh cuộc sống của mỗi thể loại là khác nhau.
khác nhau. Ký văn học cũng lấy việc tái tạo thông tin sự thật làm cơ sở,
nhưng nó không chỉ đơn thuần thông tin về sự kiện xã hội mà còn nhằm phản
ánh cái đẹp, những giá trị, ý nghĩa xã hội - thẩm mĩ của con người. Vì thế hư
cấu được quyền sử dụng rộng rãi trong tác phẩm ký ở những “thành phần
không thật xác định” như nội tâm của nhân vật, những cảnh sắc thiên nhiên
hay trong cảm xúc trữ tình của nhân vật và cả những nhân vật phụ xuất hiện
trong tác phẩm. Nhà văn M.Gorki từng khẳng định “hư cấu nghệ thuật là rút
ra từ toàn bộ những yếu tố hiện thực cái ý nghĩa chủ yếu của nó và thể hiện
thành hình tượng”. Ở Việt Nam, nhà văn Nguyễn Tuân cũng như tác giả
Hoàng Phủ Ngọc Tường đều đề cao việc hư cấu trong ký. Theo Nguyễn Tuân
“hư cấu không phải là tách rời thực tiễn và thực tế cuộc sống, mà chính là rất
gắn bó với cuộc sống” [3, tr.209], ông cũng cho rằng “cách diễn đạt của thể
ký cũng rất đa dạng và phức tạp (…). Ký có quyền dùng tất cả các cách của
truyện, kịch, thơ ca, và các cách thức của điện ảnh, sân khấu, ca vũ, hội họa
- 10 -
điêu khắc…” [3,tr.217]. Như vậy, tôn trọng tính xác thực của đối tượng miêu
tả và vận dụng hư cấu để hỗ trợ trong sáng tạo là vấn đề cần thiết và có thể
kết hợp được trong phạm vi của thể loại ký.
Về hình tượng tác giả trong thể ký, bất kì một tác phẩm nghệ thuật
nào cũng cần có vai trò của tác giả, bởi tác phẩm văn học là đứa con tinh thần
của các nhà văn. Trong mỗi thể loại văn học, hình tượng tác giả lại có sự biểu
hiện khác nhau. Với các thể loại như kịch, tiểu thuyết, truyện ngắn cái tôi tác
giả thường không lộ diện trực tiếp mà ẩn mình. Nhà văn thường bộc lộ cái
nhìn, quan điểm, tư tưởng của mình thông qua hình tượng nhân vật, qua các
sự kiện. Với thơ ca, cái tôi tác giả được bộc lộ rõ nhưng phải qua thao tác
chuyển hóa thế giới nội tâm vào một nhân vật có tính hư cấu là nhân vật trữ
tình. Còn trong các tác phẩm ký, tác giả vừa là người tiếp cận cuộc sống, vừa
khái quát ý nghĩa xã hội thẩm mĩ của các chi tiết, sự kiện, con người được ghi
chép, phản ánh trong tác phẩm. Để viết được một tác phẩm ký có sức lôi cuốn
người đọc, người viết phải hòa mình vào cuộc sống để cảm nhận tất cả những
Hoàng Phủ Ngọc Tường sinh ngày 9 tháng 9 năm 1937 tại Huế, quê
gốc ở làng Bích Khê, xã Triệu Long, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị.
Nhưng cuộc đời ông chủ yếu gắn liền với xứ Huế, bởi đây là nơi Hoàng Phủ
Ngọc Tường “đã sinh ra, lớn lên, đã đấu tranh và chiến đấu, đã yêu thương,
đã sống một cuộc đời công dân và một cuộc đời riêng tư” [88,tr.31]. Chính vì
vậy, thiên nhiên, cuộc sống, con người nơi mảnh đất kinh kì mộng và thơ này
đã đi vào trong các trang văn và thơ của ông một cách tự nhiên, hồn hậu
nhưng cũng vô cùng sống động, chất Huế đã làm nên nét rất riêng cho ký
Hoàng Phủ Ngọc Tường.
Xuất thân trong một gia đình chịu ảnh hưởng sâu sắc của Nho học, lớn
lên ở mảnh đất kinh kì nơi ở của các bậc vua chúa – nơi Nho giáo phát triển
mạnh mẽ, nên Hoàng Phủ Ngọc Tường cũng chịu ảnh hưởng sâu sắc của “mùi
- 12 -
hương sách vở của các Nho sĩ Trung Quốc với bộ văn phòng tứ bảo riêng, là
bút nghiên, giấy mực”. Nhưng thời đại mà ông sống lại là thời đại mà người
ta đã “vứt bút lông đi, dắt bút chì” (Tú Xương), tuổi trẻ của Hoàng Phủ Ngọc
Tường là tuổi trẻ học chữ quốc ngữ, đọc sách Tây, chịu ảnh hưởng của văn
hóa phương Tây… Những hiểu biết về văn hóa Đông, Tây đã tạo nên cho
trang văn của ông sự thâm trầm, sức hấp dẫn đặc biệt.
Cuộc đời Hoàng Phủ Ngọc Tường tiêu biểu cho cuộc đời của một
người trí thức Việt luôn tranh đấu để vươn lên hướng đến cái Chân - Thiện -
Mĩ và có thể chia ra làm các giai đoạn như sau:
Tốt nghiệp Đại học Sư phạm Sài Gòn khóa I ban Việt Hán năm 1960,
nhận bằng cử nhân Triết Đại học Văn khoa Huế năm 1964. Dạy học ở trường
Quốc học Huế từ 1960 đến 1966. Trong những năm sống dưới chế độ Mỹ -
Diệm, ông hăng hái tham gia phong trào đấu tranh đòi hòa bình và thống nhất
Tổ quốc của học sinh, sinh viên và trí thức Huế, hòa mình vào cuộc kháng
chiến chống Mỹ của dân tộc. Thời gian này, ông từng là Tổng thư ký Tổng
hội sinh viên Huế, từng bị chính quyền bắt giam rồi thả tự do nhân vụ đảo
chính tháng 11/1963 của quân đội Sài Gòn. Từ năm 1964 đến năm 1966 ông
cho sự nghiệp văn học của mình. Ông từng tâm sự: “Bước ra khỏi cuộc chiến
tranh, tôi nghiệm ra một điều là tôi cần phải nói về những gì tôi đã trải
nghiệm. Tiểu thuyết và truyện ngắn có vẻ như không giúp được tôi làm điều
này. Thế là tôi chọn ký, thể loại gần nhất với hiện thực đời sống. Với thể ký,
tôi có thể nói tùy thích những gì đang diễn ra trong tâm hồn tôi, những trải
nghiệm đẹp và cả những khổ đau nữa” [92]. Đến với ký để phản ánh một
cách đầy đủ nhất, chân thực nhất sắc màu của cuộc sống, đây cũng là xu
hướng của văn học Việt Nam thời kì đổi mới. Đối với Hoàng Phủ Ngọc
Tường, có lẽ ngòi bút của ông hầu như chỉ dành riêng cho đất nước và con
người Việt Nam. Ta có thể bắt gặp mọi miền của Tổ quốc trong những trang
- 14 -
ký nồng nàn tình yêu quê hương, đất nước và con người của ông. Đề tài của
ký thực sự rộng lớn, đi từ rừng hồi Lạng Sơn đến mảnh đất mũi Cà Mau, từ
các nhân vật lịch sử như Nguyễn Trãi, Nguyễn Huệ… đến các nghệ sĩ như
Trịnh Công Sơn, Phùng Quán… đều đi vào trang viết của ông.
Là một người sinh ra và lớn lên ở Huế, nên Hoàng Phủ Ngọc Tường
chịu nhiều ảnh hưởng của văn hóa và con người xứ Huế. Do đó ông dành
phần lớn những trang viết của mình để nói về thiên nhiên, con người Huế
cũng như những truyền thống đặc sắc của chốn kinh kì xa xưa.
Đọc văn ông, chúng ta không chỉ thâu nhận đời sống, lịch sử, văn hóa,
triết học, kinh tế hay chính trị mà còn cảm nhận được cả một tình yêu lớn đối
với con người, dân tộc, thời đại. Ngay cả khi mắc trọng bệnh, nhưng với sự
giúp đỡ của người thân, ông vẫn sáng tác, viết báo và cho xuất bản nhiều cuốn
sách có giá trị.
Trong suốt chặng đường viết văn của mình Hoàng Phủ Ngọc Tường đã
xuất bản hàng chục tập bút ký, thơ, nhàn đàm.
- Bút ký
Ngôi sao trên đỉnh Phu Văn Lâu (1971)
Rất nhiều ánh lửa (1979)
Ai đã đặt tên cho dòng sông?(1984)
Nam sau 1975. Đánh giá chung về sự nghiệp văn chương của Hoàng Phủ
Ngọc Tường sách Ngữ văn lớp 12 viết: “Hoàng Phủ Ngọc Tường là một trong
những nhà văn chuyên về bút ký. Nét đặc sắc trong sáng tác của ông là sự kết
hợp nhuần nhuyễn giữa chất trí tuệ và chất trữ tình, giữa nghị luận sắc bén
với suy tư đa chiều được tổng hợp từ vốn kiến thức phong phú về triết học,
- 16 -
văn hóa, lịch sử, địa lí… Tất cả được thể hiện qua lối hành văn hướng nội,
súc tích, mê đắm và tài hoa.”
1.2.3. Quan niệm sáng tác
Trong sự nghiệp viết ký của mình, Hoàng Phủ Ngọc Tường cũng đã
đưa ra những quan điểm rất rõ ràng về thể loại văn học này để từ đó tìm ra
đường hướng, bước đi trên con đường sáng tạo nghệ thuật. Tìm hiểu quan
niệm của ông về thể loại giúp chúng ta có được phương hướng để đi vào mở
cánh cửa nghệ thuật trong các tác phẩm ký của nhà văn.
1.2.3.1. Quan niệm của Hoàng Phủ Ngọc Tường về thể ký
Quan niệm của ông thường được bộc bạch như những lời tâm sự đầy tâm
huyết. Bởi vì, lí luận về thể loại của ông không phải là lí thuyết suông, đó là
những gì ông đúc rút được bằng thực tế sống và sáng tác.Từ khi chưa phải là
một nhà văn, khi tên tuổi chưa được biết đến nhiều, khi mới chỉ là một nhà báo
tham gia kháng chiến, lăn lộn với thực tế khốc liệt của cuộc kháng chiến chống
Mỹ, Hoàng Phủ Ngọc Tường được nghe, nhìn, trải nghiệm thực tế, điều đó
giúp ông nhanh chóng nhận ra sở trường sáng tác của mình và đến với thể ký.
Nhà văn kể lại rằng khi ông quyết định đến với thể ký thì thể loại này đang bị
“thất sủng”. Trên văn đàn nhiều người chĩa mũi nhọn công kích với thái độ
xem thường ký, họ cho rằng “ký chỉ được xem là một loại thủ công nghiệp
mang tính chất gia công (…), là một sản phẩm văn học thứ cấp”, “không giàu
truyền cảm và tính điển hình so với truyện ngắn và tiểu thuyết” [88,tr.163].
Nhưng Hoàng Phủ Ngọc Tường đã bác bỏ những quan niệm sai trái đó, trong
bài viết Một vài suy nghĩ về thể ký ông đã chứng minh sức sống, vai trò của ký
trong lịch sử với các tác phẩm bất hủ: đầu tiên là Platon với Tê-ét – bút ký
thực tiễn sáng tác của mình đã nhận thức rất rõ “hư cấu là một quá trình tất
yếu của nghệ thuật” và “hư cấu tồn tại trong ký như là một phẩm chất mỹ
học, nhờ đó ký giữ vững tư cách văn học của mình” [88,tr.172]. Bàn về vấn
- 18 -
đề này ông khẳng định việc chọn lọc các dữ liệu, yếu tố cũng xem như là một
sự sáng tạo cần thiết hay nói cách khác nó gồm một quá trình loại bỏ. Trong
vô vàn những sự kiện, những va đập của cuộc sống xung quanh vào giác quan
của nhà văn, để cho ra đời một tác phẩm ký là một chặng đường dài mà anh
cần “loại bỏ ra khỏi thực tại những gì bị xem là thừa thãi”. Đây là công việc,
là thao tác tư duy, trí tuệ không kém phần vất vả, sáng tạo. Nhưng bên cạnh
đó, quá trình viết ký không thể thiếu yếu tố “hư cấu- thêm”. Hư cấu sẽ giúp
cho nhà văn có thể mở rộng khoảng không gian tự do để thoải mái, tự nhiên
bộc lộ cảm xúc, tư tưởng, tâm trạng của mình dù trước những vấn đề mang
tính khách quan khoa học. Hư cấu nằm trong chính cảm xúc tưởng tượng, liên
tưởng, hồi ức, suy nghiệm… của người viết ký. Các tác phẩm ký của Hoàng
Phủ Ngọc Tường đã chứng minh tính đứng đắn của quan niệm này vì trước
mọi vấn đề, sự kiện ông cũng không bị bó buộc bởi bất cứ điều kiện, tính chất
gì của ký nói chung và các sự kiện ấy nói riêng. Với cách xưng hô quen thuộc
ở ngôi thứ nhất “tôi”, nhà văn đã để mình phiêu du đến góc bể chân trời, trải
qua những hành trình dài để đi tìm cái Đẹp trong một thế giới vô tận. Dung
hòa cho tất cả những thắc mắc, trăn trở khi quan niệm về tính chất hư cấu của
thể ký, nhà văn khẳng định: “Qua vai trò trung gian của chủ thể, nhà văn
thường tìm cách nối liền thế giới bên ngoài và thế giới bên trong thầm kín của
mình, bổ sung vào những dữ kiện của thực tại bằng những dữ kiện của nội
tâm (tưởng tượng, xúc cảm, hoài niệm, suy nghiệm…), gắn liền cái hư với cái
thực trong một thể thống nhất” [88,tr175].
Từ đó, Hoàng Phủ Ngọc Tường đã đặt ra những yêu cầu, nhiệm vụ
buộc mình phải hướng tới. Theo ông, người viết ký trước hết phải biết “tôn
trọng sự - kiện – tính của những gì đã xảy ra”, phải “tự đặt mình trước những
kỷ luật nghề nghiệp rất khắt khe; phong phú trong tư liệu, chính xác trong
của tác giả. Lí giải được quan niệm về đời sống xã hội và con người của
- 20 -
Hoàng Phủ Ngọc Tường sẽ là một trong những chìa khóa quan trọng trong
việc giải mã những đặc điểm nghệ thuật trong ký của ông.
Tuy quê gốc của Hoàng Phủ Ngọc Tường thuộc tỉnh Quảng Trị nhưng
ông lại được sinh ra và lớn lên tại Huế. Huế mộng, Huế thơ từ lâu đã là cái
nôi của các danh nhân, nghệ sĩ. Chính mảnh đất này đã nuôi dưỡng và hun
đúc cho tâm hồn nghệ sĩ của Hoàng Phủ Ngọc Tường ngay từ thuở ấu thơ. Vì
vậy nên chúng ta không hề ngạc nhiên khi Huế trở thành đề tài trọng tâm
trong văn nghiệp của ông suốt mấy chục năm qua. Nói như vậy không có
nghĩa là Hoàng Phủ Ngọc Tường chỉ thành công khi viết về Huế mà nhà văn
viết về nhiều vấn đề và ở nhiều miền đất khác nhau, đã đặt chân đến đâu là
ông đều có tác phẩm về nơi đó. Nhưng điều quan trọng là trong sáng tác của
mình ông luôn ý thức khai thác và tái hiện lại vấn đề bằng tâm thức văn hóa
dân tộc. Nhà văn Ma văn Kháng đã từng phát biểu trong phim tài liệu Miền
cỏ thơm dâng hiến: “Văn chương Hoàng Phủ Ngọc Tường viết bằng chiều
sâu văn hóa, bằng những cảm hứng nhân văn”; Phạm Xuân Nguyên thì cho
rằng: “Ký Hoàng Phủ Ngọc Tường là từ thực tế thoát ra khỏi thực tế, sau khi
ngoảnh vào lịch sử văn hóa hiện trở ra đời” [87,tr.856]. Đúng như vậy,
Hoàng Phủ Ngọc Tường đã bằng “tâm thức văn hóa” để nhìn nhận về cuộc
sống và con người, điều này đã tạo nên chiều sâu, nét độc đáo riêng cho
những trang ký của ông.
Đọc Hoàng Phủ Ngọc Tường đâu đâu ta cũng gặp một tâm hồn luôn
thiết tha với đất nước và dân tộc. Những tình cảm sâu xa nhất của tác giả về
đất nước, về dân tộc, về cuộc sống được biểu hiện ngay từ những tựa đề đầy
sức gợi cảm và lay động: Như con sông từ nguồn ra biển, Châu thổ ngàn
năm, Đứa con phù sa, Đất mũi, Rừng nước mặn… Từ đỉnh Chi Ma địa đầu
đất nước đến tận cùng đất mũi Cà Mau, từ những dòng sông cuồn cuộn phù sa
ẩn chứa sức mạnh ngàn năm của châu thổ sông Hồng đến những ngọn núi
trầm mặc thời gian… tất cả đều cùng nhau tạo nên dáng hình đất nước.