Tư tưởng nữ quyền trong tiểu thuyết của nhất linh - Pdf 30

TƯ TƯỞNG NỮ QUYỀN
TRONG TIỂU THUYẾT NHẤT LINH
Nguyễn Thị Thanh Thuỷ
1

hất Linh là nhà văn, nhà báo cổ súy cho cách tân, dân chủ, đấu tranh
mạnh mẽ cho vấn đề nữ quyền. Tư tưởng nữ quyền là hạt nhân tạo nên
điểm thống nhất giữa con người cải cách và con người văn chương của Nhất
Linh. Đây là tư tưởng có tính cốt lõi, chi phối các hoạt động xã hội, văn hoá,
văn học của ông, góp phần tạo dựng tên tuổi một nhà văn Nhất Linh gắn liền
với giai đoạn văn học 1932 – 1945, uy tín và sáng chói. Tư tưởng nữ quyền
trong tiểu thuyết Nhất Linh được thể hiện trên các phương diện cơ bản:
quyền bình đẳng giữa con người với con người; quyền tự do hôn nhân; quyền
được học hành đỗ đạt; quyền tự do ngôn luận.

1. MỞ ĐẦU
Tư tưởng nữ quyền chính thức xuất hiện trên thế giới từ cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ
XIX với những "thuyết nữ quyền", "phong trào nữ quyền" , đã tấn công vào các định chế xã
hội và tôn giáo tước đi quyền sống, quyền yêu và hạnh phúc của người phụ nữ, khiến họ chịu
nhiều thiệt thòi. Đầu những năm 20 của thế kỷ XX, khái niệm nữ quyền được giới thiệu và
thảo luận sôi nổi ở Việt Nam trên báo chí. Song về vấn đề này, thực tế, có nhiều quan điểm
trái chiều: có khuynh hướng ủng hộ nữ quyền, cho đây là tư tưởng tiến bộ "hợp với nhân đạo
và công lý"; có khuynh hướng phê bình, phủ nhận; có khuynh hướng dân chủ nhân văn, cho
rằng cần phải đấu tranh giải phóng người phụ nữ khỏi những ràng buộc của lễ giáo phong
kiến
Được thành lập năm 1934, Tự lực văn đoàn đã cho ra đời một loạt tiểu thuyết luận đề đề
cao con người cá nhân, chống lại lễ giáo phong kiến. Nhất Linh, với tư cách là người đứng
đầu, định hướng toàn bộ hoạt động của nhóm, đã thể hiện trực tiếp quan điểm về vấn đề giải
phóng cá nhân, mà cốt lõi là tư tưởng nữ quyền thông qua các tiểu thuyết tiêu biểu.
2. NỘI DUNG
2.1. Quyền bình đẳng giữa con người với con người, giữa nam giới và phụ

trinh trong tâm hồn là đáng quí thôi". Khi xung đột trong Đoạn tuyệt lên tới đỉnh điểm, Loan
nhận ra bấy lâu nàng đã hèn nhát sống theo tục lệ, không thể và không dám phá tan những tục
lệ mà cái học của nàng cho biết là đáng bỏ, đáng phá. Giờ đây, nàng quyết tâm đoạn tuyệt với
cái cổ hủ đó để tiến tới sự công bằng của cuộc đời mới, tiến tới sự bình đẳng giữa con người
với con người, giữa nam giới và phụ nữ. Xuất phát từ tư tưởng ấy, Loan có nhiều cử chỉ, lời
nói, hành vi rất quyết liệt. Loan lớn tiếng trước mẹ chồng: "  Không ai có quyền chửi tôi,
không ai có quyền đánh tôi", hoặc: " Loan vuốt tóc ngược lên nhìn thẳng vào mặt mẹ
chồng:  Bà cũng là người, tôi cũng là người, không ai hơn kém ai. Bà đánh tôi, tôi
không "
Bị làm nhục, bị đánh chửi, nguyền rủa, Loan "cảm thấy phẩm giá mình lúc ấy không
bằng phẩm giá một con vật".
Đây là quan điểm tiến bộ, còn nguyên giá trị đến ngày hôm nay (nhất là ở vùng nông
thôn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số) khi vẫn còn tình trạng cha mẹ ép duyên con cái, người
phụ nữ không được bình đẳng trong gia đình, ngoài xã hội so với nam giới, định kiến và
những phân biệt đối xử với phụ nữ đang cản trở, hạn chế sự phát triển cũng như cống hiến
của họ
Nửa chừng xuân tiếp tục là cuộc tiến công vào lễ giáo phong kiến, khẳng định quyền tự
do, bình đẳng của lớp thanh niên trí thức. Tư tưởng, chủ đề tác phẩm được triển khai trong
một câu chuyện có nhiều cảnh đời thực với các nhân vật có cá tính, bản sắc và số phận. Mai,
Lộc, Huy đều là những thanh niên mang tư tưởng đối lập với nền luân lý cũ. Bà Án đề cao
"ngũ luân ngũ thường", "tứ đức tam tòng", trong hôn nhân thì phải "môn đăng hộ đối" ,
nhưng thực chất là mất hẳn lòng nhân ái và sự tôn trọng nhân cách đối với những người
không cùng một đẳng cấp với mình. Bà đã bày mưu lừa gạt để chia rẽ tình yêu của Lộc và
Mai, rồi lại ngon ngọt dụ dỗ tìm cách bắt cháu về, và không dưới hai lần, bà đề nghị Mai về
làm lẽ của Lộc. Thẳng thắn phân tích, van lơn bà Án không được, Mai lớn tiếng khẳng định
"bẩm bà lớn nhà con không có mả lấy lẽ" và quyết định ra đi, từ bỏ Lộc để bảo toàn danh dự,
nhân phẩm của mình. Đó chính là lời tuyên chiến của Mai với thành trì lễ giáo và trật tự đạo
đức phong kiến trong cuộc đấu tranh đòi quyền bình đẳng của người phụ nữ trong gia đình.
Nhất Linh tập trung miêu tả thực trạng nam nữ bất bình đẳng trong hôn nhân  người đàn
ông có quyền "năm thê bảy thiếp" như anh họ Nhung, như chồng Loan Điều này nghiễm

Hiện thực xã hội đó được Nhất Linh quan sát kỹ càng và miêu tả chân thực trong các tác
phẩm. Khi miêu tả, Nhất Linh không chỉ dừng lại ở việc tái hiện hiện thực vốn có, mà có
khuynh hướng phân tích sâu hơn, tìm ra căn nguyên của những bất công, định kiến, quan
điểm cổ hủ, lạc hậu vê người phụ nữ đã ăn sâu vào từng nếp nghĩ đó của mỗi con người. Các
phân tích sắc sảo của ông (thông qua các nhân vật nữ bất hạnh trong tác phẩm) giúp độc giả
nhận thức đầy đủ vấn đề, và ngược lại, hoặc không thể làm ngơ hoặc có thái độ ủng hộ, đồng
tình với những cô gái mới, hài lòng khi quyền tự do yêu đương, tự do hôn nhân được xác lập
một cách công khai và thắng lợi. Minh, Nhung bênh vực Phương, Lũy buộc bà Nghè phải cho
hai người lấy nhau. Nhung cứ tìm đến và yêu Nghĩa mà bà Án không thể ngăn cản được.
Lâm, Thảo, Độ hết sức giúp đỡ cho Dũng đến với Loan để hai người được hạnh phúc. Huy
luôn bênh vực mối tình của Lộc với Mai. Đặc biệt, Nghĩa, Dũng là những "trai tân", nhưng
sẵn sàng vượt qua mọi rào cản, lễ nghi để đến với những người như Nhung đã có một đời
chồng, thậm chí như Loan  người đàn bà mang tiếng giết chồng.
Câu chuyện tình yêu trong Nắng thu phản ánh một quan niệm mới, hiện đại và nhân đạo
của Nhất Linh. Cũng nhằm thể hiện tư tưởng đấu tranh cho quyền yêu và được yêu của người
phụ nữ, nhưng nhân vật nữ chính trong tác phẩm khác hẳn những Loan, Nhung, Tuyết , đó
là cô gái câm bất hạnh, cô đơn, số phận nửa tôi đòi, nửa con nuôi, con ở trong một gia đình
trưởng giả. Câu chuyện tình yêu giữa Phong đối với Trâm mang đến cho người đọc những
cảm xúc sâu đậm, ấm áp. Người con gái tàn tật, tiềm ẩn một vẻ đẹp bên trong, khát khao một
tình yêu chân chính phải sống cạnh những con người nhỏ nhen, tầm thường, ích kỉ. Dù vậy,
ẩn sau vẻ hiền thục, lặng thầm của cô gái câm đó, có sự thức tỉnh ý thức cá nhân của cái tôi
khao khát được sống, được san sẻ, yêu thương.
Phong và Trâm tự nguyện yêu nhau vượt qua chênh lệch đẳng cấp, hoàn cảnh gia đình.
Phong là học sinh trung học, con nhà dòng dõi; Trâm chỉ là cô gái mồ côi, tàn tật, nghèo khổ.
Tình yêu của họ mặc dù gặp chông gai, bị cản trở, nhưng không bị ràng buộc bởi đạo đức
luân lý phong kiến, đến cách thức yêu nhau của họ cũng hiện đại. Khi nhận ra tình yêu của
mình dành cho nhau, họ tìm gặp, chụp ảnh, tặng quà, bộc bạch tình yêu bằng lời: "Anh nghĩ
thương em lắm em khổ sở mà anh không có cách gì giúp được em", "anh cam đoan rằng
sau này em sẽ là vợ anh", và họ có những cử chỉ âu yếm: "Phong kéo Trâm ngả vào vai mình:
hai điệu thở hoà hợp, hai tâm hồn rung động như cùng đương sống một thế giới lặng lẽ, thần

phát triển đi lên trong quan niệm của nhà văn, càng ngày chủ nghĩa cá nhân càng được thể
hiện rõ ràng, mạnh mẽ.
Tuyết không coi hôn nhân là cái đích đến của tình yêu, chẳng qua hôn nhân chỉ là sự
ràng buộc cứng nhắc không cần thiết. Về mặt này, quan niệm của Tuyết có thể không chấp
nhận được và cũng không nên khuyến khích, bởi nó có phần xa lạ với hoàn cảnh; tuy nhiên,
nó không quá xa lạ và không có gì sai trái. Ở góc độ thể hiện khát vọng, ý thức cá nhân về
một cuộc sống tự do trong hôn nhân, tự do tìm đến và chủ động sống với người mình yêu, tư
tưởng của Tuyết có thể chấp nhận được, bởi hôn nhân đôi khi không phải đã mang lại hạnh
phúc. Nó có thể là sự ràng buộc con người theo nghĩa vụ, trách nhiệm và bổn phận. Trong
trường hợp này, tình yêu tự do của Tuyết thể hiện khát vọng được sống với đúng mình, là
mình mà không chịu bất kỳ sự ràng buộc nào, không chịu bất kỳ lề thói, phép tắc nào.
Quan điểm tự do hôn nhân của Mai mang một màu sắc khác. Ban đầu, khi tình yêu nảy
nở, Mai đã sống với hạnh phúc ngập tràn trong tình yêu và sự bao bọc của Lộc. Được sống
với Lộc là hạnh phúc tột cùng mà cô không ngờ được cuộc đời ban tặng. Dù vậy, quãng thời
gian hạnh phúc đó thật ngắn ngủi. Mai đã phải sống trong sự buồn tủi, uất hận vì bị gia đình
Lộc xem thường, ghẻ lạnh và ruồng rẫy. Ngày đoàn tụ của đôi tình nhân đẫm nước mắt của
những ân hận muộn màng. Lòng cao thượng của người phụ nữ như Mai đã đưa cô đến quyết
định: cô không thể sống bên cạnh người yêu, nhưng từng giờ từng phút tâm hồn cô sẽ hướng
về với Lộc. Mai nghĩ đến một tình yêu không ràng buộc "Sao hai ta lẩn thẩn cứ quanh quẩn
mãi trong vòng ái ân, trong sự sum họp nhỉ. Ta không yêu nhau ở ngoài sự sum họp được
ư?". Chất lãng mạn trong tâm hồn Mai ít nhiều mang nét cao cả của sự hi sinh và lòng nhân
ái, làm thức tỉnh phần lãng mạn bay bổng ở Lộc "anh chỉ biết anh sẽ mãi mãi được sung
sướng vì anh tin rằng ngày ngày, tháng tháng lúc nào em cũng âu yếm nghĩ đến anh, như thế
cũng đủ an ủi anh rồi. Em ở xa anh nhưng tâm trí hai ta lúc nào cũng gần nhau thì trọn đời hai
ta vẫn gần nhau". Quan điểm trên có chút viển vông xa lạ, tuy nhiên, ở góc độ hiện thực, đó
là giải pháp duy nhất để Lộc và Mai vẫn trọn vẹn thuộc về nhau, được tự do yêu nhau mà
không chịu sự ràng buộc của gia đình, lễ giáo.
Trong công cuộc giải phóng người phụ nữ, Nhất Linh tiếp tục kêu gọi những người phụ
nữ goá bụa thoát khỏi sự ngăn cấm của đạo đức phong kiến giả dối. Ông cho rằng những goá
phụ có quyền tự do yêu đương, tự do tái hôn khi chồng họ đã mất, nhất là khi họ còn trẻ.

Thanh Quan, Đoàn Thị Điểm Với quan niệm "đàn ông gánh vác việc quan, đàn bà thì phải
lo toan việc nhà", người phụ nữ qua nhiều thế hệ chỉ được tôn vinh bởi mỹ từ "Nội tướng". Vì
vậy, việc học hành của người phụ nữ không được thực sự quan tâm. Đó là chưa kể "tam tòng,
tứ đức" và lễ giáo phong kiến đã cột chặt phần đời người phụ nữ Việt Nam sau lũy tre làng.
Đến đầu thế kỷ XX, ảnh hưởng của phong trào nữ quyền thế giới cùng với Quy chế chung
giáo dục Đông Dương ban hành 1917 đã làm cho các quan chức giáo dục của chính quyền
thực dân, các học giả tên tuổi, các nhà cách mạng phải có những bài diễn thuyết liên quan
đến vấn đề này.
Trong văn học, có lẽ đến Tự lực văn đoàn, vấn đề quyền học hành của người phụ nữ mới
được quan tâm, đề cao, thậm chí trở thành luận đề tranh luận gay gắt. Những nhân vật nữ của
Nhất Linh đa phần được học hành: thiệt thòi nhất là cô gái mù Trâm cũng biết đọc biết viết;
Mai vốn là con cụ Tú ngoài việc biết chữ nghĩa, phép tắc còn rất thông thạo sử sách; Tuyết 
một cô gái giang hồ  tỏ ra rất am hiểu kiến thức, văn hoá phương Tây; Loan thì đã được học
hành đến nơi đến chốn và có bằng cấp (bằng tiểu học) Trình độ và sự hiểu biết của Loan
khiến cho phái bảo tồn càng thêm tức tối, thậm chí ganh ghét, cho rằng Loan "hơi một tí thì
đem chữ ra khoe", đồng thời miệt thị gọi cô với tên "cô răng trắng".
Từ cuốn tiểu thuyết đầu tiên (viết cùng Khái Hưng), Gánh hàng hoa, Nhất Linh đã thể
hiện rõ tư tưởng coi trọng việc học hành của phụ nữ. Trong tác phẩm, "Minh chỉ phàn nàn
một điều là: Liên, phận gái, cha mẹ không cho được hưởng cái thú vui cắp sách đi học như
mình". Chàng có mong ước được dạy cho Liên cả chữ quốc ngữ, cả tiếng Pháp: "Em để anh
dạy em học quốc ngữ, em sẽ biết đọc, biết viết, em sẽ như mọi người khác, em cũng đọc
sách em cũng viết được thư ". Với chữ quốc ngữ thì chỉ cần "vài ba tháng là cùng" còn
tiếng Pháp thì "nếu mình chịu khó học chăm thời chỉ độ hai năm thôi". Nhà văn cũng xác
định và đề cao ý nghĩa của việc học đối với con người nói chung và người phụ nữ nói riêng:
mẫu tự Latinh rõ ràng dễ đọc, dễ nhớ, khi ai nấy đều biết đọc, biết viết thì "ngoài cái mục
đích kiếm ăn còn có một mục đích cao hơn là đi tìm hạnh phúc. Học để biết sung sướng, biết
hạnh phúc". Nếu không được học, thì không được đọc sách báo, không hiểu những gì thay
đổi bên ngoài, những tiến bộ của khoa học kỹ thuật chỉ quanh quẩn bên lũy tre làng.
Nhất Linh cũng cho rằng, hạn chế việc học hành của phụ nữ cũng chính là căn nguyên
dẫn đến những hủ tục và bất bình đẳng trong hôn nhân. Ông đã giải thích quan điểm ấy qua

muốt". Cho đến những lúc ăn chơi trác táng bên bạn bè, Tuyết vẫn thể hiện là vị thủ lĩnh có
bản lĩnh, hiểu biết, làm chủ tình huống với những bài hát tiếng Pháp, những bài thơ, vè hài
hước, có duyên Điều đó chứng tỏ cô có một quá trình được học hành, tích lũy kiến thức sâu
rộng nhiều mặt của cuộc sống.
Chính bởi vậy, Tuyết cùng với những nhân vật khác như Trâm (Nắng thu), Liên (Gánh
hàng hoa), Mai (Nửa chừng xuân), Loan (Đoạn tuyệt) đã nhận được sự bênh vực từ phía
tác giả. Nhà văn cho rằng, được học hành là quyền của tất cả mọi người, trong đó có người
phụ nữ. Tri thức, hiểu biết đối với bất cứ ai, thuộc giới tính nào, tầng lớp xã hội nào cũng đều
đáng được trân trọng, tôn vinh. Nó nâng cao giá trị con người cũng như góp phần đưa nhân
vật tiệm cận gần hơn với trái tim độc giả.
2.4. Quyền được tự do ngôn luận (bày tỏ quan điểm)
Cùng với việc bảo vệ quyền được học hành của người phụ nữ và ca ngợi những người
phụ nữ có hiểu biết, Nhất Linh cũng xây dựng hình tượng những cô gái mới có cá tính mạnh
mẽ, dám nghĩ, dám bày tỏ suy nghĩ, quan điểm cá nhân. Những đoạn hội thoại thể hiện quan
điểm của Liên, Mai, Nhung, Loan, Tuyết có thể coi là các trang viết đặc sắc, với những quan
điểm được thể hiện một cách trực diện, thẳng thắn, đầy tính triết lý, qua đó, luận đề của các
tác phẩm bộc lộ rõ.
Loan là một gái mới, có học thức. Từ khi còn ở với bố mẹ đẻ, cô đã thể hiện tư tưởng
mới, tiến bộ về quyền tự do, bình đẳng của người phụ nữ. Khi biết chuyện những người phụ
nữ khác vì bất hạnh trong gia đình gia trưởng, bị hành hạ, ngược đãi đến nỗi phải tìm đến với
cái chết, Loan không ngần ngại nêu lên quan điểm: "Khốn nạn, việc gì mà phải tự tử. Mẹ
chồng ác thì về nhà bố mẹ đẻ mà ở, tội gì rước khổ vào thân rồi đến nỗi tự tử". Cha mẹ Loan
tuy thấy con mình nói có lý, nhưng không khỏi ngạc nhiên, lo sợ. Ông bà mang máng thấy
con mình xa cách hẳn mình, thành một người ở xã hội khác hẳn cái xã hội Việt Nam bình
thường Ông Hai, bà Hai thuộc về hạng trung lưu, vốn sinh nhai về nghề buôn chiếu, chỉ biết
theo những tục lệ của ông cha để lại, không hề để ý rằng ở trong xã hội hiện có một sự thay
đổi to tát. Từ ngày cho con gái đi học, ông bà dần dần tiếp xúc với sự thay đổi đó. Nhưng
"đất lề quê thói", ông bà không dám làm khác để tạo tiếng cười cho thiên hạ. Bà vẫn nhắc
nhở con: "văn minh vừa vừa chứ, người ta mới chịu nổi".
Loan vẫn giữ nguyên quan điểm ấy khi bước vào cuộc đời một nàng dâu. Dù đã cố gắng

khía cạnh nào đó, chính là thể hiện cho quyền tự do được bày tỏ suy nghĩ, quan điểm một
cách thẳng thắn, trực diện của người phụ nữ, cho dù những quan điểm đó còn có lúc lệch lạc,
không nên cổ súy.
3. KẾT LUẬN
Đứng trên quan điểm nhân văn, nhân đạo, xuất phát từ khát vọng cá nhân của con người,
Nhất Linh đã đề cao nhân quyền, nữ quyền trên các bình diện: quyền bình đẳng, quyền tự do
hôn nhân, quyền được học hành, quyền ngôn luận. Hạt nhân của tư tưởng nữ quyền xuất phát
từ quan niệm của Nhất Linh về quyền bình đẳng giữa con người với con người, giữa nam giới
và phụ nữ. Từ đó, thúc đẩy đấu tranh cho quyền tự do hôn nhân  thứ nhân quyền mà người
phụ nữ sống trong xã hội cũ chịu nhiều nỗi áp bức. Nhà văn lựa chọn bối cảnh phù hợp
khuyến khích nhân vật vượt qua rào cản, lễ nghi, vượt qua sự sang hèn của thân phận để lựa
chọn người yêu, người bạn đời cho mình. Quan niệm của nhà văn trở nên mới mẻ và hiện đại
với các khái niệm "hôn nhân trong sum họp gia đình", "hôn nhân ngoài sum họp gia đình"
(hôn nhân trong tâm tưởng). Nhất Linh cũng lên tiếng đấu tranh trực diện cho quyền tái hôn
của người phụ nữ  vấn đề bị cả xã hội cũng như dư luận lúc bấy giờ lên án.
Đề cao, ca ngợi, bảo vệ những người phụ nữ được học hành, có bằng cấp, am hiểu kiến
thức đông, tây, có kỹ năng giao tiếp ứng xử, thông qua đó, gián tiếp thể hiện quan niệm và
đấu tranh cho quyền được học hành, đỗ đạt của người phụ nữ, nhà văn đồng thời lý giải một
cách thuyết phục bi kịch tột cùng của các nhân vật nữ trong tác phẩm, tìm ra căn nguyên
những tấn bi kịch trong gia đình, ngoài xã hội của họ bị đẩy lên cao một phần xuất phát từ
chính nhận thức, hiểu biết của những con người này. Vì "trót" có kiến thức, hiểu biết nên họ
sớm nhận ra bi kịch của cuộc đời mình, từ đó dẫn đến những đấu tranh dai dẳng trong tâm
tưởng: một mặt, mong muốn sống đời phục tùng, chu toàn, hi sinh mọi quyền và lợi ích cá
nhân; mặt khác, lại nhận thấy đó là điều hoàn toàn vô lý, phải phá bỏ, giải thoát. Khát vọng
giải phóng cá nhân vì thế mà được nung nấu bền bỉ, tích tụ, đến lúc bùng phát thì mạnh mẽ
như những đợt sóng dâng trào, không gì có thể kìm hãm được.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Đặng Thị Vân Chi, Vấn đề phụ nữ trên báo chí tiếng Việt trước năm 1945, Nxb Khoa học và Xã
hội, H., 2008.
2. Phan Cự Đệ (chủ biên), Văn học Việt Nam 1900


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status