1
MỞ ĐẦU
1. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Tên tuổi và sự nghiệp văn học của Nhất Linh gắn liền với một tổ chức văn
học đã từng hoạt động sôi nổi, góp phần làm thay đổi diện mạo văn học Việt Nam
nửa đầu thế kỉ XX. Chính vì vậy, sáng tác của ông đã trở thành một đối tượng
nghiên cứu của giới học thuật trong nhiều thập niên qua. Với vai trò là thủ lĩnh đồng
thời là một cây bút trụ cột của Tự lực văn đoàn, Nhất Linh thành công trên cả hai
lĩnh vực truyện ngắn và tiểu thuyết, trong đó tiểu thuyết của Nhất Linh thu hút đặc
biệt sự chú ý của bạn đọc và giới nghiên cứu. Vì vậy, nghiên cứu nghệ thuật xây
dựng nhân vật tiểu thuyết của Nhất Linh (từ nhân vật tư tưởng đến nhân vật tâm lí),
chúng tôi muốn góp thêm một tiếng nói khẳng định văn tài cũng như vị trí của Nhất
Linh trong tiến trình văn học. Trong khi nghiên cứu, luận văn đặc biệt hướng trọng
tâm vào tìm hiểu các biện pháp nghệ thuật xây dựng các kiểu nhân vật tư tưởng,
nhân vật tâm lí qua hai tiểu thuyết tiêu biểu cho hai chặng đường sáng tác của ông
như Đôi bạn (1938), Bướm trắng (1939).
Sau đây xin điểm qua những thành tựu chính trong nghiên cứu nghệ thuật
xây dựng nhân vật tiểu thuyết của Nhất Linh. Dù ít ỏi song cũng cho thấy sự quan
tâm của giới nghiên cứu về chủ đề này và có được những thành tựu nhất định.
Khi đánh giá về nghệ thuật xây dựng nhân vật trong tiểu thuyết Đôi bạn,
Đặng Tiến trong Hạnh phúc trong tác phẩm Nhất Linh (1965) Văn nghệ số 37 viết:
“Nhân vật Nhất Linh sống trong không gian không phải là hạ giới mà trong không
gian nội tâm; Dũng sống không phải trong mùa thu trước mặt, mà là mùa thu của
lòng chàng, một mùa thu đã đi qua, một mùa thu chưa tới và một mùa thu có thể
không bao giờ có trong trời đất”.
Nguyễn Hoành Khung trong Văn xuôi lãng mạn Việt Nam (1930 - 1945) có
nhận xét: “Đến Đôi bạn, Nhất Linh lại trở lại với những nhân vật yêu dấu của mình
chàng trai, sinh ra để hưởng niềm vui sống và khao khát hạnh phúc, nhưng một căn
bệnh hiểm nghèo ngăn anh ta không được hưởng những niềm hi vọng chân chính
nhất” [37, 130].
Giống với luận điểm nêu trên của Bùi Xuân Bào, khi khẳng định một thế giới
mới trong sáng tác của Nhất Linh qua Bướm trắng - thế giới nội tâm bên trong, 3
Phạm Thế Ngũ trong Việt Nam văn học sử giản ước tân biên (tập 3) cũng khẳng
định: “Qua Bướm trắng Nhất Linh cũng đã đưa ngòi bút phân tích tâm lí vào địa hạt
nhân bản muôn thủa với trường hợp bi đát con người bị giằng co giữa tình yêu và
cái chết” [37, 160].
Những ý kiến đánh giá trên có thể coi là bước mở đường cho các nhà nghiên
cứu miền Bắc nhìn nhận và xem xét về tiểu thuyết Bướm trắng giai đoạn sau này.
Phan Cự Đệ, trong Lời giới thiệu cuốn Đoạn tuyệt đã có ý kiến nhận định khái quát
về nghệ thuật Bướm trắng: “Xét về một phương diện nào đó thì nghệ thuật của Đôi
bạn và Bướm trắng già dặn hơn, những nhận xét về tâm lí nhân vật sâu sắc và tinh
vi hơn” [37, 317]. Trong lời giới thiệu nhân tái bản cuốn Bướm trắng năm 1989,
Trần Hữu Tá đã chỉ ra những khám phá mới cũng như những hạn chế của Bướm
trắng như sau: “Đến Bướm trắng Nhất Linh đã thể hiện một phẩm chất nghệ thuật
mới: Tuy có chỗ còn gượng gạo, thiếu tự nhiên nhưng tác giả đã khai thác tinh tế
những tầng những lớp, những ngóc ngách tâm lí éo le, khuất khúc của con người ”
[37, 379].
Trong bài viết Đọc lại Bướm trắng của Nhất Linh, đăng trên Tạp chí Văn
học, số 10 - 1996, Đỗ Đức Hiểu cũng viết: “Bướm trắng là tiểu thuyết hiện đại; nó
không phải “cái viết về những cuộc phiêu lưu ” (Như Don Quichotte, Thuỷ hử, Quả
dưa đỏ, Tiêu sơn tráng sĩ… ) mà “phiêu lưu của cái viết”. “Phiêu lưu” ở đây là
những hành trình qua các ngóc ngách của tình cảm, tư duy, cảm xúc, giấc mơ đẹp,
hoảng loạn, cái sống và cái chết …Bướm trắng, với cốt truyện đơn giản, là “thế giới
thuật trong tiểu thuyết của ông.
3. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
3.1. Luận văn khảo sát quan niệm về tiểu thuyết và thực tiễn sáng tác tiểu
thuyết của Nhất Linh.
3.2. Luận văn trình bày những vấn đề lí thuyết về khái niệm nhân vật tư
tưởng, nhân vật tâm lí, trong đó nổi bật là nghệ thuật xây dựng nhân vật.
3.3. Chỉ ra những đặc sắc trong nghệ thuật xây dựng nhân vật tư tưởng, nhân
vật tâm lí nhằm làm nổi bật phong cách của Nhất Linh so với một số tác giả khác
cùng thời.
5
4. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận văn hướng trọng tâm vào tìm hiểu nghệ thuật xây dựng nhân vật tiểu
thuyết của Nhất Linh qua những phương diện chủ yếu như: quan niệm về tiểu
thuyết và nghệ thuật viết tiểu thuyết của Nhất Linh, hành trình sáng tạo tiểu thuyết
của Nhất Linh, một số vấn đề về nhân vật của tiểu thuyết, khái niệm nhân vật tư
tưởng, nhân vật tâm lí, các biện pháp xây dựng các kiểu nhân vật ấy, từ đó xác định
phong cách sáng tác và đóng góp của Nhất Linh trong nghệ thuật xây dựng nhân
vật.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn khảo sát nghệ thuật xây dựng nhân vật tiểu thuyết của Nhất Linh
qua hai tiểu thuyết tiêu biểu cho các chặng đường sáng tác của ông như Đôi bạn
(1938), Bướm trắng (1939).
Ngoài ra, luận văn còn cố gắng mở rộng liên hệ với các sáng tác khác của
Nhất Linh và một số nhà văn khác, đặc biệt là trong Tự lực văn đoàn để có một cái
nhìn mang tính chất đối sánh và toàn diện hơn nhằm chỉ ra những đóng góp của
7
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1
NHẤT LINH – NHÀ ĐỔI MỚI TIỂU THUYẾT. MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ
NHÂN VẬT CỦA TIỂU THUYẾT
1.1. Nhất Linh - nhà đổi mới tiểu thuyết
1.1.1. Quan niệm về tiểu thuyết và nghệ thuật viết tiểu thuyết của Nhất Linh
Nhất Linh là nhà lí luận viết tiểu thuyết với hàng loạt tác phẩm nổi tiếng
một thời như Đoạn tuyệt, Đôi bạn, Bướm trắng, Xóm cầu mới, Dòng sông Thanh
Thuỷ…Điều ấy ai cũng biết nhưng không nhiều bạn đọc biết rằng ông cũng là nhà
viết lí luận về tiểu thuyết với cuốn Viết và đọc tiểu thuyết, trong đó có trình bày
nhiều quan điểm của ông về thể loại này. Chúng ta trước hết hãy tìm hiểu nội dung
cuốn chuyên khảo đó.
Ở thời kì sáng tác đầu, Nhất linh đã từng trực tiếp hay gián tiếp nói tới quan
cuốn tiểu thuyết hay là những cuốn tả đúng sự thực cả bề trong lẫn bề ngoài, diễn
được một cách linh động các trạng thái phức tạp của cuộc đời, đi thật sâu vào sự
sống với tất cả những chuyển biến mong manh, tế nhị của tâm hồn bằng cách dùng
những chi tiết về người và việc để làm hoạt động những nhân vật cùng hành vi, cảm
giác và ý nghĩ của họ. Những cuốn đó cần phải do sự thành thực của tác giả cấu tạo
nên, viết bằng một lối văn giản dị, không giảng giải nhiều, và không phải hay chỉ vì
cốt truyện” [7, 41- 42]; “Việc diễn tả tâm hồn và những sự uẩn khúc của tâm hồn
đó, những ý nghĩ thầm kín của các nhân vật là một việc khó nhất và cuốn sách có
giá trị và có sâu sắc hay không một phần lớn là ở việc này” [7, 51], “nhưng cốt
truyện hay mà nhân vật không “sống”, không đúng tâm lí thì cuốn sách nếu không
gọi là xoàng thì cũng chỉ là một cuốn tầm thường, không thể cho là có giá trị được”
[7, 59]. Theo Nhất Linh, những tiểu thuyết có cốt truyện “li kì” nhưng “tâm lí nhân
vật hời hợt”, hoặc có cốt truyện không giống với đời sống thật, nhân vật “nhân tạo”,
các nhà viết tiểu thuyết “gò” đời theo ý riêng của mình thì đều là những tiểu
thuyết “tất phải mai một”. Để viết tiểu thuyết, Nhất Linh cho rằng người viết phải
xác định rõ đối tượng mà mình định viết phải là vấn đề mà mình thích, xây dựng
được đại cương của cốt truyện rồi định hình về các nhân vật (tính tình, hình dáng, 9
cử chỉ, lời nói của nhân vật), xác định được các việc xảy ra, tìm chi tiết về người, về
việc, về phong cảnh, xác định được lối hành văn, giọng văn, viết về loại gì…
Để viết một cuốn tiểu thuyết có giá trị cần những yêu cầu nào đối với người
viết? Nhất Linh cho rằng một người muốn viết một cuốn tiểu thuyết hay và lâu bền
trước hết phải biết rõ mình định viết về cái gì. Đối với ông, điều quan trọng là:
“mình chọn đề tài nào cần nhất là mình phải thành thực nghĩa là chính trong thâm
tâm, mình thấy thích viết đề tài đó, quả thực mình tự thấy mình cảm động trước
những cảnh về đề tài đó. Hơn nữa mình đoán thấy trong đề tài đó có nhiều cái hay”
[7, 46]. Sự thành thực và có những rung động thực sự trong việc lựa chọn đề tài
những điều đó tạo nên mô hình nghệ thuật về thế giới và con người bao quát mà tác
giả xuất phát để khắc hoạ những hình tượng cụ thể cũng như xây dựng kết cấu tác
phẩm. Nhất Linh cho rằng: “Không nên xếp đặt quá, việc xảy ra còn tuỳ theo tâm
trạng của nhân vật. Nếu đã xếp đặt thì cần phải viết có nghệ thuật để việc ấy tự
nhiên” [7, 47].
Một trong những thành phần quan trọng của tiểu thuyết là nhân vật. Nói đến
tiểu thuyết là nói đến việc xây dựng nhân vật. Nhất Linh trong tác phẩm Viết và đọc
tiểu thuyết cho rằng viết tiểu thuyết là tả cuộc đời mà trong đó hầu hết là tả con
người, mà con người trong tiểu thuyết, không gì khác đó chính là nhân vật tiểu
thuyết. Cho nên, trong Viết và đọc tiểu thuyết, Nhất Linh đặc biệt quan tâm đến vấn
đề nhân vật và đã đưa ra quan niệm của mình về cách xây dựng nhân vật trong tiểu
thuyết.
Nhất Linh nói rõ về hai kiểu nhân vật tiểu thuyết trong sáng tác của ông:
nhân vật của tiểu thuyết luận đề và nhân vật của tiểu thuyết tâm lí. Trong thời viết
tiểu thuyết luận đề, mà viết tiểu thuyết luận đề “là cái lầm lớn nhất trong đời văn sĩ
của tôi” [7, 17], Nhất Linh đã sử dụng nhân vật để minh họa cho luận thuyết tư
tưởng của mình, biến nhân vật tiểu thuyết thành luận điểm minh chứng cho một
luận đề có sẵn. Ông nói rõ: “Độ ấy tôi chỉ coi nhân vật như những quân cờ để đánh
một ván bài, họ không phải là cái chính và chỉ dùng những chi tiết nào lợi cho cái ý
chứng tỏ của mình không theo sát cuộc đời thực là mục đích chính của tiểu thuyết
mà đổi cuộc đời thực đi để lại cho luận đề của mình” [7, 18 - 19]. Đây là một điều 11
“lầm lỗi” và sau này Nhất Linh cũng giống như Võ Phiến đã nhận ra: “Nhân vật tiểu
thuyết vốn hèn lắm, họ không chịu hi sinh cho cốt truyện, cho luận đề, cho ý tưởng
cao đẹp nào cả (…) Ép họ hi sinh như thế thì họ chết non không kịp thành nhân
dạng, đã thiệt hại cho họ mà “việc lớn” cũng không thành” [58, 81]. Vì thế, trong
Viết và đọc tiểu thuyết, Nhất Linh đã đưa ra những quan niệm về nhân vật và nghệ
thuật xây dựng nhân vật mà theo ông là “đúng đắn”.
phong phú thể hiện những chuyển biến tinh vi trong tâm hồn nhân vật với các trạng
thái tâm lí phức tạp. Có những cử chỉ rất tế nhị, cỏn con nhưng nếu nhà văn biết
dùng đúng lúc đúng chỗ thì có thể mở cửa cho cả độc giả thấy cả tâm hồn của nhân
vật. Vì vậy, nhà văn phải chú ý quan sát từng cử chỉ nhỏ của nhân vật, “phải để ý tả
cử chỉ của nhân vật trước việc xảy ra và nếu có thể tả thêm những cử chỉ riêng biệt
của từng người” [7, 54].
Nhân vật có thể lấy nguyên mẫu ở con người trong cuộc đời thực, trong
chính bản thân tác giả hoặc lấy ở mỗi người một ít. Nhân vật tiểu thuyết phải được
miêu tả như những con người bình thường với tất cả những hay, dở, ưu điểm,
khuyết điểm. Quan niệm như thế, Nhất Linh đã đối lập với quan niệm về “vai chính
hoàn toàn” của tiểu thuyết luân lí, đòi hỏi tiểu thuyết phải miêu tả nhân vật như
những con người tận thiện, tận mĩ: Trai thì trung hiếu, nhân, trí, dũng đủ cả mọi
đức; gái thì tiết trinh, công, dung, ngôn, hạnh chẳng thiếu đức gì. Cũng giống như
quan điểm của Thạch Lam cho rằng: “cái khuynh hướng của tiểu thuyết bây giờ là
hết sức gần sự sống, để được linh hoạt và thật như cuộc đời”, Nhất Linh nói: “Viết
tiểu thuyết là tả sự thực, vậy không nên sợ sự thực” [7, 55] nên Nhất Linh đã xoá bỏ
nguyên tắc lí tưởng hoá trong quan điểm tiếp cận con người và nguyên tắc miêu tả
nhân vật. Vì thế, trong tiểu thuyết của mình, Nhất Linh đã để các nhân vật hiện lên
với đầy đủ những tính tốt - xấu, có mối liên lạc mật thiết với xã hội và những người
xung quanh, có tất cả những hèn yếu và băn khoăn của người đời, người đọc có thể
thấy hình ảnh của mình ở những nhân vật ấy. Nhà văn chỉ có thể diễn tả đúng tâm lí
nhân vật khi quan sát cả đến hoàn cảnh xung quanh nhân vật. Nhất Linh đã để tâm lí
và tính cách nhân vật tự bộc lộ qua hành vi của nó, đã làm sống lại trong tiểu thuyết 13
cái khí bao bọc lấy nhân vật. Kết thúc truyện không còn là cảnh đoàn viên, nhân vật
có thể thất bại trước khó khăn, thử thách của cuộc đời.
Nhất Linh quan niệm, nhân vật thuộc hạng nào cũng có giá trị như nhau,
người chỉ là người, không phân biệt địa vị và chức vụ. Nhân vật chính hay phụ cũng
nhân vật. Trên con đường văn nghệ, Nhất Linh luôn chủ động học tiếng Việt, luyện
tiếng Việt. Tường Hùng trong bài viết “Một vài nét về chân dung Nhất Linh” in trên
Tạp chí Văn số 61 ngày 01 tháng 7 năm 1966 đã xác nhận: “Thường Nhất Linh rất
ghét các câu quá tây, những câu bí hiểm đầy chữ khó hiểu, những sáo rỗng. Ông
chủ trương một lối văn hoàn toàn Việt Nam và thực giản dị”. Khát vọng xây dựng
một lối văn thật có tính cách An Nam, giản dị, ít chữ nho, nhưng sự thay đổi về đối
tượng phản ánh, chuyển từ những vận động xã hội sang thế giới nội tâm sâu kín của
con người đã chi phối lớn đến việc lựa chọn ngôn ngữ trong các tác phẩm của Nhất
Linh ngay từ thời kì đầu sáng tác tiểu thuyết. Nó đã khiến ông có được những bước
tiến dài trong cách sử dụng ngôn ngữ nghệ thuật, chuyển từ ngôn ngữ mang đậm
dấu ấn ngôn ngữ văn xuôi trung đại (trong Nho Phong và Người quay tơ) sang ngôn
ngữ hiện đại (trong các tiểu thuyết Nắng thu, Đoạn tuyệt, Lạnh lùng, Đôi bạn,
Bướm trắng, tập truyện ngắn Tối tăm và hai tác phẩm viết chung với Khái Hưng:
Gánh hàng hoa và Đời mưa gió…).
Với kiến thức sâu rộng về văn hoá, văn học phương Tây và ý thức về một
nền văn chương mang đậm tính dân tộc, Nhất Linh đã tạo cho mình một lối văn
hiện đại với cách diễn đạt trong sáng, tinh tế, giầu chất thơ, chất hoạ. Ngôn ngữ của
ông đã đạt đến đỉnh cao của văn học lãng mạng 1930 - 1945 trong việc đi sâu khám
phá tâm hồn con người, đặc biệt trong lĩnh vực tình yêu. Nhất Linh đã đem đến cho
người đọc đương thời một lối văn mới mẻ, cuốn hút, vượt qua ngôn ngữ văn
chương trước đó chưa thoát khỏi tính chất ước lệ khuôn sáo, đăng đối của câu văn
trung đại, cách diễn đạt bóng bảy, cầu kì với các sáo ngữ, các từ Hán Việt hoặc còn
mộc mạc, chưa trau chuốt, chưa tạo được sự hấp dẫn với đông đảo bạn đọc thành
thị. Quá trình chuyển biến trong ngôn ngữ nghệ thuật của Nhất Linh phản ánh sự
phát triển của ngôn ngữ văn học dân tộc, chuyển từ ngữ giao thời với những “ngổn
ngang”, “hỗn độn” cũ - mới, với những lủng củng, rườm rà sang ngôn ngữ hiện đại 15
với cách diễn đạt trong sáng uyển chuyển, phù hợp với cách cảm, cách nghĩ và tâm
16
Nhất Linh, người đứng đầu nhóm. Cho nên có thể nói rằng những ưu điểm của Nhất
Linh, của Khái Hưng về cách xây dựng tác phẩm, sáng tạo nhân vật, phân tích tâm
lí, hành văn, ấy cũng là những ưu điểm của Nhất Linh” [38, 226]. Do đó, những
quan niệm về tiểu thuyết và nghệ thuật viết tiểu thuyết của Nhất Linh là những ý
kiến tâm huyết của một nhà văn tài năng, giàu kinh nghiệm sáng tạo thể loại này.
1.1.2. Hành trình sáng tạo tiểu thuyết của Nhất Linh
Nhất Linh bắt đầu sáng tác từ những năm 20, thành công hơn cả ở những
năm 30 và kết thúc sự nghiệp cầm bút của mình vào đầu những năm 60 của thế kỷ
XX. Trong quá trình đó, các tác phẩm của ông, chủ yếu ở thể loại tiểu thuyết “biến
đổi rất mau” về nội dung tư tưởng cũng như về hình thức nghệ thuật. Nhà nghiên
cứu Vũ Ngọc Phan nhận định: “Nếu đọc Nhất Linh, từ Nho phong cho đến những
tiểu thuyết gần đây nhất của ông, người ta thấy tiểu thuyết của ông biến đổi rất mau.
Ông viết từ tiểu thuyết ái tình, tiểu thuyết tình cảm, qua tiểu thuyết luận đề, đến tiểu
thuyết tâm lí; sự tiến hoá ấy chứng ra rằng mỗi ngày ông càng muốn đi sâu vào tâm
hồn người ta” [55, 234].
Với những kiến thức thâu nhận được từ nền văn minh, văn hoá phương Tây,
cộng với kỳ vọng xây dựng một nền văn chương mang đậm tính cách An Nam cùng
với đó là tài năng và cá tính sáng tạo nghệ thuật, luôn tìm tòi để đổi mới thể loại
tiểu thuyết, Nhất Linh đã có những đổi mới trong nghệ thuật tiểu thuyết. Tiểu thuyết
của Nhất Linh qua các chặng đường sáng tác đã có những bước tiến dài, gặt hái
được nhiều thành công với nhiều đổi mới từ nội dung tư tưởng, đề tài, cốt truyện
đến cách hành văn, ngôn ngữ nghệ thuật …Ông đã đi từ kinh nghiệm viết tiểu
thuyết cũ, cách tân thể loại, phong cách, làm cho tiểu thuyết trở nên hiện đại. Ông
đã trở thành một tiểu thuyết gia tài năng, một “cây bút trụ cột của Tự lực văn đoàn”.
Với ý thức cách tân đổi mới nghệ thuật tiểu thuyết không ngừng, qua các tác
phẩm, bút pháp nghệ thuật tiểu thuyết của Nhất Linh ngày càng tiến bộ. Nguyễn
Lương Ngọc nhận định: “Từ Nho phong đến Lạnh lùng, nghệ thuật của ông đi dần
tới sự đơn giản hoàn mỹ…Nhận rõ tâm lí của loài người, tưởng ở nước ta có lẽ ông
đứng vào bậc nhất các nhà văn hiện đại …Theo với óc nhận xét chặt chẽ của ông,
do ngoài vòng kiềm toả” [37, 522]. Vì ý thức trách nhiệm cao với công cuộc hiện
đại hoá nền văn chương nước nhà cộng với niềm say mê và tài năng nghệ thuật mà 18
Nhất Linh luôn tìm tòi để đổi mới nghệ thuật tiểu thuyết. Ông không còn “dừng lại
ngay tại ngưỡng cửa của tiểu thuyết hiện đại” như Tản Đà nữa mà đã thực sự có
những cách tân đổi mới và hiện đại hoá thể loại tiểu thuyết. Đổi mới và hiện đại tiểu
thuyết của Nhất Linh thể hiện rõ rệt trong bước chuyển từ Nho phong đến các tiểu
thuyết sau này như Nắng thu, Đoạn tuyệt, Lạnh lùng, hai tiểu thuyết viết chung với
Khái Hưng là Gánh hàng hoa và Đời mưa gió rồi Đôi bạn, Bướm trắng, Xóm cầu
mới, Dòng sông Thanh Thuỷ
1.1.2.1. Giai đoạn sáng tác trước tiểu thuyết Đôi bạn
Trước năm 1932, Nhất Linh theo quan niệm văn học theo cách nhìn của các
nhà nho: Văn gắn với đạo, với mệnh trời, “Văn dĩ tải đạo”, “Văn dĩ hướng đạo”,
“Văn dĩ quán đạo”. Ông noi gương các nhà nho tiền bối như Nguyễn Trãi, Nguyễn
Bỉnh Khiêm, Nguyễn Du, Nguyễn Đình Chiểu, Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát,
Nguyễn Khuyến … dùng văn chương để thể hiện cốt cách, ý chí giáo dục đạo đức,
truyền tải tư tưởng đạo lí theo quan niệm của thánh hiền và thuyền văn chương
trước tiên là để chở đạo. Văn học trước hết có chức năng truyền đạt, rồi mới đến
việc phát hiện, khám phá. Đối tượng văn học không phải là cuộc sống thực mà là
khuôn vàng thước ngọc của lễ giáo phong kiến và đạo đức truyền thống, đạo nho.
Đó là nhân, nghĩa, lễ, trí, tín của người quân tử; là công, dung, ngôn, hạnh của
người phụ nữ.
Ông quan niệm cái đẹp là hoàn hảo, toàn diện, tuyệt đối, thống nhất với cái
có ích, đề cao cái đẹp nội dung hơn hình thức. Cuộc sống được đánh giá qua con
mắt đạo lí, nhân vật được xác định theo chuẩn mực đạo đức của lễ giáo phong kiến,
phân chia thành hai tuyến nhân vật đối lập nhau rõ rệt như: tốt - xấu, thiện - ác,
trung hiếu, tiết nghĩa - bất trung, bất nghĩa, thật thà - gian dối …Tâm lí nhân vật
chưa trở thành đối tượng miêu tả trực tiếp của văn học, hành động của nhân vật
trường cổ điển, lấy đạo đức nho giáo làm căn bản cho tư tưởng, lấy lối văn nhịp
nhàng du dương, hoa lệ làm thước đo giá trị nghệ thuật. Hơn thế, lời văn còn đặc sệt
những hồi ức, những sáo ngữ của các tác phẩm cổ điển, nhất là Truyện Kiều” [43,
573].
Năm 1927, được sự giúp đỡ của Hội du học bảo hộ - một tổ chức của các
quan đại thần Huế - Nhất Linh đã sang Pháp du học. Trước khi du học, Nhất Linh 20
đã nung nấu một con đường nghệ thuật khác hẳn với đương thời. Từ Pháp trở về,
những hiểu biết về nền văn học phương Tây, đặc biệt văn học Pháp và những kiến
thức mới mẻ về khoa học, xã hội, về nghề báo đã giúp Nhất Linh có những thay đổi
trong quan niệm về xã hội và văn chương, là cơ sở cho sự đổi mới về quan điểm
sáng tác, nghệ thuật tiểu thuyết nói riêng. Ông thấy rằng không thể viết như trước
mà phải đổi mới cách viết. Đúng như Phạm Thế Ngũ nhận xét: “Năm 1930, Nguyễn
Tường Tam 24 tuổi trở về nước, với trong đầu óc một chân trời mới, những quan
niệm thay đổi hẳn về xã hội và văn chương. Con người Nho phong đã nhường chỗ
cho nhà “cách mạng xã hội”. Nhà văn chỉ biết khâm phục Truyện Kiều thấy cần
phải đổi mới cái không khí văn học do phái Nam Phong thổi ra từ trên 10 năm nay”
[38, 11].
Đến Nắng thu (dài 80 trang, được viết từ năm 1934) đã thể hiện một bước
đổi mới rõ rệt trong tiểu thuyết của Nhất Linh. Sau khi du học ở Pháp về, do ảnh
hưởng của tư tưởng tự do dân chủ, tư tưởng triết học của F.Nietzsche, A. Gide, ảnh
hưởng của nền văn hoá, văn học phương Tây, Nhất Linh có hoài bão tiến hành
những cải cách để đổi mới văn hoá xã hội theo Âu Tây. Trong lĩnh vực văn học,
Nhất Linh chủ trương hiện đại hoá và ủng hộ phong trào hiện đại hoá dân tộc. Nắng
thu đã thể hiện những đổi mới về nghệ thuật tiểu thuyết của Nhất Linh. Cách mô tả
tình yêu trong Nắng thu không còn dấu vết của những quan niệm cổ hủ, khuôn phép
của đạo nho, không còn là câu chuyện tình ái trung hậu, thanh cao của đôi trai gái
nước ta thuở xưa như trong Nho phong nữa. Nếu như trong Nho phong, bối cảnh
một kiệt tác trong văn học Việt Nam hiện đại. Vì Đoạn tuyệt không chỉ có giá trị xã
hội, nó còn có một giá trị tâm lí không ai chối cãi được. Ông Nhất Linh đã dùng
một cách quan sát rất tinh vi để tả những trạng thái phiền phức trong tâm hồn riêng
của nhân vật trong truyện để đi sâu vào đời riêng tư của họ” [12, 18]. Với Lạnh
lùng, ông tiếp tục khẳng định: “Không thể lọt qua trí quan sát của ông, những tư
tưởng ta giấu kín tận đáy lòng như những con vật xấu xa. Người trong truyện vì thế
mà linh động” [12, 27].
Ở Nho phong và Người quay tơ, tác giả miêu tả nội tâm nhân vật bằng ngôn
ngữ mộc mạc, có phần đơn điệu. Song đến Đoạn tuyệt và Lạnh lùng, Nhất Linh đã
rất chú ý đến thế giới cảm giác của con người, đến thế giới nội tâm nhân vật. Tiếp 22
thu những thành tựu của tiểu thuyết phương Tây, Nhất Linh đã mô tả khá tinh tế
những trạng thái phức tạp của tình cảm. Việc miêu tả tâm lí đã trở thành một thủ
pháp nghệ thuật giúp nhà văn đi sâu khám phá thế giới bên trong sâu kín và phức
tạp của tâm hồn con người. Ông đã có nhiều biện pháp để miêu tả tâm lí nhân vật
như: qua lời của người trần thuật ở “tiêu cự” gần, qua khung cảnh thiên nhiên, qua
ngôn ngữ nửa trực tiếp và đặc biệt qua biện pháp độc thoại và độc thoại nội tâm của
nhân vật.
Với quan niệm coi con người là những cá nhân được đặt trong mối quan hệ
đối lập với xã hội, các tiểu thuyết Đoạn tuyệt và Lạnh lùng của Nhất Linh đã xây
dựng con người là những cá thể toàn vẹn, các nhân vật đã có nét tính cách riêng, có
đời sống nội tâm riêng và có ngôn ngữ mang nét riêng. Ngôn ngữ của nhân vật
trong các tác phẩm này đã được cá tính hóa phù hợp với tính cách nhân vật. Đây là
một đặc điểm quan trọng của ngôn ngữ văn xuôi hiện đại mà trước đó trong Nho
phong và Người quay tơ chưa có được.
Đoạn tuyệt và Lạnh lùng có sự đổi mới về kết cấu và cốt truyện. Khác với
Nho phong và Nắng thu, Đoạn tuyệt và Lạnh lùng được kết cấu theo quy luật tâm lí,
không theo trình tự thời gian. Nhất Linh đi sâu miêu tả diễn biến tâm lí của nhân
Tóm lại, về nghệ thuật thì nói chung, “Từ Nho phong đến Lạnh lùng, nghệ
thuật của ông đi dần tới sự đơn giản hoàn mỹ” [53, 62]. Và nói riêng từ Đoạn tuyệt
đến Lạnh lùng, Nhất Linh đã góp phần đưa tiểu thuyết Việt Nam tiến thêm vào con
đường hiện đại hoá: từ kết cấu, cốt truyện không theo trình tự thời gian mà theo quy
luật và diễn biến tâm lí, bước đầu đi vào thế giới nội tâm nhân vật đến kết thúc hé
mở, để ngỏ; từ kĩ thuật sử dụng những khoảng trống, những đoạn ngưng nghỉ đến
sử dụng kí hiệu ngôn ngữ, nhấn mạnh thời gian hiện tại….
1.1.2.2. Giai đoạn sáng tác sau tiểu thuyết Đôi bạn đến 1945
Năm 1937, Nhất Linh viết Đôi bạn. Đây là một tác phẩm đánh dấu sự bắt
đầu chuyển biến của Nhất Linh từ tiểu thuyết luận đề sang tiểu thuyết tâm lí, từ
những vấn đề đấu tranh xã hội sang những ám ảnh hiện sinh, những điều mà đến
tiểu thuyết Bướm trắng sẽ được Nhất Linh làm rõ hơn. 24
Các tiểu thuyết của Nhất Linh qua các giai đoạn đã thể hiện cuộc hành trình
đi từ những vấn đề xã hội đến thế giới nội tâm. Hành trình đó là sự vận động,
chuyển hóa từ tiểu thuyết luận đề sang tiểu thuyết tâm lí trong sự nghiệp sáng tác
văn học của Nhất Linh. Từ chỗ tâm lí chưa phải là đối tượng nghệ thuật chính mà
đối tượng quan tâm hàng đầu là các vấn đề xã hội với cuộc xung đột mới - cũ, đấu
tranh đòi giải phóng tự do cá nhân khỏi những kiềm tỏa của lễ giáo phong kiến, đấu
tranh cho những giá trị tự do, dân chủ và nhân văn với nhu cầu giải phóng thân thể
và giải phóng tâm hồn, khát vọng tìm kiếm lí tưởng và cải cách xã hội…đến chỗ
tâm lí trở thành một đối tượng trực tiếp hơn, kết hợp linh hoạt với tính luận đề và
sau cùng, tâm lí trở thành đối tượng trọng tâm chi phối toàn bộ kết cấu của tiểu
thuyết, trở thành thủ pháp chính trong nghệ thuật xây dựng nhân vật của Nhất Linh.
Đây cũng là con đường chung của nhiều nhà văn đương thời và là đặc điểm khiến
cho một số nhà phê bình coi Nhất Linh là nhà văn có chủ trương, có thái độ làm văn
nghệ thuần túy. “Với Nho phong, Người quay tơ, Nhất Linh đã viết một thứ tiểu
thuyết tình cảm. Nghệ thuật trong tiểu thuyết ấy tuy có kém, nhưng là thái độ thuần
tâm lí, vào thế giới bên trong thầm kín của con người, yếu tố tâm lí được quan tâm
nhiều trong cốt truyện.
Ở Đôi bạn, Nhất Linh đi xa hơn. Ông không dựa trên tình tiết, không dựa
trên cốt truyện để xây dựng tiểu thuyết nữa. Nhất Linh đi sâu vào địa hạt phân tích
nội tâm, xây dựng nghệ thuật trên sự tinh vi của nhận thức. Cốt truyện của Đôi bạn
là một cốt truyện không có truyện, được phát triển theo dòng tâm lí của nhân vật.
Truyện có rất ít sự việc, chỉ xoay quanh những cảm xúc, suy nghĩ day dứt của Dũng
về lí tưởng, cuộc sống, bạn bè, tình yêu…Hoạt động của nhân vật không nhiều, tác
giả chỉ chú trọng diễn tả cuộc vận động trữ tình trong tâm hồn nhân vật. Cốt truyện
được nới lỏng lẻo hơn các tác phẩm trước đây của Nhất Linh, giây liên lạc mỗi
chương với nhau rất hờ hững.
Nếu như ở Đoạn tuyệt và Lạnh lùng, kết cấu mới chỉ hé mở thì kết cấu của
Đôi bạn là kết cấu mở hoàn toàn. Đây là lối kết cấu của các tiểu thuyết hiện đại trên
thế giới và là một bước tiến mới của Nhất Linh. Ngôn ngữ của Đôi bạn trong sáng,
giàu chất thơ, chất nhạc, chất hoạ và khá đa dạng: ngôn ngữ của Dũng mơ mộng,
bóng bảy; của Trúc và Tạo khôi hài; của Hà thì lại hồn nhiên, vô tư…Đôi bạn còn