Đánh giá thực trạng sức bền hệ cơ của sinh viên chuyên sâu bơi lội năm thứ 2 và thứ 3 trường đh TDTT bắc ninh trên hệ thống enraf nonius - Pdf 30

PHẦN MỞ ĐẦU
Tính cấp thiết:
Trong thời đại ngày nay sự phát triển và tiến bộ của khoa hoc kỹ thuật đã
làm cải thiện đáng kể đời sống văn hóa tinh thần cho con người. Trong điều kiện
đó, thể dục thể thao (TDTT) cũng được phát triển và ngày càng chiếm một vị trí
quan trọng, không thể thiếu trong đời sống xã hội.
Tập luyện TDTT làm cho con người khỏe mạnh, nhanh nhẹn, linh hoạt
hơn, TDTT còn đem lại cho con người vẻ đẹp thâm hồn, thinh thần sảng khoái,
giúp con người phát triển, hài hòa giữa thể chất và tinh thần. Ngoài ra TDTT còn
đáp ứng nhu cầu hưởng thụ các giá trị văn hóa, tạo bầu không khi vui tươi, hào
hứng trong cuộc sống, thúc đẩy ý chí sáng tạo của con người
Trong những năn gần đây, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh
tế nước ta, nhiều lĩnh vực hoạt động trong đó có TDTT đã đạt được những thành
tựu đáng khích lệ. Bơi lội là một trong những môn thể thao cơ bản có vị trí quan
trọng trong hệ thống huấn luyện thể thao. Đó là nội dung không thể thiếu trong
chương trình thi đấu của các đại hội TDTT trong nước và quốc tế.
Đối với bơi lội, sức bền của các nhóm cơ là rất quan trọng trong việc nâng
cao thành tích, việc huấn luyện phát triển các nhóm cơ cho sinh viên được các
giáo viên chú trọng song chưa có nghiên cứu đầy đủ vền vấn đề này. Hiện nay
các bài tập phát triển các nhóm cơ có rất nhiều tuy nhiên làm thế nào để sủ dụng
những bài tập này nhằm nâng cao khả năng sức bền của sinh viên chuyên sâu
bơi lội năm thứ 2 và 3 trường đại học TDTT Bắc Ninh.
Hiện nay, hệ thống máy Enraf – Nonius do Hà Lan sản suất, là hệ thống
phục hồi chức năng và kiểm tra năng lực hoạt động của cơ bắp. Sử dụng hệ
thống Enraf – Nonius, chúng ta có thể đánh giá kiểm tra được khả năng hoạt
động cơ, cũng như tập luyện nhằm phục hồi các chức năng vận động của các
nhóm cơ bị tổn thương trong quá trình tập luyện và thi đấu.
Hệ thống Enraf – Nonius là một hệ thống bao gồm nhiều máy tập khác
nhau, mỗi máy có một tính năng riêng nhằm phát triển và phục hồi khả năng
1
hoạt động của các nhóm cơ khác nhau trên cơ thể. Đặc biệt cơ chế hoạt động của

Điều khiển sự hoạt động cơ bắp trong cơ thể bao gồm việc lựa chọn các
cơ tham gia vào động tác, sự phối hợp giữa các cơ đó trong không gian, thời
gian và điều khiển mức độ co của cơ là sự điều khiển trong nội bộ một cơ, đó là
sự điều khiển phối hợp hoạt động xảy ra ở mức độ đơn vị vận động, đảm bảo
cho cơ thể co với một lực co cơ (hay căng cơ) tuỳ ý.
Điều khiển sự co cơ có thể xảy ra bằng ba cách:
1. Điều chỉnh chế độ làm việc của đơn vị vận động
2. Điều chỉnh số lượng đơn vị vận động tham gia vào hoạt động
3. Điều chỉnh sự phối hợp hoạt động của các đơn vị vận động
Như ta đã biết, tần số xung động của nơron vận động càng cao thì lực co
của các đơn vị vận động (sợi cơ) sẽ càng lớn. Vì vậy lực co của cơ có thể điều
chỉnh bằng cách thay đổi tần số phát xung của nơron vận động.
Tần số phát xung của nơron vận động, lại phụ thuộc vào đặc điểm của các
kích thích tác động vào chúng. Nếu cường độ của các kích thích đó nhỏ thì các
nơron vận động có ngưỡng kích thích thấp (các nơron chậm là chủ yếu) sẽ hưng
phấn và phát xung động với tần số nhỏ. Trong trường hợp đó đơn vị vận động sẽ
làm việc theo chế độ co đơn, lực co yếu nhưng lại lâu mệt mỏi. Kiểu co này
dùng để duy trì những hoạt động nhẹ, như duy trì tư thế.
Khi tác động kích thích đối với các nơron tăng lên thì tần số phát xung
động của các nơron có ngưỡng thấp sẽ tăng lên, đồng thời các nơron vận động
có ngưỡng cao hơn cũng bị lôi cuốn vào hoạt động. Các đơn vị vận động có
ngưỡng thấp sẽ làm việc với chế độ co cứng, còn các đơn vị vận động hoạt động
với ngưỡng cao hơn thì sẽ hoạt động với chế độ co đơn. Khi tác động kích thích
đạt mức tối đa thì tất cả các đơn vị vận động kể cả các đơn vị vận động có
ngưỡng hưng phấn cao nhất đều hoạt động với chế độ co cứng và cơ sẽ co với
3
lực tối đa. Như vậy, tần số phát xung động của nơron vận động quyết định chế
độ co của đơn vị vận động là một yếu tố điều khiển mức căng của cơ. Mặt khác
càng nhiều đơn vị vận động ở một cơ tham gia vào hoạt động thì lực co của cơ
sẽ càng lớn. Số lượng các đơn vị vận động tham gia vào hoạt động phụ thuộc

lúc, nghĩa là các pha co của các sợi cơ không trùng nhau. Các đơn vị vận động
hoạt động càng lệch nhau thì lực co chung của cả cơ càng nhỏ. Khi sự đồng bộ
trong hoạt động của các đơn vị vận động riêng lẻ tăng lên thì lực co chung của
cơ sẽ tăng lên theo.
Nếu các đơn vị làm việc theo chế độ co cứng hoàn toàn hay gần hoàn toàn
thì sự phối hợp hoạt động giữa chúng thực tế không ảnh hưởng đến lực co cơ tối
đa, vì khi co cứng hoàn toàn, mỗi đơn vị vận động đều co tới mức ổn định (co
cứng phẳng) tôi đa. Ngược lại khi co với lực dưới tối đa và nhất là vào thời kỳ
đầu của các lần co cơ, sự đồng bộ trong hoạt động của các đơn vị vận động có ý
nghĩa rất quan trọng đối với tốc độ phát triển lực, nghĩa là đối với sức mạnh bột
phát.
Khi các đơn vị vận động hoạt động không đồng thời thì lực co cơ chung
nhỏ và dao động không đáng kể. Số đơn vị vận động co không đồng thời càng
nhiều thì sự giao động khi co cơ càng nhỏ, có nghĩa là động tác được thực hiện
nhịp nhàng, chính xác hơn. Trong điều kiện bình thường đa số các đơn vị vận
động của một sợi cơ làm việc không đồng thời với nhau.
1.1.2. Đặc điểm sinh lý hệ cảm giác (cơ quan phân tích)
Hệ cảm giác bao gồm: Hệ cảm giác thị giác, hệ cảm giác thính giác, hệ
cảm giác tiền đình, hệ cảm giác vận động
Hệ cảm giác vận động có chức năng phân tích trạng thái của bộ máy vận
động, tức là tư thế và sự chuyển động của máy vận động. Đó là những thông tin
về chế độ co của cơ vân, độ căng của dây chằng, sự biến đổi góc của khớp.
a. Ý nghĩa của hệ cảm giác trong hoạt động vận động
5
Các hệ cảm giác có vai trò quan trọng trong tập luyện và thực hiện động
tác. Khi tiến hành hoạt động vận động, điều quan trọng không phải là cảm thụ
các kích thích khác nhau tác động đến cơ quan cảm thụ khác nhau, mà còn phải
phối hợp hoạt động giữa các hệ đó. Vì vậy, trong quá trình tập luyện, các đường
liên hệ tạm thời giữa các trung tâm cảm giác khác nhau sẽ được hình thành.
Hệ cảm giác vận động là hệ quan trọng nhất trong hoạt động thể lực. Tất

thần kinh trung ương phải sử dụng một tổ hợp các trung tâm thần kinh với các
mối quan hệ qua lại nhất định
- Điều khiển ưu tiên: Trong thực tế hoạt động, cơ thể cùng một lúc phải
tiếp nhận rất nhiều các kích thích khác nhau. Vì vậy, nhiều tác động hướng tâm
được truyền đến cùng một nơron ly tâm là đường dẫn truyền chung cuối cùng đi
đến cơ quan phản ứng chung của các nơron.
Gặp nhau ở con đường chung cuối cùng, các phản xạ liên hợp cùng tăng
cường hỗ trợ cho nhau, còn các phản xạ đối kháng thì ngược lại, ức chế lẫn nhau
để chiếm con đường chung cuối cùng. Hệ thần kinh phối hợp các phản xạ để ưu
tiên con đường chung cuối cùng đó cho phản ứng phản xạ có ý nghĩa nhât đối
với sự sống còn của cơ thể trong thời điểm cụ thể đó.
- Điều khiển ngược chiều và điều chỉnh cảm giác: Để thực hiện hoạt động
vận động, trong hệ thần kinh trung ương hình thành một chương trình hành
động, quyết định sự lựa chọn và trình tự động tác.
Trong quá trình thực hiện động tác, từ cơ quan cảm thụ khác nhau tham
gia vào thực hiện và kiểm soát hoạt động luôn luôn có các xung động hướng tâm
được truyền về các trung tâm thần kinh điều khiển để thông tin về hoạt động do
nó gây nên. Các xung động đó được gọi là mối liên hệ ngược chiều. Nhờ có mối
liên hệ ngược chiều có thể đánh giá được động tác đã thực hiện và hiệu quả thực
hiện các nơron.
Nếu có sự sai lệch giữa hành động thực tế và yêu cầu đã đề ra một số sửa
đổi cần thiết có thể được đưa vào chương trình điều khiển vận động, các sửa đổi
đó được gọi là điều chỉnh cảm giác (N.A. Berstein). Nhờ có sự điều chỉnh như
7
vậy cơ thể có thể duy trì được phong cách và tính hợp lý của động tác, mặc dù
điều kiện thực hiện có thể thay đổi.
Sự điều khiển dựa trên mối liên hệ ngược chiều và điều chỉnh cảm giác
được gọi là điều khiển ngược chiều và là một nguyên tắc điều khiển vận động
của hệ thần kinh.
d. Điều khiển tư thế và động tác

động tác có ý thức.
Tuỷ sống là nơi xảy ra quá trình phối hợp phức tạp của rất nhiều cơ: kích
thích cơ hoạt động, lôi cuốn các cơ hưởng ứng, ức chế ngược chiều các cơ đối
kháng, thực hiện các phản xạ điều chỉnh căng cơ Tất cả các quá trình đa dạng
đó được thực hiện thống nhất do tuỷ sống có hệ thống nơron trung gian rất
phong phú.
1.1.3. Cơ sở tâm lý của cảm giác vận động
Cảm giác vận động chịu sự điều khiển của hệ thần kinh, trong đó hệ thần
kinh lại chịu sự chi phối của tâm lý. Trong hoạt động thể dục thể thao, đặc biệt
là trong thi đấu vận động viên có tâm lý thi đấu vững vàng sự tập chung chú ý
luôn ở mức độ cao, thì hệ thần kinh của anh ta sẽ điều khiển hoạt động vận động
một cách chính xác và hiệu quả. Vì vậy cảm giác vận động chính xác hay không
chính xác còn chịu ảnh hưởng của yếu tố tâm lý.
Trong mỗi hoạt động thể thao đều có sự tác động từ những yếu tố xúc
cảm động cơ trí tuệ và nhận thức, các yếu tố này có liên quan với nhau. Một vận
động viên có động cơ ý tưởng tốt chắc chắn sẽ có sự tập chung chú ý tốt hơn và
đạt được thành tích tốt hơn, có cảm xúc mạnh và hành động tích hơn so với một
vận động viên thiếu hứng thú chán nản. Do đó những đánh giá quan trọng qua
việc thực hiện một động tác đã cho ta kinh nghiệm quý báu là tính hợp lý của
thành tích thể thao chỉ có thể có được nếu có sự sẵn sàng và sử dụng được tất cả
thành phần tâm lý tham gia vào hành vi động tác đó.
9
Trong hoạt động thể dục thể thao những yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến tâm
lý vận động viên có thể là cấu trúc về thời gian, thời tiết xấu, sân bãi dụng cụ
Ngoài ra trong thi đấu có thể có một số yếu tố khác ảnh hưởng đến tâm lý vận
động viên như: gặp đối thủ mạnh không lường trước được, phản ứng của khán
giả, cách sử dụng chiến thuật của đối phương và những sai lầm mà cá nhân mắc
phải từ những ảnh hưởng đó làm cho cảm giác vận động bị sai lệch và làm cho
thành tích của vận động viên xấu đi không đạt như mong đợi. Do đó việc xây
chí lòng quyết tâm, tính tự chủ, sự tập trung chú ý bền bỉ rất cần thiết cho vận

động cơ như thế nào là tối ưu? Chúng ta biết rằng cơ bắp là cỗ máy sống di
protit tạo thành. Công năng của nó là đem năng lượng hoá học chuyển thành
năng lượng cơ học. Quá trình chuyển đổi này thông qua lực co duỗi cơ bắp do
đó chúng sẽ sinh công. Chất lượng và hiệu quả của việc hoàn thành kỹ thuật
động tác quyết định bởi sức mạnh co duỗi cơ bắp và tốc độ co duỗi của cơ bắp.
1.2.1. Tính chất sinh cơ học của cơ
Tính chất sinh cơ của cơ bao gồm tính co, tính đàn hồi, độ cứng, độ bền
vững và độ mềm giãn của cơ.
1.2.1.1. Tính co: Đây là khả năng co lại của cơ khi có kích thích. Kết quả
của quá trình co cơ làm cho cơ co ngắn lại và xuất hiện lực kéo.
Thành phần đàn hồi song song: Trong đó các tổ chức mô liên kết, có đặc
tính sinh cơ học biểu đạt dưới dạng lò so. Các tổ chức mô liên kết bao gồm:
màng sợi cơ, bó sợi cơ, bao cơ và cân cơ. Khi bị co sẽ sản sinh lực co giãn gọi là
trương lực bị động.
Thành phần co: Nó đại diện cho sự sản sinh trương lực. Khi co các cầu
nối ngang actin – miôzin được hình thành, khi bị kích thích các sợi actin và
miôzin trượt lên nhau. Hoạt động này được thực hiện bằng hoạt động kéo của
những cầu ngang (crossbridge) chìa ra từ những sợi miôzin và gắn bản thân
chúng với những sợi actin. Và lực co cơ phụ thuộc vào số lượng cầu nối này.
Sau khi nối với nhau các cầu ngang thu lại bất thình lình, bằng cách đó kéo hai
sợi prrotein len vào nhau. Cử động này xảy ra cùng một lúc trong hàng ngàn sợi
11
cơ, dẫn đến sự kéo mạnh mẽ trên các sợi gân. Các cầu nối atin-miôzin được biểu
diễn trên mô hình dưới dạng các ống hình trụ, trong đó có píttông chuyển động.
Thành phần đàn hồi kế tiếp: Là lò xo được nối tiếp với các ống hình trụ. Ở
đây lò so là gân và các sợi cơ (các sợi co rút của cơ) lúc này không tham gia vào
quá trình co cơ.
1.2.1.2. Tính đàn hồi: Mô hình phản ánh tính chất đàn hồi của cơ, nghĩa là
khả năng phục hồi lại độ dài ban đầu sau khi hết lực tác dụng làm biến dạng nó.
Có tính chất đàn hồi là do khi bị kéo căng, trong cơ xuất hiện năng lượng biến

1.2.1.5. Độ bền vững của cơ: Được đánh giá bằng độ lớn của lực kéo làm
đứt cơ. Giá trị tối đa của lực được xác định bằng mối quan hệ giữa lực và tốc độ.
1.2.1.6. Độ mềm giãn của cơ: Đây là một tính chất của cơ thể hiện ở sự
giảm dần lực kéo khi độ dài cơ không đổi. Độ mềm giãn của cơ thể hiện khi cơ
12
bắp bị kéo dài, đặc tính trương lực của nó bị giảm thấp theo thời gian kéo dài,
người ta còn gọi đặc tính này là chùng lỏng cơ hoặc nhão cơ.
Trong quá trình hoàn thành động tác, khi cơ bắp xuất hiện tượng lỏng
nhão cơ sẽ làm cho lực đàn hồi của cơ bắp giảm thấp. Trong bài tập bật cao lại
chỗ, khi ngồi xuống dừng ở điểm thấp nhất với thời gian quá dài sẽ xuất hiện
lỏng cơ làm cho tổng trương lực cơ bắp giảm thấp, do đó thành tích bật sẽ thấp
hơn nếu khi ngồi thấp xuống không dừng.
1.2.2. Chế độ co cơ và các dạng hoạt động của cơ
Dựa trên sự thay đổi tốc độ co của sợi cơ, hướng vận động và độ dài cơ
khi co. Lieber (1992) chia làm 3 dạng vận động cơ, gồm có:
1.2.2.1. Co cơ khắc phục (co cơ rút ngắn): Là dạng vận động cơ mà trong
đó độ dài sợi cơ (từ nguyên uỷ tới bám tận) trở nên ngắn hơn tỷ lệ với cường độ
co. Lực sinh ra phụ thuộc vào cường độ vận động và trọng tải, vị trí của các
khớp.
VD: Bài tập nâng tạ tay, cơ hoạt động ở chế dộ co ngắn.
1.2.2.2. Co cơ nhượng bộ (co cơ kéo dài): là dạng vận động trái với co cơ
khắc phục, độ dài sợi cơ tỷ lệ với mức độ dãn của cơ (từng nguyên uỷ cho tới
bám tận). Cường dộ lực của cơ phụ thuộc vào một sực tác động lực từ bên
ngoài, đơn thuần là cơ thực hiện động tác đối kháng lại lực tác động kéo dãn
ngược chiều.
1.2.2.3. Co cơ đẳng trường (co cơ tĩnh): trong dạng co cơ này sợi cơ vận
động chống lại một sức cản nhưng không thay đổi độ dài sợi cơ (từ nguyên uỷ
tới bám tận) trong suốt quá trình vận động. Mặc dù khối lượng cơ không co
ngắn hoàn toàn nhưng vẫn có hiện tượng co ngắn của các sarcrromere (màng sợi
cơ) hoặc dãn xen kẽ của các sarcromere khác tại các tổ chức gân và mô liên kết.

cơ bắp thành năng lượng cơ học. Từ định nghĩa về công suất ta có công thức
sau:
VF
t
F
t
A
P .
S.
===
14
Có thể thấy công suất của cơ bắp bằng tíchư lực với tốc độ. Do vậy sự lớn
nhỏ của công suất có thể dựa vào đường cong của mối quan hệ giữa “ lực và tốc
độ” để tính toán công suất trên mỗi một điểm của đường cong này bằng với diện
tích tạo hình bởi điểm đó và gốc toạ độ tạo thành 2 đỉnh điểm.
Giả thiết khi co bắp co, lực và tốc độ đồng thời đạt được trị số cao nhất,
lúc này công suất cũng là lớn nhất. Nhưng điều này không xảy ra dựa vào
phương trình Hill cho thấy trị số công suất tối đa trên thực tế chỉ có khoảng 1/10
trị số giả thiết này. Tức là chỉ bằng tích của 1/3 lực co cơ đẳng trường lớn nhất
của cơ bắp.
Biểu đồ đường cong công suất đã phản ánh mối quan hệ của công suất với
lựa co cơ và tốc độ co cơ. Khi phụ tải bằng 0 cơ bắp biểu hiện ra tốc độ co cơ
lớn nhất lúc này công suất là rất nhỏ. Cùng với sự tăng thêm phụ tải thì tốc độ co
cơ cũng theo đó mà giảm thiểu khi ở vào vị trí số lực co bằng 1/3 lực co tối đa
với vị trí tốc độ thì công suất đạt mức tối đa, song cùng với sự biến đổi thêm
một bước nữa của lực và tốc độ thì công suất bắt đầu giảm nhỏ.
Khi lực cản tăng lên đến lúc cơ không thể co ngắn được nữa thì tốc độ
bằng 0, không sinh công cho nên công suất cũng bằng 0. Nếu như phụ tải tiếp
tục tăng lên cơ bắp từ co cơ mang tính đẳng trường sẽ biến đổi thành co cơ
mang tính nhượng bộ, lúc này cơ bắp sinh công suất âm. Nhưng công suất âm

chất vận động chuyên môn (các bài tập dùng để nâng cao kỹ thuật và động tác
kỹ thuật cơ bản được gọi là bài tập tố chất vận động chuyên môn) nếu các bài
tập loại này mà đặc trưng sinh cơ gần giống (tiếp cận) động tác thi đấu sẽ phát
huy tối đa tác dụng của chúng. Từ quan điểm sinh cơ để xem xét các bài tập này
(thể lực chuyên môn) cần phải tuân thủ nguyên tắc tính thích ứng động thái (dựa
vào quan điểm WeilhusanSki). Các mặt dưới đây đêu phải được thích ứng với
động tác thi đấu.
1) Biên độ và phương hướng của động tác
2) Biên độ có hiệu lực của vận động và khu trọng điểm
3) Lực tác dụng (hoặc lực cơ lớn hay nhỏ)
16
4) Tỷ lệ tố độ phát huy của lực tác động tối đa (gọi là thang độ của lực)
5) Hình thức làm việc của cơ
1.4. Các quan điểm về tố chất sức bền trong TDTT.
1.4.1. Các quan điểm về sức bền trong TDTT.
Sức bền là một trong những tố chất cơ bản và quan trọng nhất trong huấn
luyện thể lực. Sức bền trong vận động là khái niệm rất rộng. Các quan điểm về
sức bền trong nhiều tài liệu có những cách thể hiện và tiếp cận khác nhau. Qua
phân tích và tổng hợp thấy có các quan điểm sau:
Harre. D cho rằng: “Sức bền được hiểu là khả năng chống lại sự mệt mỏi
của VĐV. Sức bền đảm bảo cho VĐV đạt được một cường độ nhất định (tốc độ,
dùng lực, nhịp độ chơi hoặc thi đấu, sử dụng sức lực) trong thời gian vận động
kéo dài của thi đấu tương ứng khả năng huấn luyện của mình. Sức bền còn đảm
bảo chất lượng động tác và giải quyết hoàn hảo các hành vi kỹ - chiến thuật tới
cuộc đấu và vượt qua một kháng lượng vận động lớn trong luyện tập”. Tác giả
cho rằng: “Sức bền là nhân tố xác định ảnh hưởng lớn đến thành tích thi đấu và
là nhân tố xác định thành tích tập luyện, khả năng chịu đựng LVĐ của VĐV”.
Diên Phong cho rằng: “Tố chất sức bền là năng lực của cơ thể chịu đựng
mệt mỏi sản sinh trong quá trình hoạt động, còn mệt mỏi là sự giảm sút tạm thời
năng lực làm việc của cơ thể do làm việc tạo ra”. Theo tác giả, sức bền là năng

cuối cùng dẫn đến sự ngừng vận động.
Sức bền được xác định bởi tỷ số dự trữ các chất năng lượng được sử dụng
với tốc độ tiêu hao năng lượng khi thực hiện bài tập đã định:
Dù tr÷ n¨ng l îng (J)
Tng (phót)=
Tèc ®é tiªu hao n¨ng l îng (J/phót)
Trong đó: Tng - Thời gian ngưỡng.
Dưới góc độ y - sinh học, Nguyễn Ngọc Cừ, Lê Quý Phượng, Lưu Quang
Hiệp, Phạm Thị Uyên cho rằng: Sức bền là khả năng duy trì trong thời gian dài
khả năng hoạt động của con người và sức đề kháng cao của cơ thể đối với mệt
mỏi. Sức bền đặc trưng cho khả năng thực hiện các hoạt động thể lực kéo dài
18
liên tục từ 2 - 3 phút trở lên với sự tham gia của một khối lượng cơ bắp lớn (từ
1/2 đến toàn bộ lượng cơ bắp cơ thể) nhờ sự hấp thụ O2 để cung cấp năng lượng
cho cơ thể chủ yếu bằng con đường ưa khí. Như vậy sức bền là khả năng thực
hiện lâu dài hoạt động cơ bắp toàn thân hoàn toàn hoặc chủ yếu bằng con đường
ưa khí.
Theo quan điểm của các nhà lí luận trong nước như: Nguyễn Toán, Phạm
Danh Tốn, Trương Anh Tuấn cho rằng: Sức bền là một tố chất thể lực, là năng
lực thực hiện một hoạt động với cường độ cho trước hay là năng lực duy trì khả
năng vận động trong thời gian dài nhất mà cơ thể có thể chịu đựng được, hay nói
một cách khác sức bền là năng lực chống lại mệt mỏi trong hoạt động thể thao.
Các tác giả cho rằng để phát triển sức bền phải giải quyết hàng loạt nhiệm
vụ nhằm hoàn thiện và nâng cao những nhân tố chi phối đến sức bền:
- Kỹ thuật thể thao hợp lý.
- Năng lực duy trì trong thời gian dài trạng thái hưng phấn của các trung
tâm thần kinh.
- Khả năng hoạt động cao của hệ tuần hoàn và hô hấp.
- Tính tiết kiệm của các quá trình trao đổi chất.
- Cơ thể có nguồn dự trữ năng lượng lớn.

- Sức bền có vai trò to lớn đối với thành tích thi đấu, khả năng chịu đựng
LVĐ, đồng thời luôn gắn liền với hiện tượng mệt mỏi và khả năng hồi phục của
VĐV.
- Để phát triển được sức bền trong tập luyện thì VĐV phải khắc phục mệt
mỏi.
Như các môn thể thao khác, sức bền trong môn bóng rổ rất quan trọng để
VĐV thi đấu đạt thành tích cao nhất. Sức bền tạo cho VĐV duy trì nhịp độ trận
đấu cao trong thời gian dài. VĐV bóng rổ có sức bền tốt luôn giải quyết các
hành vi kỹ, chiến thuật hoàn hảo và chuẩn xác. Sức bền còn giúp VĐV bóng rổ
tập trung nỗ lực ý chí cao và ngăn ngừa chấn thương trong tập luyện và thi đấu.
20
Qua phân tích các quan điểm về sức bền cho thấy: Sức bền trong các môn
thể thao nói chung và môn bóng rổ nói riêng là năng lực chịu đựng mệt mỏi của
VĐV trong hoạt động kéo dài. Hay nói cách khác, sức bền chính là khả năng
duy trì hoạt động chuyên môn trong tập luyện và thi đấu với nhịp độ cao, hiệu
suất ổn định trong thời gian dài.
1.4.2. Phân loại sức bền.
Hoạt động vận động của con người rất đa dạng. Các môn thể thao khác
nhau có hoạt động đặc thù riêng mang tính chất và cơ chế mệt mỏi khác nhau.
Mệt mỏi phân ra: mệt mỏi về trí lực và mệt mỏi về phương diện cảm giác, mệt
mỏi về thể xác (thể lực) và mệt mỏi về tinh thần (tình cảm). Sự mệt mỏi về thể
xác được tạo ra bởi sự hoạt động của cơ bắp, do vậy các loại sức bền tương ứng
cũng khác nhau. Qua phân tích và nghiên cứu tài liệu có cách phân loại sức bền
như sau:
- Căn cứ vào thời gian hoạt động các nhà khoa học như: Harre.D, Trương
Anh Tuấn, Đồng Văn Triệu, Nguyễn Thị Xuyền, Trịnh Trung Hiếu và Nguyễn
Sĩ Hà chia sức bền ra thành 3 loại:
Sức bền trong thời gian dài là sức bền cần thiết để vượt qua cự ly hoặc
hoàn thành khối lượng vận động trong thời gian 11 phút tới nhiều giờ, thành tích
phụ thuộc vào khả năng hoạt động ưa khí. Trên cơ sở yêu cầu khác nhau về trao

Sức bền khu vực (mệt mỏi khu vực) là loại sức bền trong các hoạt động
có từ 1/3 đến 2/3 khối lượng cơ tham gia.
Sức bền chung (mệt mỏi chung) là sức bền trong các hoạt động kéo dài
với cường độ thấp có sự tham gia của 2/3 nhóm cơ trở lên. Trong hoạt động này
đòi hỏi cơ quan tuần hoàn và hô hấp hoạt động khẩn trương để đảm bảo cung
cấp năng lượng cho hoạt động.
- Dưới góc độ tâm lý, Phạm Ngọc Viễn cho rằng: Tri giác chuyên môn
của tố chất sức bền thể hiện dưới dạng cảm giác sức bền tốc độ, sức bền mạnh
và sức bền - mạnh - tốc độ. Vì cấu trúc tâm lý của tố chất sức bền không biểu
hiện rõ nét, vì thế sự phân chia sức bền chỉ mang tính chất tương đối. Tuy nhiên
22
trong mỗi môn thể thao tri giác chuyên môn tố chất sức bền lại có cấu trúc tâm
lý riêng và khác nhau. Với các môn thể thao cá nhân thì cảm giác độ lớn và thời
gian của sự nỗ lực trong điều kiện giới hạn thời gian để chống lại đối phương có
ý nghĩa quan trọng.
Dựa trên đặc điểm vận động riêng biệt của từng môn thể thao đa số các
nhà khoa học như: Diên Phong, Daxưorơxki B.M, Harre. D, Novicốp A.D,
Matveép L.P, Thief.G - Schnabel.G- Baumann.R, Trương Anh Tuấn, Trịnh
Trung Hiếu và Nguyễn Sĩ Hà, Phạm Danh Tốn - Nguyễn Toán, chia sức bền
thành sức bền chung (sức bền cơ sở) và sức bền chuyên môn.
Tổng hợp các quan điểm về phân loại sức bền trên cho thấy: Dưới góc độ
khác nhau có các cách phân loại khác nhau. Tuy nhiên, dù ở góc độ nào thì sức
bền đều có liên quan tới LVĐ và cơ chế mệt mỏi. Vì thế sự phân chia sức bền
chỉ mang tính chất tương đối.
23
CHƯƠNG 2. PHƯƠNG PHÁP VÀ TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU
2.1 Phương pháp nghiên cứu.
Để giải quyết được các mục tiêu nghiên cứu đề tài sử dụng cấc phương
pháp sau:
2.1.1 Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu.

tác. Tập lặp lại đọng tác.
Lưu ý: Kết hợp nhịp thở, hít sâu rồi khép đùi và thở ra từ từ dạng đùi về
vịn trí ban đầu.
2.Máy 1
3
:Back Trainer (Bài tập ưỡn thân ở tư thế ngồi)
Bài tập này có tác dụng phát triển nhóm cơ lưng: cơ lưng rộng, mạc ngực
thắt lưng
Phương pháp: ngồi cố định trên ghế máy tập, hai bàn chan đặt vào thiết
bị cố định phía dưới, tỳ thiết bị trợ lực ở phía ngang lưng. Dùng sức ngả người
sâu ra sau, dừng lại 1-2 giây, sau đó từ từ gập thân về vị trí ban đầu (hít vào rồi
ưỡn thân và thở từ từ khi trở về vị trí cũ), hoàn thành động tác, lặp lại động tác.
3. Máy 1
4
: Pull Down (Bài tập khép, kéo cánh tay ở tư thế ngồi)
- Bài tập này có tác dụng có tác dụng phát triển các nhóm cơ đelta, cơ
thang, cơ lưng rộng, cơ cánh tay
Phương pháp: Ngồi cố định trên máy tập, lưng thẳng, ngực ưỡn, hai tay
duỗi thẳng và nắm vào thiết bị trợ lực (có thể điều chỉnh vị trí của ghế sau cho
phù hợp). Hít thở sâu, dùng sức khép cánh tay kéo thiết bị xuống ngang cằm, giữ
khoảng 2-3 giây rồi từ từ duỗi thẳng cánh tay về vị trí ban đầu kết hợp với thở
đều, kết thúc động tác. Tập lặp lại.
4. Máy 2
4
:shoulder press (Bài tập dạng,duỗi cánh tay ở tư thế ngồi)
-Bài tập này nhằm phát triển các nhóm cơ: bó cơ đelta, cơ thẳng, cơ cánh tay
trên
Phương pháp: Ngồi cố định trên máy,lưng thẳng, hai tay co lại nắm vào
tay nắm của thiết bị trợ lực. Hít sâu rồi dùng sức duỗi thẳng khớp khuỷu tay lên
trên, dừng lại 2-3 giây rồi từ từ co khuỷu tay hạ xuống( kết hợp thở ra) trở về tư


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status