Nghiên cứu ứng dụng tiêu chuẩn đánh giá trình độ thực hành cho vđv cờ vua lứa tuổi 9 10 tỉnh vĩnh phúc - Pdf 30

MỞ ĐẦU
Tính cấp thiết:
Thể dục thể thao (TDTT) là hoạt động không thể thiếu trong đời sống văn
hoá xã hội loài người, ngay từ khi mới ra đời TDTT là một bộ phận hữu cơ của nền
văn hoá xã hội là phương tiện giáo dục thể chất. TDTT mang tính lịch sử, tính giai
cấp và bản sắc văn hoá của mỗi dân tộc, vì vậy thông qua TDTT chúng ta có thể
đánh giá được sự phát triển của nền văn hoá thực chất của mỗi quốc gia, mỗi địa
phương, dân tộc.
Cờ vua được phát triển ở Việt Nam từ những năm 1980. Cờ vua là môn thể
thao ít đòi hỏi cao về các tố chất thể lực song lại có yêu cầu cao về sự bền bỉ, mưu
trí, thông minh, óc sáng tạo của người chơi. Cờ vua đã và đang chiếm một vị trí
quan trọng trong làng thể thao Việt Nam đạt được nhiều thành tích cao tại đấu
trường khu vực, Châu lục và thế giới. Những thành tích đạt được của môn Cờ vua
đã góp phần không nhỏ trong việc nâng cao vị thế của đất nước và con người Việt
Nam trên thế giới.
Bên cạnh những tấm huy chương vàng đó chúng ta cần phải phát huy hết khả
năng của mình để dành nhiều thành tích hơn nữa. Ở Vĩnh Phúc Cờ vua được xem là
môn thể thao trọng tâm được lãnh đạo tỉnh đầu tư quan tâm, nhờ đó phong trào Cờ
vua trong tỉnh ngày càng phát triển cả về số lượng và chất lượng gặt hái được nhiều
thành tích đáng kể từ đó đã thu hút được một số lượng đông đảo các số lượng VĐV
đặc biệt là VĐV lứa tuổi 9 - 10 tham gia tập luyện và thi vào các lớp năng khiếu
của tỉnh.
Vĩnh Phúc là tỉnh mới phát triển mặc dù mức độ tăng trưởng kinh tế còn
chưa cao bằng các tỉnh trong cả nước nhưng lại có phong trào TDTT khá phát triển
và gặt hái được nhiều thành tích đáng kể. Song qua quan sát các VĐV Vĩnh Phúc
thi đấu các giải trong nước và các VĐV Việt Nam thi đấu các giải quốc tế cho thấy
rằng các VĐV trẻ nước ta có khả năng chơi khai cuộc, xử lý ưu thế chơi chiến
1
thuật, chiến lược và kỹ thuật tính toán không thua kém bất kỳ VĐV nào song kết
quả của VĐV nước ta không cao. Do vận dụng thực hành trong ván đấu chưa tốt.
Ta biết rằng trình độ thực hành nói chung và trình độ tập luyện của các VĐV nói

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Các quan điểm về đánh giá trình độ thực hành trong TDTT.
Trong thể thao hiện đại vấn đề đánh giá trình độ tập luyện của VĐV có một
vị trí hết sức quan trọng. Việc tiến hành đánh giá trình độ tập luyện một cách khoa
học bằng các phương pháp khách quan sẽ cho phép VĐV luôn nắm được những
thông tin cần thiết để điều khiển quá trình huấn luyện đồng thời nâng cao hiệu quả
của công tác tuyển chọn và đào tạo VĐV. Tuy nhiên vẫn còn tồn tại nhiều quan
điểm khác nhau về vấn đề trình độ tập luyện của VĐV.
Theo quan điểm của các tác giả trong nước:
Theo quan điểm của Nguyễn Toán và Phạm Danh Tốn cho rằng: “Trong lý
luận cũng như trong đào tạo VĐV người ta còn thường gặp các khái niệm như:
Trình độ đào tạo hay trình độ tập luyện. Nói đến trình độ đào tạo là nhằm chỉ tất cả
các mặt đào tạo để làm cho VĐV có thể đạt được những thành tích thể thao kế tiếp
nhau trình độ đào tạo bao gồm trình độ đào tạo về thể lực, kỹ thuật, chiến thuật,
tâm lý và lý luận nhất định của VĐV”.
Theo Nguyễn Danh Thái: “Trình độ tập luyện của VĐV là trình độ điêu
luyện và sự vững vàng nhạy bén về tinh thần và ý thức để đáp ứng yêu cầu đạt
thành tích thể thao ngày càng cao”.
Theo quan điểm của Lê Văn Lẫm và cộng sự: “Trình độ tập luyện của VĐV
là kết quả tổng hợp của việc giải quyết các nhiệm vụ trong thực tiễn huấn luyện thể
thao. Trình độ tập luyện thể hiện ở mức độ nâng cao chức phận cơ thể năng lực
hoạt động chung và chuyên môn của VĐV ở mức hoàn thiện các kỹ năng và kỹ xảo
thể thao phù hợp”.
Theo quan điểm của các tác giả nước ngoài:
Theo quan điểm của Aulic I.V (1982) thì: “Việc đánh giá trình độ tập luyện
thì không phải là mục đích tự thân, là nhiệm vụ hàng thứ hai, nó là một phương tiện
4
kiểm tra cần có để phục vụ cho các vấn đề chính, đó là vấn đề phương pháp tập, tạo
điều kiện đạt được những thành tích thể thao cao”. Tuy nhiên khi phân tích khái
niệm về trình độ tập luyện ông nhận xét: “Có một yếu tố cơ bản của trình độ tập

tuyển chọn và đào tạo trong các trường thể thao thiếu niên và nhi đồng. Trong tác
phẩm nghiên cứu của mình ông còn trình bày mười nguyên tắc có tính chất chủ đạo
trong việc tiến hành kiểm tra tổng hợp sư phạm và y sinh đối với việc đánh giá
trình độ tập luyện cho VĐV trẻ.
Ngoài ra có thể nói trình độ tập luyện là khả năng cơ thể nhằm giải quyết
một nhiệm vụ cụ thể nào đó nhất định. Trình độ tập luyện có thể xác định thông
qua các phương pháp sư phạm - tâm lý - y sinh học. Tuy nhiên trình độ tập luyện là
một khái niệm đặc trưng cho khả năng của toàn bộ cơ thể. Trình độ tập luyện trong
một hoạt động nhất định thường mang tính chuyên môn rất cao. Để xác định trình
độ tập luyện của VĐV của các môn thể thao khác nhau cần phải lựa chọn các bài
tập chuyên biệt trong môn thể thao được nghiên cứu. Trình độ tập luyện có thể xác
định bằng trạng thái phát triển thành tích thu được. Theo các quan điểm nghiên cứu
và định nghĩa trên của các tác giả trong và ngoài nước chúng tôi thấy rằng trình độ
tập luyện của VĐV được các nhà khoa học nhìn nhận và xem xét theo các luận điểm
sau:
- Trình độ tập luyện được thể hiện ở mặt: Kỹ chiến thuật, thể lực, tâm lý,
chức năng, khi VĐV thực hiện các hoạt động chuyên môn.
- Trình độ tập luyện chủ yếu là những biến đổi thích nghi về hình thái cũng
như chức năng diễn ra trong cơ thể dưới tác động của tập luyện.
- Trình độ tập luyện bao gồm nhiều thành phần, nhiều mặt và chịu nhiều ảnh
hưởng của LVĐ.
6
- Yếu tố cơ bản của trình độ tập luyện là thành tích thể thao của VĐV được
nâng cao thông qua quá trình đào tạo huấn luyện.
Do vậy chúng ta thấy rằng quan niệm về trình độ thực hành trong TDTT
được nhìn dưới nhiều góc độ khác nhau rất phong phú và đa dạng.
1.2. Cơ sở lý luận của phương pháp đánh giá trình độ thực hành của VĐV Cờ
vua.
Cờ vua là môn thể thao có đặc trưng là ít đòi hỏi cao về thể lực, song lại có
yêu cầu cao về sự bền bỉ, mưu trí thông minh, óc sáng tạo ở người chơi. Với đặc

quá trình giảng dạy huấn luyện của các VĐV Cờ vua thuộc các lứa tuổi đẳng cấp
khác nhau để kiểm tra tổng hợp, cần sử dụng các phương pháp kiểm tra sư phạm và
y sinh.
+ Kiểm tra sư phạm là cơ sở để có thông tin về tình trạng và hiệu quả hoạt
động của VĐV Cờ vua. Nó được sử dụng để đánh giá hiệu quả của các phương
tiện, phương pháp huấn luyện, để xác định động thái của trạng thái xung sức thể
thao và dự báo các thành tích. Nhiệm vụ của kiểm tra sư phạm là: Thống kê lượng
vận động tập luyện và thi đấu, xác định các mặt khác nhau của trình độ huấn luyện
của các VĐV Cờ vua, xác định các khả năng để đạt được thành tích thể thao dự
kiến, đánh giá hành vi của VĐV Cờ vua trong các cuộc thi đấu. Các phương pháp
chủ yếu của kiểm tra sư phạm là quan sát sư phạm và các thử nghiệm kiểm tra (lập
test) về những mặt khác nhau của trình độ huấn luyện của các VĐV Cờ vua - đặc
biệt là các VĐV Cờ vua trẻ.
+ Các phương pháp kiểm tra y - sinh nhằm đánh giá tình trạng sức khoẻ,
mức độ phát triển thể chất, tuổi sinh học, trình độ huấn luyện về mặt chức năng của
VĐV.
8
Trình độ tập luyện là mức độ thích nghi của cơ thể với một hoạt động cụ thể
nào đó đạt được bằng hoạt động tập luyện đặc biệt, trình độ tập luyện liên quan đến
những biến đổi về cấu tạo và chức năng xảy ra trong cơ thể dưới tác động tích cực
của lượng vận động tập luyện.
Trình độ tập luyện có thể được xác định thông qua các phương pháp sư
phạm, tâm lý và y - sinh học. Tuy nhiên, trình độ tập luyện là một khái niệm tổng
hợp, đặc trưng cho khả năng của toàn bộ cơ thể, vì vậy nguyên lý cơ bản để xem
xét trình độ tập luyện phải là nguyên tắc tổng hợp. Nghĩa là phải xem xét một cách
toàn diện tất cả các mặt hoạt động của cơ thể: Trạng thái sức khoẻ, trạng thái tâm
lý, trình độ kỹ-chiến thuật, trình độ thể lực.
Trình độ tập luyện thể hiện trong một hoạt động nhất định, vì vậy trình độ
tập luyện mang tính chuyên môn rất cao. Để xác định trình độ tập luyện của các
VĐV Cờ vua cần phải lựa chọn tổ hợp các chỉ tiêu tâm - sinh lý chuyên biệt đặc

thông qua việc phân tích các yếu tố xác định thành tích thể thao như:
- Tiêu chuẩn trình độ của thành tích: Dựa vào tiêu chuẩn này có thể kết luận
rằng VĐV có cơ sở thành tích rộng rãi và đầy đủ trong các yếu tố xác định thành
tích của môn Cờ vua. Bởi vậy, cần phải dựa theo các quan điểm sư phạm thể thao,
y học thể thao và tâm lý học thể thao để xác định rằng VĐV đó có đầy đủ các trị số
thành tích thể thao cao trong các yếu tố xác định thành tích.
- Tiêu chuẩn về nhịp độ phát triển thành tích: Dựa vào tiêu chuẩn này phải
cần xác định xem VĐV Cờ vua có thể thực hiện các yêu cầu của lượng vận động
một cách có hiệu quả hay không? Và đặc biệt là các yếu tố xác định thành tích của
VĐV đó phát triển nhanh như thế nào? Điều đó bao gồm nhịp độ phát triển, các
thành tích thể thao cũng như các yếu tố xác định nó, bao gồm chất lượng của khả
10
năng thích ứng của các hệ thống chức năng và nhịp độ phát triển các cấu trúc năng
lực tiếp đó cũng như các đặc điểm cấu trúc có thể nhất định.
- Tiêu chuẩn về sự ổn định thành tích với khả năng tăng trưởng thành tích:
Tiêu chuẩn này có thể giải thích rằng VĐV Cờ vua có cơ sở ổn đinh thành tích đối
với các thành tích thi đấu cao. Điều đó được hiểu là mức độ thể hiện của các yếu tố
xác định thành tích cho phép VĐV Cờ vua hoàn thành nhanh chóng và liên tục các
thành tích của mình và cần phải lập được thành tích tốt nhất của bản thân trong các
cuộc thi đấu quan trọng. Vì điều đặt ra rõ ràng trong thể thao cũng như trong Cờ
vua, thành tích thể thao cao nhất ở các thời điểm đã được xác định trước (các đại
hội Olympic, các cuộc thi đấu vô địch thế giới). Nên sự ổn định thành tích có ý
nghĩa đặc biệt to lớn các kinh nghiệm thực tiễn đã chỉ ra rằng, tiêu chuẩn này có vị
trí lớn với ý nghĩa là cơ sở trung tâm của quá trình đánh giá.
- Tiêu chuẩn về khả năng chịu đựng lượng vận động: Dựa vào tiêu chuẩn
này, cần phải giải thích được VĐV Cờ vua có thể giải quyết được các yêu cầu trong
tập luyện, trước hết là các lượng vận động, ở mức độ nào. Thể hiện đầu tiên của
khả năng này là việc thực hiện một cách có hiệu quả cường độ vận động được nâng
cao thường xuyên và một khối lượng vận động được tăng lên liên tục. Việc dự báo
thành tích ở đây, dựa trên cơ sở mong muốn rằng, sự tăng lượng vận động tập

theo những phương pháp và những quy trình đã được chuẩn y, kiểm nhiệm trong
thực tiễn, trong công tác đào tạo VĐV Cờ vua.
Các phương pháp đánh giá trình độ thực hành của VĐV Cờ vua hiện đang sử
dụng là:
- Đánh giá trình độ thực hành qua thành tích thi đấu
12
- Đánh giá trình độ thực hành bằng chỉ số Reiting.
- Đánh giá trình độ thực hành bằng test sư phạm
- Đánh giá trình độ thực hành dựa vào kinh nghiệm huấn luyện.
* Phương pháp đánh giá trình độ thực hành qua thành tích thi đấu.
Trình độ thực hành của VĐV không chỉ thể hiện ở trạng thái nghỉ ngơi hoặc
trong hoạt động định lượng (hoạt động không lớn lắm) mà nó còn được thể rõ nhất
trong hoạt động tối đa. Khi VĐV thực hiện lượng vận động tối đa sẽ thể hiện tính
thông tin cao nhất, đó chính là các phản ứng thích nghi của cơ thể với hoạt động tối
đa. Chúng thể hiện rõ nhất ở trình độ thực hành của VĐV.
Phản ứng chuẩn cơ thể đối với hoạt động tối đa đến giới hạnh có thể được
nghiên cứu và xác định trong điều kiện tập luyện, thi đấu cũng như trong thí
nghiệm đặc biệt. Hoạt động tối đa thực hiện đến mức mệt mỏi hoàn toàn, chỉ có
trong điều kiện như vậy mới có thể xác định được mức dự tính chức năng và khả
năng sử dụng chúng của cơ thể.
Thực hiện các hoạt động tối đa cho phép chúng ta xác định được các yếu tố
trong đó có các môn thể thao khác nhau. Vì vậy hoạt động tối đa phải mang tính
chuyên môn cao.
Một trong những hướng nhằm đánh giá trình độ thực hành của VĐV Cờ vua
trong hoạt động tối đa đó chúng là thông qua hoạt động thi đấu. Bởi lẽ, LVĐ lớn
nhất trong Cờ vua là LVĐ thi đấu (thi đấu Cờ vua truyền thống, thi đấu thời gian
dài, hoặc thi đấu Blid “mà” đồng loại thi đấu trong thời gian ngắn không nhìn bàn
cờ với nhiều đấu thủ cùng một lúc) đó chính là ván đấu có hạn định thời gian, có
kiểm tra nước đi (khống chế số lượng nước đi trong phạm vi thời gian).
* Phương pháp đánh giá trình độ thực hành bằng chỉ số Reiting.

Những đặc điểm cơ bản của hệ thống này là:
14
Nếu như hệ số “cũ” của VĐV (hệ số đã có trước khi tham gia cuộc) được gọi
là HC. Thì hệ số mới được gọi là Hm (hệ số sẽ có được ngay sau khi kết thúc cuộc
thi) sẽ được xác định theo công thức:
Hm = Hc + K (Đ - Đmc)
Trong đó:
- Đ : Số điểm mà VĐV đó thực sự đạt được trong cuộc thi đó.
- Đmc: Số điểm mà mong muốn đạt được trong cuộc thi đó.
- K: Hệ số phát triển = 10
Số điểm mong muốn đạt được này phụ thuộc vào hệ số của VĐV đó là hệ số
của các đấu thủ mà VĐV đó gặp. Nếu số điểm đạt được cùng với số điểm mong
muốn chỉ số Reiting của VĐV đó sau cuộc thi sẽ không thay đổi. Còn nếu VĐV đó
thu nhận nhận số điểm thực tế nhiều hơn hay ít hơn số điểm mong muốn thì tất
nhiên chỉ số Reiting của VĐV sẽ bị thay đổi hoặc tăng lên hoặc giảm xuống. Từ
công thức tính nêu trên cho thấy rõ ràng một điểm trong cuộc thi tương ứng với 10
đơn vị Reiting. Như vậy, để có thể áp dụng được công thức này cần phải biết cách
xác định Đmc - Số điểm mong muốn đạt được trong một cuộc thi mà VĐV sẽ tham
gia.
Việc đánh giá trình độ thực hành của VĐV Cờ vua theo phương pháp này ở
Việt Nam hiện nay chưa tiến hành, vì điều kiện thực tế hiện nay thang điểm xây
dựng cho VĐV Cờ vua Việt Nam chưa được chuẩn hoá và khi đánh giá trình độ
thực hành theo cách này đòi hỏi các VĐV phải thường xuyên tham gia các giải thi
đấu. Mặt khác khi sử dụng chỉ số này nhằm đánh giá trình độ thực hành cho VĐV
Cờ vua trẻ là khó có thể thực hiện được nhất là trong giai đoạn huấn luyện ban đầu.
Bởi lẽ các VĐV trẻ ít có cơ hội được tham gia thường xuyên các giải đấu đỉnh cao.
Để đánh giá trình độ thực hành của VĐV Cờ vua thông qua hoạt động định
lượng mang tính chuyên môn (thông qua test sư phạm) người ta có thể sử dụng các
test như:
15

trừ, đánh giá độ chính xác khi thực hiện bài thử, tính số lần sai và độ chính xác của
việc xác định bằng linh cảm thời gian sử dụng. Sau đó VĐV tự xác định trong thời
gian 1 phút khi không có đồng hồ bằng bất kỳ phương tiện nào. Test chuẩn đánh
giá tốc độ và độ chính xác trong giải quyết các nhiệm vụ logic được tiến hành theo
mẫu “tương quan số lượng” được dùng trong tâm lý học thử nghiệm. ở đây đòi hỏi
phải xác định mối quan hệ về độ lớn theo các điều kiện định trước.
Khi tiến hành xác định tốc độ và độ chính xác trong tính toán các biến thế
cấu thành với sự căng thẳng giác quan. Test được ứng dụng là test “các đường rối”.
Để thực hiện bài test này đòi hỏi người thực hiện phải có sự tập trung cao độ tri
giác và sự chú ý.
1.4. Đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi 9 – 10.
1.4.1. Đặc điểm tâm lý.
Đối với lứa tuổi này bắt đầu cố gắng muốn tự tập, điều này có quan hệ đặc
biệt đến sự phát triển thái độ có ý thức đối với hoạt động của mình. Nguyện vọng
đó sẽ giúp các em tích cực hơn trong hoạt động, nâng cao ý thức trách nhiệm, phát
triển sự sáng tạo trong hoạt động. Tuy nhiên nếu giáo dục không đúng thì tính độc
lập trong tư duy của các em phát triển theo chiều hướng không đúng sẽ dẫn đến kết
quả không tốt (học đòi, cáu kỉnh, thô lỗ, hốn láo, hút thuốc lá, sống “vô chính phủ”
và dễ dàng mắc phải những tệ nạn xã hội).
- Hứng thú của các em xuất hiện thêm nhiều nét mới. Hứng thú đã được xác
định rõ rệt hơn, mang tính chất bền vững, sâu sắc và phong phú hơn. Hứng thú của
các em rất năng động, các em sẵn sàng đi vào lĩnh vực tri giác mình yêu thích. Do
vậy việc giảng dạy TDTT cũng như các môn học khác đóng vai trò chủ yếu trong
vấn đề này. Giờ học TDTT sẽ tạo cho các em hiểu được ý nghĩa, vai trò của TDTT
đối với cá nhân và xã hội, giúp các em tích cực tự giác tập luyện trong giờ học
17
chính khoá và hoạt động ngoại khoá. Song chất lượng giảng dạy và nhân cách giáo
viên có ảnh hưởng mạnh đến sự nảy sinh và phát triển hứng thú của các em đối với
môn học.
Một đặc điểm nữa là hứng thú nhận thức đối với môn học này ngày càng

Hệ tuần hoàn: Tim phát triển chậm hơn so với sự phát triển mạch máu, sức
co bóp còn yếu, khả năng điều hoà hoạt động của tim chưa ổn định nên hoạt động
quá nhiều sẽ chóng mệt mỏi. Vì vậy, tập luyện TDTT thường xuyên sẽ ảnh hưởng
tốt tới sự hoạt động của hệ tuần hoàn, sự hoạt động của tim dần được thích ứng và
có khả năng chịu đựng khối lượng lớn sau này. Nhưng trong quá trình tập luyện
TDTT cần phải đảm bảo nguyên tắc vừa sức và nguyên tắc tăng dần yêu cầu, tránh
hoạt động quá sức và quá đột ngột.
Hệ hô hấp: Phổi của các em phát triển chưa hoàn thiện, phế nang còn nhỏ,
các cơ hô hấp chưa phát triển, dung lượng phổi còn bé. Vì vậy, khi hoạt động các
em thở nhiều, thở nhanh nên chóng mệt mỏi. Nên việc rèn luyện thể chất cho các
em phải toàn diện, phải chú ý phát triển các cơ hô hấp và hướng dẫn các em biết
cách thở sâu, thở đúng và biết cách thở trong hoạt động. Như vậy mới có thể làm
việc và hoạt động được lâu và có hiệu quả.
Nhận xét: Từ những kết quả nghiên cứu trên, cho phép đi đến một số nhận
xét sau:
- Trình độ thực hành của VĐV là trình độ thích ứng của cơ thể VĐV với hoạt
động TDTT nhờ một quá trình huấn luyện có hệ thống. Trình độ thực hành là thước
đo hiệu quả huấn luyện.
19
- Trình độ thực hành của VĐV Cờ vua là khả năng thích ứng của cơ thể với
lượng vận động tâm lý mà biểu hiện chủ yếu bằng năng lực tư duy cao và có thành
tích thi đấu khả quan trong mỗi giai đoạn đào tạo.
- Việc nghiên cứu, đánh giá TĐTL VĐV Cờ vua nói chung và VĐV Cờ vua
lứa tuổi 9 - 10 nói riêng phải được tiến hành trên quan điểm nghiên cứu mang tính
tổng hợp, toàn diện theo tất cả các thành tố cấu thành của nó dưới góc độ sư phạm
là chính.
20
CHƯƠNG 2. PHƯƠNG PHÁP VÀ TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU
2.1. Phương pháp nghiên cứu
Để giải quyết mục tiêu nghiên cứu nêu trên trong quá trình nghiên cứu của

n
x
X
n
i
i

=
=
1

- Độ lệch chuẩn:

=
−=
n
i
i
xx
1
2
)(
σ
Với n < 30
- So sánh hai số trung bình bằng chỉ số t (Student)
B
c
A
c
BA

: Số trung bình cộng của nhóm 2
- Hệ số tương quan cấp (r) của Brave-pison
( )( )
( ) ( )
∑∑

−−
−−
=
22
yyxx
yyxx
r
ii
ii
- Thang điểm theo thang độ C (thang điểm 10).
C = 5 + 2Z trong đó
δ
xx
Z
i

=
22
Kết quả sử dụng các tham số đặc trưng trên chúng tôi trình bày trong chương
3 của đề tài.
2.2. Tổ chức nghiên cứu
2.2.2. Thời gian nghiên cứu
Đề tài tiến hành nghiên cứu từ tháng 03/2010 đến tháng 06 /2011 và được
chia làm 3 giai đoạn:

6. Chiến thuật (đ).
7. Chiến lược (đ).
8. Tàn cuộc (đ).
9. Thi đấu ván cờ tích cực (đ).
10. Xử lý ưu thế (đ).
11. Thi đấu Blid (đ).
24
Với mục đích lựa chọn các test ứng dụng nhằm đánh giá trình độ thực hành
của VĐV Cờ vua, phù hợp với các điều kiện thực tiễn của địa phương, chúng tôi đã
tiến hành điều tra thực tiễn các test thường được áp dụng trong việc đánh giá trình
độ thực hành của VĐV Cờ vua.
Đối tượng phỏng vấn của chúng tôi là 20 HLV, giáo viên của các trung tâm
Cờ vua mạnh như: Hà Nội, Quân đội, Bắc Ninh, Quảng Ninh, Hải Phòng, Bắc
Giang… những người trực tiếp làm công tác đào tạo VĐV năng khiếu Cờ vua trẻ.
Kết quả phỏng vấn thực tiễn việc đánh giá trình độ thực hành của VĐV trong
quá trình giảng dạy - huấn luyện cờ vua tại các trung tâm trên, được chúng tôi trình
bày ở bảng 3.1.
25

Trích đoạn Bước đầu ứng dụng tiêu chuẩn đánh giá trình độ thực hành cho VĐV Cờ vua lứa tuổi 9 10 tỉnh Vĩnh Phúc.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status