Nhóm 9. Chất lượng thể chế và một số cách đánh giá thể chế thông qua các bộ so
sánh chỉ số về chất lượng thể chế (-ví dụ từ Đông Âu)
I. Một số khái niệm và vai trò của đánh giá chất lượng thể chế
Thể chế là một phạm trù lớn, xét trên nhiều mặt của đời sống kinh tế-xã hội, góp
phần to lớn vào việc hình thành trật tự xã hội chung của một quốc gia. Vì vậy, việc phân tích
các giá trị tác động, đo lường mức độ tác động ảnh hưởng của một thể chế nhất định là việc
làm cần thiết. Việc phân đích và đánh giá được coi là cần thiết không chỉ cho các nhà lãnh
đạo của một địa phương mà còn của một quốc gia và các chính trị gia giữa các nước với
nhau. Hiểu rõ và đánh giá đúng tác động của một thể chế cho phép nhà cầm quyền đưa ra
những chính sách và xây dựng những khuôn khổ thể chế phù hợp phục vụ cho quá trình phát
triển. Vì vậy, đánh giá chất lượng thể chế có vai trò: Lượng hóa cụ thể và mang tính so sánh
được giữa các quốc gia, tỉnh, thành phố về chất lượng của các thiết chế thực hiện được; Đưa
ra nhìn nhận tổng quan chung về sự tác động và mối quan hệ đồng thời giữa các nhóm thể
chế, chính sách; Là một trong những cơ sở thực chứng cho các nhà lãnh đạo, nhà cầm quyền
xây dựng, cải cách khung thể chế phù hợp.
Chất lượng của thể chế phản ánh trình độ chính trị, bản chất chính trị của quốc gia
và đó cũng là cơ sở để xã hội quyết định lựa chọn hoặc không lựa chọn nhà cầm quyền.
Đánh giá chất lượng thể chế là một quá trình kiểm tra, đánh giá một hệ thống thể
chế để tìm ra các điểm phù hợp hay không phù hợp của một hệ thống thể chế trong một tổ
chức, một quốc gia.
Kết quả đánh giá là các thông tin, đầu vào quan trọng cho việc cải tiến chất lượng của
thể chế.
Việc đánh giá chất lượng có thể tiến hành bởi một đoàn đánh giá nội bộ hoặc một tổ
chức đánh giá độc lập.
II. Một số bộ tiêu chí đánh giá chất lượng thể chế. Minh họa
1. Chỉ số chất lượng thể chế (IQ)
Chỉ số IQ đo lường chất lượng thể chế được đưa ra bởi một số các nhà khoa học
Kaufmanm, Kraay, Lobaton (1999). Nhóm tác giả đã đưa ra một bộ chỉ số để đánh giá chất
lượng thể chế của một số nước, đặc biệt là so sánh giữa các quốc gia châu Âu, Nam Á và
các nước châu Phi.
Chỉ số “chất lượng thể chế” (Institutional Quality- IQ) tổng hợp là mức độ trung
Điều kiện để có xây dựng một nhà nước pháp quyền là phải có một hệ thống pháp
luật hoàn chỉnh, đồng bộ, phù hợp và kịp thời. Dân chủ là nền tảng để hoàn chỉnh pháp luật.
5. Kiểm soát tham nhũng
Tham nhũng, về bản chất, đó là sự lạm dung quyền lực nhà nước, tha hóa quyền lực
bởi người có chức vụ quyền hạn trong bộ máy nhà nước nhằm đạt được lợi ích riêng.
Do đó, kiểm soát tham nhũng chính là vấn đề kiểm soát quyền lực. Trong thực tế, người
ngoài rất khó xác định một chính sách của một ngành hay một địa phương ra đời nhằm phục
vụ “tham nhũng cơ chế” hay không bởi tác động của bất kỳ chính sách nào cũng có thể có
lợi cho một số người này và bất lợi cho một số người khác. Và đó chính là điểm nguy hiểm
2
nhất của loại tham nhũng này vì chúng diễn ra công khai, thường núp dưới những mỹ từ nếu
được cố tình đánh bóng
Tình trạng tham nhũng có thể nói lên chất lượng thể chế, vì chính nó phản ánh được
hệ thống thực hiện pháp luật chặt chẽ hay vẫn để kẽ hở, phản ánh việc đảm bảo chất lượng,
vai trò của từng cơ quan, bộ phận trong nhà nước.
Các chỉ số trên (theo Kaufmanm, Kraay và Lobaton, 1999) được tính toán theo thang
điểm dao động từ -20 đến +20 (giá trị càng cao thì chất lượng thể chế càng cao). Chỉ số
“Chất lượng thể chế” được tính toán tổng hợp là mức độ trung bình của năm chỉ số nêu trên.
• Một số ví dụ minh họa từ các nước Đông Âu
- So sánh giữa các nhóm nước trên thế giới
Bảng: So sánh chỉ số IQ được điều chỉnh theo thu nhập đầu người (1997-1998)
IQ trung
bình
Nhà nước
pháp
quyền
Kiểm soát
tham
nhũng
Chất
thứ hai
Nhóm có IQ ở
giữa
Nhóm có IQ cao
thứ tư
Nhóm có IQ
thấp nhất
Ba Lan
Estonia
Hungary
Bungary
Croatstia
Latvia
Abanni
Acmenia
Giôcgia
Azécbaijan
Bê la rus
Tuốc mê nistan
Tajikistan
3
Séc
Slovenia
Luytva
Rumani
Slovakia
Kazắcstan
Kirghidistan
Macxedonia
Mondova
4
WEF đo lường chỉ số năng lực cạnh tranh toàn cầu trên cơ sở tính bình quân gia quyền
của các chỉ số thành phần khác nhau, mỗi chỉ số đo lường các khía cạnh khác nhau của năng
lực cạnh tranh.
GCI dựa trên 12 chỉ số thành phần (12 trụ cột), với mỗi cột trụ đại diện cho một khu
vực được coi như là một yếu tố quyết định của khả năng cạnh tranh. 12 chỉ số thành phần
không độc lập mà có tác động ảnh hưởng lẫn nhau, chẳng hạn như cải cách (yếu kém) trong
lĩnh vực này ảnh hưởng tích cực (tiêu cực) tới lĩnh vực khác. Điểm và xếp hạng đối với mỗi chỉ
số thành phần dựa trên điểm của các chỉ số con. Tất cả các chỉ số, gồm chỉ số con, chỉ số thành
phần, chỉ số nhóm và chỉ số tổng hợp GCI được cho theo thang điểm từ 1-7 với 1 là kém nhất
và 7 là tốt nhất.
a) Mô tả về GCI và phương
pháp tính điểm.
12 trụ cột được xếp và 3 nhóm:
A- Nhóm chỉ số về các yêu cầu cơ bản
1. Thể chế 25%
2. Cơ sở hạ tầng 25%
3. Ổn định kinh tế vĩ mô 25%
4. Y tế và giáo dục tiểu học 25%
B- Nhóm chỉ số nâng cao hiệu quả
5. đào tạo và giáo dục ở bậc cao hơn
17%
6. hiệu quả của thị trường hàng
hóa 17%
7. hiệu quả của thị trường lao động 17%
8. sự phát triển của thị trường tài chính 17%
9. công nghệ tiên tiến 17%
10. quy mô thị trường 17%
C- Nhóm chỉ số về sự đổi mới và sự phát triển của các nhân tố
11. sự phát triển của hệ thống kinh doanh 50%
sophistication
factor
Country/economy rank score rank score rank score rank score
Switzerland 1 5.70 4 6.17 5 5.49 1 5.74
Singapore 2 5.65 1 6.34 2 6.68 11 5.13
United States 3 5.54 33 5.15 1 5.71 5 5.54
Finland 4 5.50 8 5.97 10 5.27 3 5.57
Germany 5 5.49 11 5.91 9 5.28 4 5.56
Japan 6 5.47 25 5.47 7 5.35 2 5.68
Hong Kong 7 5.46 3 6.19 3 5.58 23 4.75
Netherlands 8 5.45 10 5.95 8 5.28 6 5.41
United Kingdom 9 5.41 24 5.49 4 5.51 8 5.21
Sweden 10 5.41 12 5.86 12 5.25 7 5.38
Norway 11 5.35 6 6.05 13 5.24 16 5.08
UnitedArab Fmirates 12 5.33 2 6.20 14 5.24 21 4.83
Denmark 13 5.29 13 5.85 17 5.11 9 5.19
Taiwan, China 14 5.25 14 5.75 16 5.14 13 5.11
Canada 15 5.24 18 5.70 6 5.37 24 4.72
Quatar 16 5.24 5 6.12 20 4.98 15 5.09
New Zealand 17 5.20 9 5.96 11 5.26 25 4.61
Belgium 18 5.18 22 5.53 18 5.07 12 5.11
Luxembourg 19 5.17 7 6.02 22 4.97 18 4.93
Malaysia 20 5.16 23 5.53 24 4.95 17 4.95
Vietnam 68 4.23 79 4.44 74 3.99 77 3.53
Source: WEF- global competitiveness report
6
Ngoài ra, còn có một số bộ chỉ số khác được dùng để đánh giá năng lực cạnh tranh như
Năng lực cạnh tranh quốc gia; Năng lực cạnh tranh doanh nghiệp và Năng lực cạnh tranh sản phẩm,
dịch vụ. Ba yếu tố có mối quan hệ qua lại, mật thiết với nhau hình thành nên tính cạnh tranh của
một quốc gia so với các quốc gia khác trên thế giới.
Âu và Nga (1995-
2014)
4. Chỉ số thuận lợi kinh doanh
( EDBI)
Chỉ số thuận lợi
kinh doanh , (EBDI - Ease
of Doing Business Index) là
chỉ số được đề ra bởi Ngân
hàng thế giới WB. Thứ hạng
cao chỉ ra rằng các quy tắc cho kinh doanh tốt hơn, đơn giản hơn và bảo vệ quyền sở hữu
mạnh hơn. Nghiên cứu thực nghiệm được tài trợ bởi Ngân hàng thế giới chỉ ra rằng ảnh
hưởng của việc hoàn thiện những điều chỉnh này đối với tăng trưởng kinh tế là rất mạnh mẽ.
Chỉ số này được đưa ra dựa trên những nghiên cứu luật pháp, quy tắc bằng việc
phỏng vấn & xác minh bởi 3500 viên chức nhà nước, các luật sư, cố vấn doanh nghiệp, kế
8
toán viên và các nhà chuyên môn có hoạt động trong lĩnh vực cố vấn quản lý chung thực thi
luật pháp.
Chỉ số thuận lợi kinh doanh nói lên đánh giá các quy tắc ảnh hưởng trực tiếp
đến kinh doanh, không phản ánh trực tiếp những trạng thái chung như quốc gia ở cạnh một
thị trường lớn, đặc trưng cơ sở hạ tầng, lạm phát hoặc tội phạm. Thứ hạng của một quốc gia
được đánh giá dựa trên giá trị trung bình của 10 chỉ số sau:
1. Khởi sự doanh nghiệp: thủ tục pháp lý, thời gian, vốn và giá trị doanh nghiệp cực tiểu
theo quy định
2. Đăng ký giấy phép kinh doanh: thủ tục pháp lý, thời gian và chi phí của việc xác minh
& cấp giấy phép kinh doanh (xây dựng công nghiệp)
3. Chi phí thuê nhân công & tình trạng khan hiếm lao động: mức độ khó khăn về giá
nhân công và chỉ số mềm dẻo về thỏa ước thời gian lao động.
4. Đăng ký quyền sở hữu: thủ tục, thời gian và chi phí khi đăng ký các tài sản là bất
động sản thương mại như đất đai thực.
5. Mức khấu trừ tín dụng: chỉ số hiệu lực của các quy định luật pháp, chỉ số công khai
182 Venezuela, RB
183 Afghanistan
184 Congo. Den.Rep
185 Chad
186 South Sudan
187 Central African Republic
10
188 Libya
189 Eritrea
Singapore được xếp hạng cao nhất thế giới về môi trường kinh doanh thuận lợi, tiếp
sau là khu tự trị hành chính New Zealand, HongKong (Trung Quốc), Đan Mạch, Hàn Quốc,
Na-uy… nằm trong số 10 nước đứng đầu. Như ta thấy thì các nước này đều là các nước có
nền kinh tế phát triển, tình hình chính trị ổn định và nhà nước đầu tư nhiều cho phúc lợi xã
hội.
Còn các nước xếp vị trí thấp nhất như Libia, Haiti, Central African Republic, Central
African Republic…là các nước có nền kinh tế nghèo nàn, lạc hậu.
Trong năm qua cũng phải kể đến sự phát triển về kinh tế, ổn định về chính trị ảnh
hưởng đến chỉ số hoạt động thương mại quốc tế cũng như việc thực hiện đúng đắn các chính
sách của một số quốc gia đã đưa chỉ số môi trường kinh doanh của họ tăng vượt bậc.Phải kể
đến các quốc gia như; Sri Lanka tăng 6 bậc (155-99),Togo tăng 15 bậc (164-149),Uzbekistan
tăng 8 bậc (149-141)…
Trong năm 2013-2014 có rất nhiều biến động như tình hình chiến tranh, các chính
sách sai lệch về điều chỉnh môi trường kinh doanh của chính phủ…dẫn đến chỉ số môi trường
cạnh tranh giảm đáng kể ở các nước Irad 146 (2013) xuống 156 (2014), Syrian Arab
Republic từ 165 (2013) xuống 175 (2014).
5. Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh PCI
PCI là chữ viết tắt của ba từ tiếng Anh: Provincial Competitiveness Index và được
dịch sang tiếng Việt là “Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh”. Đây là chỉ số đánh giá và xếp
hạng chính quyền các tỉnh, thành của Việt Nam về chất lượng điều hành kinh tế và xây dựng
môi trường kinh doanh thuận lợi cho việc phát triển doanh nghiệp dân doanh. Đây là dự án
lực…, chỉ số PCI giúp xác định và hướng vào các thực tiễn điều hành kinh tế tốt có thể đạt
được ở cấp tỉnh.
Bằng cách so sánh đối chiếu giữa các thực tiễn điều hành với kết quả phát triển kinh
tế, chỉ số PCI giúp lượng hóa tầm quan trọng của các thực tiễn điều hành kinh tế tốt đối với
thu hút đầu tư và tăng trưởng.
Đồng thời, PCI Nghiên cứu chỉ ra được mối tương quan giữa thực tiễn điều hành
kinh tế tốt với đánh giá của doanh nghiệp và sự cải thiện phúc lợi của địa phương.
Bên cạnh đó, PCI còn cho thấy các chính sách và sáng kiến thân thiện với doanh
nghiệp khuyến khích họ hoạt động theo hướng đem lại lợi ích cho cả chủ doanh nghiệp,
người lao động và cộng đồng thông qua tạo thêm việc làm và tăng thu nhập cho cả nền kinh
tế.
Các chỉ tiêu cấu thành chỉ số PCI được thiết kế theo hướng dễ hành động, đây là những chỉ
tiêu cụ thể cho phép các cán bộ công chức của tỉnh đưa ra các mục tiêu phấn đấu và theo dõi
được tiến bộ trong thực hiện. Các chỉ tiêu này cũng rất thực chất vì được doanh nghiệp nhìn
nhận là các chính sách then chốt đối với sự thành công của công việc kinh doanh.
PCI được xây dựng trên cơ sở đánh giá của các doanh nghiệp, do vậy chỉ số này sẽ phản
ánh một cách khách quan và trung thực về môi trường đầu tư và kinh doanh của địa phương.
PCI phản ánh được thực trạng điều hành kinh tế của chính quyền các tỉnh, các điểm mạnh
điểm yếu, cũng như xác định được chính quyền nào có chất lượng điều hành kinh tế tốt và
các doanh nghiệp hài lòng. Từ đó, chính quyền tỉnh sẽ nhận biết được môi trường kinh
doanh của mình hiện đang còn những yếu kém gì cần phải khắc phục để đáp ứng yêu cầu
của doanh nghiệp và tỉnh trở nên cạnh tranh hơn so với các tỉnh thành khác của Việt Nam.
Vì thế, PCI được xem là “tiếng nói” quan trọng của các doanh nghiệp dân doanh về môi
trường kinh doanh địa phương, là kênh thông tin tham khảo tin cậy về địa điểm đầu tư, là
một động lực cải cách quan trọng đối với môi trường kinh doanh cấp tỉnh.
6. Chỉ số cảm nhận tham nhũng
- Chỉ số cảm nhận tham nhũng (CPI):
Là chỉ số được công bố hàng năm bởi Tổ chức Minh bạch Quốc tế, chỉ số CPI xếp hạng
các quốc gia, vùng lãnh thổ trên cơ sở cảm nhận về tham nhũng trong khu vực công tại các
quốc gia, vùng lãnh thổ đó. Đây là một chỉ số tổng hợp, một sự kết hợp giữa các cuộc thăm
7. Chỉ số cải cách hành chính PAR INDEX
14
PAR Index là công cụ quan trọng để theo dõi, đánh giá hoạt động cải cách hành
chính được thực hiện trên tất cả các lĩnh vực, gồm: cải cách thể chế; cải cách tổ chức bộ
máy hành chính; đổi mới, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức; cải cách hành
chính công và hiện đại hoá nền hành chính.
PAR Index (viết tắt tiếng Anh: Public Administration Reform Index) là công cụ quan
trọng để theo dõi, đánh giá hoạt động cải cách hành chính (CCHC); sử dụng thang điểm 100
để đo lường mức độ hài lòng về cải cách hành chính.
Chỉ số cải cách hành chính được xác định là công cụ quản lý mới trong triển khai
Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011 - 2020, khắc phục được
tính chủ quan, định tính, một chiều trong việc theo dõi, đánh giá cải cách hành chính; bảo
đảm việc theo dõi, đánh giá một cách khoa học, hệ thống, định lượng và dựa trên kết quả,
huy động sự tham gia của các tổ chức trong bộ máy nhà nước, của người dân và doanh
nghiệp vào quá trình đánh giá kết quả, tác động của cải cách hành chính một cách thực chất,
khách quan hơn, tạo cơ sở để gắn kết quả cải cách hành chính với công tác thi đua, khen
thưởng, giúp cho có được tiêu chí rõ ràng, định lượng để khen đúng những đơn vị đạt được
kết quả cao trong cải cách hành chính và giúp các đơn vị còn hạn chế có khả năng tự nhìn
nhận, đánh giá quá trình triển khai cải cách hành chính của mình để có giải pháp nhằm cải
thiện tình hình trong những năm tiếp theo.
Hình: Chỉ số cải cách hành chính ở một số cơ quan ngang Bộ
15
Đối với PAR INDEX cấp Bộ: trong 7 lĩnh vực, 31 tiêu chí và 89 tiêu chí thành phần
7 lĩnh vực gồm:
(1) Công tác chỉ đạo, điều hành cải cách hành chính - 16 điểm;
(2) Xây dựng và tổ chức thực hiện thể chế thuộc phạm vi quản lý nhà nước của bộ - 16.5
điểm;
(3) Cải cách thủ tục hành chính - 14 điểm;
(4) Cải cách tổ chức bộ máy hành chính nhà nước - 12.5 điểm
(5) Xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ công chức, viên chức - 16.5 điểm;
- Xây dựng văn bản quy phạm pháp luật của tỉnh.
- Công tác rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật.
- Tổ chức và kiểm tra việc thực hiện văn bản QPPL tại tỉnh.
17
Như trên, có thể thấy rằng, với thực tế cơ cấu điểm như hiện nay có thể thấy rằng
tổng số điểm cho lĩnh vực cải cách thể chế trong mối tương quan chung với tổng số điểm ở
cấp bộ và cấp tỉnh của PAR INDEX còn chưa thực sự phù hợp với mục tiêu và trọng tâm cải
cách hành chính của Chính phủ đã đề ra từ năm 2011, cần phải được tăng thêm số điểm để
khẳng định và bám sát trọng tâm hàng đầu của cải cách hành chính trong thời gian tới.
Về mặt cụ thể, cần nghiên cứu, sửa đổi ở một số tiêu chí, tiêu chí thành phần chưa
phù hợp từ thực tiễn thấy được qua 02 năm triển khai vừa qua, mặt khác, cũng cần bổ sung
các tiêu chí, tiêu chí thành phần mới để đảm bảo sự thống nhất với chỉ đạo chung của Chính
phủ về vị trí, vai trò và định hướng cho công tác cải cách thể chế trong thời gian tới, nhất là
trong xu hướng hiện nay là chuyển dần hướng trọng tâm từ xây dựng thể chế sang nâng cao
chất lượng, hiệu quả công tác tổ chức thi hành pháp luật (cả hoạt động tổ chức thi hành ở
cấp bộ và cấp tỉnh); đồng thời, chỉ đạo sát sao, quyết liệt hơn công tác soạn thảo và ban hành
văn bản quy phạm pháp luật, có biện pháp đảm bảo các cơ quan được giao hoàn thành đúng
tiến độ và nâng cao chất lượng soạn thảo, ban hành văn bản quy phạm pháp luật, nhất là các
văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành các luật, pháp lệnh đã có hiệu lực pháp
luật./.
18