HIỆU QUẢ CỦA ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI
VỚI KINH TẾ - XÃ HỘI TỈNH HẢI DƯƠNG GIAI ĐOẠN 2006 - 2010
Chu Thị Thu Thủy
1Hải Dương là một trong những tỉnh, thành phố thu hút đầu tư nước ngoài
lớn nhất cả nước. Trong giai đoạn 2006 - 2010, việc thu hút vốn đầu tư trực tiếp
nước ngoài trên địa bàn tỉnh Hải Dương đã thu được những thành tựu đáng ghi
nhận và đặc biệt là đã đóng góp tích cực đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của
tỉnh. Tuy nhiên, bên cạnh những tác động tích cực, đầu tư trực tiếp nước ngoài trên
địa bàn tỉnh Hải Dương giai đoạn 2006 - 2010 vẫn còn tồn tại một số hạn chế.
Song, suy cho cùng, những hạn chế này vẫn là do yếu tố chủ quan, có thể hạn chế
và khắc phục được. Tác động tích cực vẫn là cơ bản, chủ yếu. Đây sẽ là tiền đề cơ
bản để tỉnh đề ra những chính sách cải thiện môi trường đầu tư, tiếp tục thu hút và
sử dụng vốn đầu tư nước ngoài hiệu quả trong giai đoạn sau.
1. Đặt vấn đề
Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là một trong những nội dung chủ yếu của hoạt động kinh tế
đối ngoại và đóng vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia. Do đó,
việc đánh giá tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài với kinh tế - xã hội của tỉnh Hải Dương giai
đoạn 2006 - 2010 là một việc làm có ý nghĩa thiết thực trong việc tiếp tục thu hút đầu tư nước ngoài,
thúc đẩy kinh tế - xã hội của tỉnh phát triển trong giai đoạn tiếp theo.
2. Nội dung
2.1. Vài nét về tình hình đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn tỉnh Hải Dương giai đoạn
2006 - 2010
Hải Dương là tỉnh nằm ở trung tâm châu thổ sông Hồng với diện tích 1.662 km
2
; số dân
1.703.492 người (theo điều tra dân số năm 2009), có nhiều điều kiện thuận lợi để thu hút đầu tư trực
tiếp nước ngoài: là một trong 7 tỉnh, thành thuộc vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc; hệ thống cơ sở hạ
triệu USD (trong đó doanh thu xuất khẩu khoảng 270 triệu USD), tăng 45% so với năm 2006 (469,6
triệu USD); Thuế và các khoản phải nộp ngân sách Nhà nước đạt 63 triệu USD, tăng 34% so với năm
2006 (47 triệu USD); Tạo việc làm mới cho trên 10.000 lao động, đưa tổng số lao động trực tiếp tại
các doanh nghiệp FDI lên đến 43.000 lao động
3
. Đến năm 2010, doanh thu của các doanh nghiệp FDI
trên địa bàn tỉnh đã đạt 1.764,5 triệu USD, tăng 18,7% so với năm 2009 (1.486 triệu USD), trong đó
doanh thu xuất khẩu đạt 1.096,5 triệu USD, tăng 30,5% so với cùng kỳ năm 2009 (840 triệu USD);
thuế và các khoản phải nộp ngân sách Nhà nước đạt 97 triệu USD, tăng 25,8% so với năm 2009 (77,1
triệu USD); tổng số lao động tại các doanh nghiệp FDI đạt trên 84.500 người
4
. Trong đó, một số
doanh nghiệp triển khai đầu tư nhanh và đạt doanh thu lớn như: Ford Việt Nam, Chi nhánh Công ty
Tung Kuang, Sumidenso Việt Nam, Brother Việt Nam…
2.2. Những tác động tích cực của đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với kinh tế - xã hội tỉnh
Hải Dương giai đoạn 2006 - 2010
2.2.1. Đầu tư trực tiếp nước ngoài góp phần tạo ra những nguồn lực mới thúc đẩy tăng trưởng
kinh tế
Khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ở tỉnh Hải Dương đã được hình thành và ngày càng
phát triển, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và đóng góp tỷ lệ ngày càng tăng trong tổng sản
phẩm quốc nội (GDP). Tính từ năm 2006 đến năm 2010, khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài
luôn đóng góp cao trong tốc độ tăng trưởng GDP hàng năm của tỉnh. Năm 2006, GDP thực tế của khu
vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là 2.492 tỷ VND, chiếm 16,1% trong GDP thực tế của tỉnh, tăng
2,3% so với năm 2005. Năm 2007: 2.997 tỷ VND, chiếm 16,3% trong GDP thực tế của tỉnh, tăng
0,2% so với năm 2006. Năm 2008: 3.854 tỷ VND, chiếm 16,4% trong GDP thực tế của tỉnh, tăng
0,1% so với năm 2007. Năm 2009: 4.482 tỷ VND, chiếm 17% trong GDP thực tế của tỉnh, tăng 0,6%
so với năm 2008. Năm 2010: 5.470 tỷ VND, chiếm 17,8% trong GDP thực tế của tỉnh, tăng 0,8% so
với năm 2009
5
.
tế quan trọng có tỷ lệ đóng góp cao nhất cho GDP (sau kinh tế Nhà nước và kinh tế cá thể, tiểu chủ).
Do sự phát triển tương đối nhanh, mức đóng góp của khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài
vào nguồn thu ngân sách của tỉnh ngày càng tăng. Hàng năm, khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước
ngoài đóng góp cho ngân sách tỉnh hàng nghìn tỷ VND. Nếu năm 2006, khu vực kinh tế này đóng góp
607.005 triệu VND, chiếm tỷ lệ 25,68% tổng nguồn thu ngân sách tỉnh thì đến năm 2010, con số này
đã tăng lên 1.400.000 triệu VND, chiếm tỷ trọng 31,88%, tăng gấp 2,3 lần so với năm 2006
7
.
Bảng 2.2. Thu ngân sách từ khu vực có vốn đầu tư nước ngoài của tỉnh Hải Dương giai
đoạn 2006 - 2010
8
2006
2007
2008
2009
2010
Tổng thu (triệu VND)
2.364.184
2.980.463
3.567.398
4.104.472
4.392.000
Khu vực có vốn đầu tư
nước ngoài (triệu VND)
607.005
859.925
1.145.575
1.232.285
1.400.000
Sản phẩm xuất khẩu của khu vực kinh tế này chủ yếu là thuộc lĩnh vực sản xuất trang phục
(năm 2010 là 169,4 triệu USD), sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính (năm 2010 là 361,6 triệu
USD), sản xuất thiết bị điện (năm 2010 là 304,8 triệu USD)
10
.
Bảng 2.3. Kim ngạch xuất khẩu của tỉnh Hải Dương giai đoạn 2006 - 2010 (Đơn vị: nghìn
USD)
11
Năm
Tổng số
Khu vực kinh tế
trong nước
Khu vực kinh tế có vốn
đầu tư nước ngoài
2006
224.635
57.220
167.415
2007
336.840
57.387
279.453
2008
620.012
62.891
557.121
2009
764.056
Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đang tạo ra sự cạnh tranh trên thị trường lao động,
thu hút chất xám từ khu vực kinh tế trong nước, thúc đẩy lực lượng lao động trẻ tự đào tạo một cách
tích cực. Đặc biệt, khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài nhìn chung đã tạo ra tác phong làm việc
công nghiệp, có tổ chức và kỷ luật. Đây là điểm tích cực mà khu vực kinh tế này đem lại.
2.3. Một số hạn chế của đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với kinh tế - xã hội tỉnh Hải Dương
giai đoạn 2006 - 2010
2.3.1. Tốc độ đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn tỉnh có chiều hướng giảm sút; cơ cấu
phân bố và sử dụng vốn chưa hợp lý
Hải Dương vốn có những điều kiện khá thuận lợi và tương đối hấp dẫn, nhưng thực tế trong giai
đoạn 2006 - 2010, kết quả thu hút FDI có chiều hướng giảm sút. Năm 2006, thu hút 51 dự án. Đến
năm 2007, giảm xuống còn 34 dự án. Năm 2008: 46 dự án. Năm 2009: 9 dự án. Năm 2010: 15 dự án.
Trong khi đó, những tỉnh thành như Hà Nội, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh với chủ trương cải thiện môt
trường đầu tư nên ngày càng thu hút được nhiều vốn đầu tư của các doanh nghiệp nước ngoài. Như
vậy, kết quả thu hút FDI của tỉnh Hải Dương chưa tương xứng với tiềm năng, thế mạnh của tỉnh.
Cơ cấu phân bố và sử dụng vốn FDI theo ngành kinh tế còn những bất hợp lý. Giai đoạn 2006 –
2010, các dự án FDI đầu tư vào tỉnh Hải Dương chủ yếu là thuộc lĩnh vực công nghiệp - xây dựng;
tiếp đến là lĩnh vực dịch vụ; còn lĩnh vực nông - lâm - thủy sản chiếm rất ít. Năm 2008, có 162 dự án
FDI đầu tư vào lĩnh vực công nghiệp - xây dựng (chiếm 80,5%), vốn đầu tư 1 tỷ 967 triệu USD
(chiếm 85%); lĩnh vực dịch vụ có 21 dự án (chiếm 10,4%) cùng lượng vốn đầu tư là 282,6 triệu USD
(chiếm 12,2%); lĩnh vực nông - lâm - thủy sản có 18 dự án (chiếm 9%) với lượng vốn 67,5 triệu USD
(chiếm 2,9%)
17
.
Cơ cấu phân bố và sử dụng vốn FDI theo vùng lãnh thổ cũng chưa đáp ứng được yêu cầu, định
hướng chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Các dự án đầu tư vẫn tập trung chủ yếu ven quốc
lộ 5, thuận lợi về giao thông và kết cấu hạ tầng.
2.3.2. Một số dự án FDI hoạt động kém hiệu quả; nhiều lĩnh vực sản xuất mang tính gia công,
lắp ráp; lĩnh vực đòi hỏi công nghệ cao, chất xám còn ít
Một số doanh nghiệp FDI làm ăn thua lỗ kéo dài đã dẫn đến phá sản. Chỉ tính riêng năm 2007
đã có 06 doanh nghiệp chấm dứt hoạt động. Đó là Công ty TNHH phát triển nông nghiệp Triển Mậu,
tiếp nước ngoài trên địa bàn tỉnh Hải Dương giai đoạn 2006 - 2010 vẫn còn tồn tại một số hạn chế.
Song, suy cho cùng, những hạn chế này vẫn là do yếu tố chủ quan, có thể hạn chế và khắc phục được.
Tác động tích cực vẫn là cơ bản, chủ yếu. Đây sẽ là tiền đề cơ bản để tỉnh đề ra những chính sách cải
thiện môi trường đầu tư, tiếp tục thu hút và sử dụng vốn đầu tư nước ngoài hiệu quả trong giai đoạn
sau. CHÚ THÍCH
1, 5, 7, 10, 11. Cục Thống kê Hải Dương, Niên giám thống kê 2010, NXB Thống kê, Hà Nội, 2011, tr.
65, 19-51, 58, 66, 188
2, 4, 16. Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Hải Dương, Báo cáo tình hình đầu tư nước ngoài năm 2010, Tài
liệu lưu trữ tại Phòng Kinh tế đối ngoại, 2011, tr.3, 3, 4
3, 13, 18. Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Hải Dương, Báo cáo tình hình đầu tư nước ngoài năm 2007,
Tài liệu lưu trữ tại Phòng Kinh tế đối ngoại, 2008, tr. 4, 6, 6
6, 8. Cục Thống kê Hải Dương, Tổng hợp từ Niên giám thống kê các năm 2006, 2007, 2008, 2009,
2010, NXB Thống kê, Hà Nội
9. Cục Thống kê Hải Dương, Niên giám thống kê 2009, NXB Thống kê, Hà Nội, 2010, tr. 70
12. Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Hải Dương, Báo cáo tình hình đầu tư nước ngoài năm 2006, Tài liệu
lưu trữ tại Phòng Kinh tế đối ngoại, 2007, tr. 7
14, 17. Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Hải Dương, Báo cáo tình hình đầu tư nước ngoài năm 2008, Tài
liệu lưu trữ tại Phòng Kinh tế đối ngoại, 2009, tr. 4, 18
15. Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Hải Dương, Báo cáo tình hình đầu tư nước ngoài năm 2009, Tài liệu
lưu trữ tại Phòng Kinh tế đối ngoại, 2010, tr. 3
THE EFFECT OF FOREIGN DIRECT INVESTMENT TO SOCIO-ECONOMIC
DEVELOPMENT OF HAI DUONG PROVINCE IN THE PERIOD 2006-2010
Chu Thi Thu Thuy
Abstract
Hai Duong is one of the most attractive province - cities for foreign direct investment all over
the country. In the period 2006-2010, the attraction of foreign direct investment in Hai Duong