BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
ĐÀO THỊ HUYỀN
QUAN HÖ GI÷A CéNG HßA NH¢N D¢N TRUNG HOA
Vµ CéNG HßA ÊN §é Tõ N¡M 1991 §ÕN N¡M 2014
Chuyên ngành: Lịch sử thế giới
Mã số: 60.22.03.11
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ
Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS Văn Ngọc Thành
Hà Nội - 2015
2
BẢNG QUY ƯỚC VIẾT TẮT
APEC: Asia- Pacific Economic Cooperation (Diễn đàn hợp tác kinh tế
châu Á - Thái Bình Dương)
ARF: ASEAN Regional Forum (Diễn đàn an ninh khu vực)
ASEAN: Association of South- East Asian Nations (Hiệp hội các quốc gia
Đông Nam Á)
ASEM: Asia - Europe Meeting (Hội nghị Á - Âu)
CNXH: Chủ nghĩa xã hội
CNTB: Chủ nghĩa tư bản
BCIM Nhóm các nước Bangladesh, Trung Quốc, Ấn Độ, Mianmar
BRICS Nhóm các nước Braxin, Nga, Ấn Độ, Trung Quốc
EU: Europan Union (Liên minh châu Âu)
FDI: Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
GATT: General agreement on Tarifs and Trade
(Thỏa hiệp chung về thuế quan và mậu dịch)
GDP: Gross Domestic Product (Tổng sản phẩm quốc nội)
G.8: Nhóm 7 nước công nghiệp phát triển hàng đầu thế giới và Nga
IMF: International Monntary Fund (Quỹ tiền tệ quốc tế)
LAC: Giới tuyến kiểm soát biên giới thực tế Trung - Ấn
LHQ: Liên Hợp Quốc
dân ý, Casơmia được sáp nhập vào lãnh thổ Ấn Độ. Islamabad lại cho rằng Casơmia
đáng lẽ phải thuộc về Pakistan vì người Hồi giáo chiếm đa số ở Casơmia. Pakistan cũng
cho rằng sau một loạt nghị quyết của Liên Hợp Quốc về vấn đề Casơmia, người dân ở
đây cần được bỏ phiếu để quyết định tương lai chính trị của họ. Tuy nhiên, Ấn Độ
không chấp nhận và đã đưa nhiều dẫn chứng khẳng định việc sáp nhập Casơmia vào Ấn
Độ là phù hợp. Kể từ đó, Casơmia trở thành một điểm nóng với hai cuộc chiến tranh lớn
giữa Ấn Độ và Pakistan vào năm 1947 - 1948 và năm 1965. Sau cuộc chiến tranh đầu
tiên kết thúc, một đường ranh giới đã được dựng lên chia cắt Casơmia thành hai vùng:
Casơmia - Ấn Độ, Casơmia - Pakistan. Tôn giáo đóng vai trò quan trọng trong vấn đề
Casơmia bởi vì dân số ở vùng đất này chủ yếu là người Hồi giáo (60% dân số, là bang
có đông người Hồi giáo nhất ở Ấn Độ). Hơn 60 năm qua, Quan hệ Pakistan và Ấn Độ
luôn ở trong tình trạng thù địch. Sự thù địch này bắt nguồn từ nguyên nhân tôn giáo và
lịch sử, leo thang thành một cuộc chạy đua vũ trang nguy hiểm. Cuộc tranh chấp này
càng phức tạp hơn khi có thêm những thế lực bên ngoài tham gia. Trung Quốc không chỉ
chiếm 5.180 km2 ở Casơmia sau khi được Pakistan nhượng lại từ năm 1963, mà còn hậu
thuẫn cho chính quyền Islamabad trong thế đối trọng với Niu Đê li. Sự hậu thuẫn này là
một trong những nguyên nhân khiến cho vấn đề Casơmia trở nên phức tạp. Việc tìm
kiếm một giải pháp hòa bình cho vùng đất bạo lực này không thể thiếu sự tham gia của
Trung Quốc. Có thể thấy, vấn đề Casơmia là một nhân tố quan trọng chi phối quan hệ
Trung - Ấn hiện nay 29
1.2.2. Sự tác động của xu hướng toàn cầu hoá 31
1.3.1. Ấn Độ trong chính sách đối ngoại của Trung Quốc 36
Tiểu kết chương 1 49
Như vậy, quan hệ Trung - Ấn là mối quan hệ giữa hai cường quốc láng giềng đang trỗi
dậy. Vì thế, quan hệ này chịu nhiều tác động từ những chuyển biến mạnh mẽ của hoàn
cảnh quốc tế như: toàn cầu hóa, khu vực hóa; cách mạng khoa học - công nghệ; nhân tố
các nước lớn như Mỹ, Nhật Bản, EU, Nga và Pakixtan và tác động của những nhân tố
bên trong như: vấn đề tranh chấp biên giới, lãnh thổ; vấn đề Casơmia Trong số đó thì
những nhân tố bên trong, đặc biệt là những vấn đề lịch sử, luôn có tính quyết định nhất
đối với mối quan hệ đặc biệt này. Những nhân tố bên ngoài cũng hết sức quan trọng. Sự
2.2.Trên lĩnh vực kinh tế - thương mại 62
Trung Quốc và Ấn Độ đã chọn hai mô hình phát triển khác nhau, nên con
đường phát triển kinh tế cũng không giống nhau. Mô hình phát triển của
Trung Quốc là “hội nhập với việc thu hút mạnh FDI, tiếp nhận chuyển giao
công nghệ nước ngoài, tận dụng nhân công giá rẻ để sản xuất và xuất khẩu,
dần dần đi lên bằng nguôn vốn và công nghệ tích lũy được”[33, tr.11]. Trong
khi đó, Ấn Độ lại chọn hướng phát triển công nghệ tối ưu, đi lên chủ yếu bằng
nội lực và chất xám. Ấn Độ chọn hướng “đi tắt, đón đầu” để trở thành nền
kinh tế tri thức với mục tiêu trở thành trung tâm công nghệ thế giới. Mặc dù
con đường phát triển của hai nước khác nhau, nhưng với “Chính sách hướng
Đông” của Ấn Độ bắt nhịp với “Chính sách mở của” của Trung Quốc nên hai
nước đã có điều kiện thuận lợi để hợp tác phát triển 62
2.2.1. Về hợp tác thương mại 65
Ấn Độ và Trung quốc là hai nước được đánh giá là động lực cho sự tăng
trưởng kinh tế toàn cầu cũng như làm thay đổi diện mạo kinh tế thế giới.
Không có quốc gia đang phát triển nào như Ấn Độ và Trung Quốc lại có tốc
độ tăng trưởng ấn tượng như vậy. Hai nước đã tìm thấy lợi ích qua chính sách
mở cửa mà trao đổi thương mại là con đường ngắn nhất để đến với nhau.
Trung Quốc đã phấn đấu và hiện nay trở thành đối tác thương mại lớn nhất
của Ấn Độ. Ấn Độ cũng đạt mục tiêu vươn lên thành bạn hàng thứ sáu (hiện
nay là thứ 10) của Trung Quốc trong thời gian tới [130, tr.7]. Quan hệ giữa
Trung Quốc và Ấn Độ có không gian phát triển rất lớn, triển vọng tươi sáng.
3
Nếu hai nước có thể hợp tác với tốc độ nhanh nhất thì điều này không chỉ có
nghĩa là sự bắt đầu vươn lên của thế kỷ châu Á, mà có thể trở thành động lực
thúc đẩy sự phát triển của thế giới 65
2.3.Trên lĩnh vực an ninh - quốc phòng 79
Kể từ sau Chiến tranh lạnh, với việc điều chỉnh chính sách đối ngoại nhất là
“Chính sách hướng Đông”, không gian an ninh của Ấn Độ được mở rộng
“môi trường an ninh của Ấn Độ trải dài từ Vùng Vịnh tới eo biển Malacca ở
Quốc - Ấn Độ đã tổ chức cuộc diễn tập chung trên biển [80, tr.1]. Hai nước
đều có vũ khí hạt nhân và thù địch với nhau trong một thời gian dài, do vậy
cuộc diễn tập chung này, cho dù nội dung diễn tập không có gì đặc biệt,
nhưng là cái mốc quan trọng đánh dấu quan hệ hai nước đã ấm lên rất nhiều.
Sự cải thiện quan hệ Trung - Ấn, nhất là thông qua cải thiện hợp tác quân sự,
chứng tỏ Trung Quốc có bước điều chỉnh lớn nhằm làm cân bằng hơn trong
quan hệ với hai nước láng giềng là Ấn Độ và Pakixtan, từ đó mục tiêu mà
Trung Quốc vẫn luôn nêu ra là duy trì một trường hoà bình, ổn định xung
quanh, có lợi cho công cuộc xây dựng kinh tế ở trong nước. Đó cũng là chiến
lược đối ngoại mới của Trung Quốc trong thế kỷ XXI này. Từ năm 2006 trở
đi, hầu như năm nào hai nước cũng tổ chức những cuộc tập trận chung 80
Về đoạn phía Đông: 89
2.5. Trên lĩnh vực văn hoá - giáo dục, khoa học - kỹ thuật 98
3.1.2.Hạn chế 110
43.TTXVN, Tài liệu tham khảo đặc biệt, (29/3/1959), “Thông cáo tin tức của Tân Hoa Xã
về vụ phiến loạn ở Tây Tạng” 137
5
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Nếu thế kỷ XIX được đánh giá là thế kỷ phát triển của nước Anh, thế
kỷ XX là thế kỷ của Mỹ thì thế kỷ XXI được xem là "thế kỷ châu Á" với sự
nổi lên của hai trung tâm lớn là Trung Quốc và Ấn Độ. “Con rồng” và “con
voi” này với vị trí chiến lược quan trọng, với tiềm lực kinh tế và quân sự to
lớn, đang ngày càng tỏ rõ là hai cường quốc có ảnh hưởng sâu rộng ở châu Á
- Thái Bình Dương cũng như trên trường quốc tế. Những thành tựu to lớn
trong công cuộc cải cách, mở cửa nền kinh tế và những đặc trưng trong quá
trình lựa chọn con đường phát triển của mình, đang đưa Trung Quốc và Ấn
Độ trở thành tâm điểm thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu ở
khắp các quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam.
Nhìn lại sự phát triển của lịch sử Trung Quốc và Ấn Độ hơn sáu mươi năm
càng thu hút sự quan tâm của chúng tôi khi nghiên cứu vấn đề này.
Tìm hiểu về quan hệ Trung - Ấn từ sau Chiến tranh lạnh về động cơ,
phương pháp, bước đi có thể rút ra nhiều điều bổ ích, thậm chí có thể tìm
hiểu rõ hơn một số điểm có tính quy luật hoặc phản ánh bản chất của các
nhà nước châu Á. Đặc biệt, nó còn có vai trò quan trọng đối với cục diện
chính trị khu vực và những lợi ích cơ bản của nước ta. Nhất là trong khi
Việt Nam đang cố gắng làm bạn với tất cả các nước trong khu vực và trên
thế giới.
Một lý do nữa cũng rất thu hút sự quan tâm nghiên cứu của bản thân về
đề tài này, đó là trong quan hệ Trung - Ấn, hợp tác luôn đi kèm với cạnh
tranh. Các mối quan hệ song phương luôn song tồn, đan xen giữa lợi ích và
2
mâu thuẫn, nhưng lợi ích bao giờ cũng được đặt lên trên hết và trước hết.
Vì vậy, dù còn tồn tại nhiều bất đồng do lịch sử để lại nhưng hai nước luôn
khéo léo làm dịu nó đi, tận dụng hoà bình để gặt hái những thành tựu do
hợp tác đưa lại. Đó cũng là sự thể hiện rất rõ bản chất của các mối quan hệ
quốc tế hiện nay.
Vì những lý do khoa học và thực tiễn nêu trên, chúng tôi chọn đề tài
“Quan hệ giữa Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và Cộng hòa Ấn Độ từ
năm 1991 đến năm 2014” làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Trung Quốc và Ấn Độ không chỉ là hai nước láng giềng lớn, hai nền
kinh tế lớn ở châu Á mà còn có vị trí chiến lược hết sức quan trọng trên
trường quốc tế. Mối quan hệ của hai quốc gia này không chỉ là sự thể hiện
của mối quan hệ láng giềng thân thiện mà còn là sự khảo nghiệm của tình
hữu nghị giữa hai nước có hai nền kinh tế và hai thể chế chính trị hoàn toàn
khác nhau. Mối quan hệ Trung - Ấn từ sau Chiến tranh lạnh đến nay đã
thu hút khá nhiều sự quan tâm, nghiên cứu của các nhà nghiên cứu trong và
ngoài nước, đặc biệt là của các nhà nghiên cứu Trung Quốc và Ấn Độ. Tuy
nhiên, do hạn chế về thời gian và khả năng, chúng tôi chỉ mới tiếp cận chủ
của mối quan hệ Trung - Ấn tới tình hình khu vực và quốc tế.
* Trên tạp chí nghiên cứu Đông Nam Á, số 2 - năm 2006, tác giả Võ
Xuân Vinh có bài: " Quan hệ Ấn Độ - Trung Quốc từ sau Chiến tranh lạnh
đến nay”. Qua bài viết, tác giả đã trình bày một cách khái quát các nhân tố
tác động, hiện trạng và một số kết quả đạt được trong quan hệ Trung - Ấn
từ sau Chiến tranh lạnh đến 2006.
4
* Trên tạp chí Nghiên cứu Quốc tế, số 2 - tháng 6 năm 2006 có đăng
bài của tác giả Đặng Bảo Châu với nhan đề: “Liệu Ấn Độ có vượt qua
Trung Quốc?” Trong bài viết này, tác giả đã phân tích khá kỹ về tiềm năng
và sức mạnh của “con rồng” và “con voi” châu Á, cũng như dự báo về khả
năng phát triển kinh tế của hai “người khổng lồ” ở châu Á trong thời gian
tới.
* Năm 2006, tác giả Trần Văn Tùng có bài viết với nhan đề: “Con
đường phát triển kinh tế ở Trung Quốc và Ấn Độ” trên tạp chí Cộng sản,
số 13 - tháng 7. Bài viết đã phân tích chính sách, con đường phát triển kinh
tế của Trung Quốc và Ấn Độ trong thời gian qua. Qua đó tác giả đưa ra
những so sánh, đánh giá và dự báo vị trí của hai nước trên bản đồ thế giới
trong thời gian tới.
* Tại thư viện trường Đại học Vinh có lưu trữ luận văn Thạc sĩ của tác
giả Trịnh Thị Dung với đề tài “Quan hệ giữa CHND Trung Hoa và CH Ấn
Độ từ sau Chiến tranh lạnh đến năm 2006’’ - Vinh, năm 2007. Trong công
trình của mình, tác giả đã trình bày những quan hệ Trung - Ấn trên các lĩnh
vực từ 1991 đến 2006, nêu thực trạng cũng như dự đoán triển vọng của mối
quan hệ Trung - Ấn.
Viết về mối quan hệ Trung - Ấn không thể không nhắc đến nguồn tài
liệu Tham khảo đặc biệt của TTXVN được đăng tải thường xuyên và cập
nhật Đây là nguồn tư liệu mang nhiều thông tin quan trọng và có tính thời
sự rất cao.
Như vậy, đã có nhiều công trình nghiên cứu, nhiều bài viết đề cập đến
4.1. Mục đích: Thực hiện đề tài này chúng tôi hướng đến mục tiêu
6
sau:
4.1.1. Nhằm làm rõ mối quan hệ Trung - Ấn từ sau Chiến tranh lạnh
đến 2014 một cách có hệ thống, đi từ phân tích các nhân tố tác động đến mối
quan hệ, thực tiễn các mối quan hệ, hợp tác trên các lĩnh vực. Từ đó rút ra mặt
tích cực, hạn chế và một số kết quả đạt được cũng như tính chất, đặc điểm của
mối quan hệ này. Đồng thời chúng tôi muốn phân tích và làm rõ một số chính
sách và biện pháp mà Trung Quốc và Ấn Độ đã áp dụng trong mối quan hệ
song phương.
4.1.2. Nghiên cứu về mối quan hệ Trung - Ấn từ sau Chiến tranh lạnh
đến 2014 nhằm góp phần tìm hiểu về chính sách đối nội, đối ngoại của Trung
Quốc và Ấn Độ từ đầu thập niên 90 của thế kỷ XX đến nay. Đó cũng là tìm
hiểu một phần nội dung quan trọng của lịch sử Trung Quốc và Ấn Độ hiện
đại.
4.1.3. Thông qua việc tìm hiểu về quan hệ Trung - Ấn từ sau Chiến
tranh lạnh đến 2014, đề tài còn nhằm rút ra bài học kinh nghiệm cho việc giải
quyết những vấn đề khu vực và quốc gia như việc giải quyết vấn đề biên giới.
4.2. Nhiệm vụ: Để thực hiện mục đích của đề tài, nhiệm vụ mà chúng
tôi phải thực hiện đó là: Sưu tầm, tập hợp các nguồn tư liệu, trên cơ sở đó
tổng hợp, phân tích, đánh giá các sự kiện nhằm xác minh và phân loại. Từ
đó đi sâu làm rõ những nhân tố tác động đến mối quan hệ Trung - Ấn, phân
tích một cách khách quan, khoa học những chủ trương, biện pháp mà hai
nước Trung - Ấn thực hiện trong quá trình hợp tác trên các lĩnh vực. Từ đó
đánh giá được những tích cực, hạn chế và một số kết quả đạt được trong
quan hệ từ sau Chiến tranh lạnh đến 2014. Đồng thời, tác giả đưa ra những
nhận xét về đặc điểm và tính chất của mối quan hệ Trung - Ấn.
5. Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu
5.1. Nguồn tài liệu
7
Quốc và Ấn Độ từ đầu thập niên 90 của thế kỷ XX đến 2014.
6.3. Từ những kết quả đạt được trong công trình nghiên cứu, luận
văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo về lịch sử Trung Quốc và Ấn Độ từ
năm 1991 đến năm 2014. Đồng thời luận văn góp phần tìm hiểu một mảng
nhỏ của lịch sử quan hệ quốc tế, đặc biệt là mối quan hệ giữa các nước lớn
ở châu Á. Từ đó rút ra bài bài học cho Việt Nam trong bối cảnh “Việt Nam
muốn là bạn với tất cả các nước trên thế giới”.
7. Bố cục của luận văn.
Với đề tài này, ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo,
Phụ lục, nội dung của luận văn gồm ba chương:
Chương 1. Những nhân tố tác động đến quan hệ Trung - Ấn từ sau
Chiến tranh lạnh.
Chương 2. Quan hệ Trung - Ấn trên các lĩnh vực từ 1991 đến 2014.
Chương 3. Một số nhận xét và đánh giá về mối quan hệ Trung - Ấn.
9
Chương 1
NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN QUAN HỆ TRUNG - ẤN
TỪ SAU CHIẾN TRANH LẠNH
1.1. Nhân tố lịch sử
1.1.1. Quan hệ Trung - Ấn trong lịch sử đến trước khi đặt quan hệ
ngoại giao 1950
* Vài nét về Trung Quốc trước 1950
Trung Quốc là một nước lớn (với diện tích 9,6 triệu km
2
, dân số gần
1,367 tỷ người (2014)), có vị thế quan trọng trong khu vực châu Á - Thái
Bình Dương và trên toàn thế giới.
Trung Quốc nằm ở phần nửa phía Bắc của Đông bán cầu, phía Đông
Nam của lục địa Á - Âu, phía Đông và giữa Châu Á, phía Tây của Thái
Bình Dương. Phía bắc có chung biên giới với Nga, Mông Cổ; phía Tây
đó thể hiện rõ nét trong quan hệ Trung - Ấn.
*Vài nét về Ấn Độ trước 1950
Ấn Độ là nước lớn thứ 2 ở châu Á, sau Trung Quốc. Diện tích Ấn Độ là
3.28 triệu km
2
, đứng hàng thứ bảy thế giới và dân số khoảng 1,277 tỷ người
(năm 2013), đứng thứ 2 thế giới.
Ấn Độ nằm ở khu vực Nam Á, có biên giới phía Bắc giáp Trung Quốc,
Nepal, Butan; phía Đông giáp Bangladet, Miến Điện; Đông - Nam giáp
Vịnh Bengan; Tây - Nam giáp Ấn Độ Dương; Tây và Tây - Bắc giáp
Pakittan.
Ấn Độ là nước đa chủng tộc và dân tộc với nhiều thứ tiếng, trong đó
ngôn ngữ chính là tiếng Hin đu và tiếng Anh. Ấn Độ cũng là một cái nôi của
lịch sử văn minh nhân loại, là nơi sinh ra những nhà tư tưởng lớn, những vĩ
11
nhân của thời đại. Nền văn hoá bản sắc của Ấn Độ có sức sống mãnh liệt
và có ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống xã hội trong nước cũng như nhiều
nước khác trên thế giới. Người Ấn chủ yếu theo Ấn Độ giáo (chiếm khoảng
83% dân số), còn lại theo đạo Hồi, Cơ Đốc, đạo Phật
Cuối thế kỷ XV, người Bồ Đào Nha bắt đầu xâm nhập Ấn Độ và từ đầu
thế kỷ XVI đến đầu thế kỷ XVIII, Ấn Độ bị người Mô gôn (gốc Mông cổ)
thống trị. Từ năm 1746 đến 1763, Ấn Độ trở thành nơi tranh chấp giữa Anh
và Pháp, kết quả Anh đã chiếm được Ấn Độ, trừ 5 thành phố ven biển
thuộc Pháp (mãi đến năm 1950 Pháp mới trao trả cho Ấn Độ).
Trong suốt thời gian bị thực dân Anh thống trị, nhân dân Ấn Độ dưới sự lãnh
đạo của Đảng Quốc Đại đã đứng lên đấu tranh đòi độc lập dân tộc và kết quả đã
buộc thực dân Anh phải trao trả độc lập cho nước này vào ngày 15/8/1947.
Ngày 26/1/1950 Ấn Độ tuyên bố thành lập nước Cộng Hoà Ấn Độ gồm
22 bang và 9 lãnh địa trực thuộc trung ương.
Ấn Độ là nước có nhiều đảng phái và tổ chức chính trị. Đảng Quốc Đại
lại trở thành những đồng minh luôn sát cánh, hỗ trợ lẫn nhau trong cuộc
chiến chống kẻ thù chung, đấu tranh giành độc lập, chủ quyền và toàn vẹn
lãnh thổ. Hai bên đã ủng hộ nhau chống chính sách xâm lược của chủ nghĩa
thực dân và khi hai nước giành được độc lập dân tộc thì họ chính là những
người bạn đầu tiên công nhận chính quyền của nhau.
Sau khi giành được độc lập (Ấn Độ năm 1947 và Trung Quốc năm
1949), dù mỗi nước đã lựa chọn cho mình một con đường và hướng đi riêng,
nhưng mối quan hệ hợp tác song phương trong thời gian đầu là hết sức có
hiệu quả. Đó vừa là nhu cầu, vừa là nhận thức để củng cố và phát triển đất
nước, cũng như thực hiện được mục tiêu chiến lược của giai đoạn đầu sau khi
13
giành độc lập.
Về kinh tế: từ thời phong kiến, hai nước đã hình thành Con đường tơ
lụa, một đường giao thương quan trọng nối liền hai nước Trung - Ấn và từ
đó có thể đi nhiều trung tâm kinh tế lớn của thế giới. Vào khoảng giữa thế
kỷ XVIII, quan hệ thương mại giữa hai nước đã phát triển thịnh đạt thông
qua con đường thích hợp với những con la, con lạc đà này. Chính Con
đường tơ lụa lịch sử đã thúc đẩy quan hệ thương mại giữa Trung Quốc và
Ấn Độ phát triển thịnh đạt từ rất sớm. Năm 1962, khi cuộc chiến tranh biên
giới giữa Trung - Ấn nổ ra thì Con đường tơ lụa này bị cấm hoạt động.
Đến năm 2006, nó mới được Chính phủ hai bên cho mở cửa hoạt động trở
lại và lại góp một phần không nhỏ vào việc nâng cao kim ngạch mậu dịch
thương mại song phương.
Về văn hoá, xã hội: Trung Quốc và Ấn Độ là hai nước có nền văn hoá
văn minh phát triển rực rỡ, nơi sản sinh ra những vĩ nhân của mọi thời đại,
những nhà tư tưởng kiệt xuất mà tư tưởng của họ trường tồn cùng nhân
loại. Tư tưởng nhân nghĩa trong đạo Khổng, hay lòng từ bi của đạo Phật
không chỉ ăn sâu trong tâm linh mỗi người trong mỗi nước mà nó còn có
sức lan toả tới nhiều nước trong khu vực, và như vậy cố nhiên hai trung
tâm của văn minh nhân loại này không thể không lan toả ảnh hưởng đến
dân tộc.
Trước tình hình đó, cả Trung Quốc và Ấn Độ mới độc lập đều có yêu
cầu dựa vào Liên Xô, tập hợp lực lượng Á - Phi và thi hành chính sách
chống chủ nghĩa đế quốc để bảo vệ độc lập, chủ quyền, xây dựng kinh tế
15
và tăng cường vị trí, vai trò của mình trên trường quốc tế.
Trong những năm đầu sau giải phóng, sự hợp tác chặt chẽ với Liên Xô đã
đem lại cho cả Trung Quốc và Ấn Độ những lợi ích to lớn và thiết thực. Trong
những ngày tháng lịch sử ấy, cả hai cùng áp dụng chính sách láng giềng hữu
nghị, nên quan hệ hữu nghị thân thiện song phương đã đạt đến đỉnh cao.
Ngày 30/12/1949, Ấn Độ công nhận nước CHND Trung Hoa và thiết lập
quan hệ ngoại giao. Tháng 4/1950, hai nước Trung - Ấn thiết lập quan hệ
ngoại giao ở cấp Đại sứ. Ngay sau đó, Thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai
đã bày tỏ mong muốn giải quyết vấn đề Tây Tạng bằng thương lượng hoà
bình. Ấn Độ cam kết từ bỏ các đặc quyền ở Tây Tạng và sẽ công nhận Tây
Tạng là của Trung Quốc.
Từ 1950 đến 1959, Chu Ân Lai thăm Ấn Độ bốn lần, J.Nehru thăm
Trung Quốc một lần. Đỉnh cao của mối quan hệ hữu nghị được đánh dấu bằng
việc năm 1956 tại Băngdung, hai nước đã ghi nhận 5 nguyên tắc cùng tồn
tại hoà bình.
Sau hội nghị Bandung năm 1955, phong trào ở Á - Phi bắt đầu bị chia rẽ
dần, xu hướng không liên kết hình thành và phát triển trong các nước mới
giành độc lập, dẫn tới sự thành lập Phong trào Không liên kết năm 1961 mà
Ấn Độ là một trong những nước sáng lập và đóng vai trò to lớn trong quá
trình phát triển.
Trung Quốc nhờ sự giúp đỡ to lớn và hiệu quả của Liên Xô, nhờ tranh
thủ các nước láng giềng ở châu Á và bước đầu với các nước châu Phi, nhờ sử
dụng những chính sách phù hợp và sự nỗ lực của nhân dân trong nước đã đạt
những thành tựu khá to lớn về mọi mặt, đặc biệt là về kinh tế và tăng cường
được uy tín trên trường quốc tế. Từ đó, Trung Quốc thực hiện điều chỉnh
17