Website : Email : Tel : 0918.775.368
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
Tên đề tài: Quản lý tập trung kinh tế: Kinh nghiệm quốc tế và kiến nghị tăng
cường công tác quản lý tập trung kinh tế ở Việt Nam.
Sinh viên thực hiện: Đỗ Thị Thu
Lớp: Kinh Tế Phát Triển 47B
Giảng viên hướng dẫn: Th.s Nguyễn Thị Hoa
SV Đỗ Thị Thu Lớp Kinh Tế Phát Triển 47B
Website : Email : Tel : 0918.775.368
MỤC LỤC
Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục bảng, biểu, sơ đồ, hình vẽ
Tài liệu tham khảo
Danh mục bảng, biểu, sơ đồ, hình vẽ
Hình 1.1- Đường cong Lorenz ___________ Error: Reference source not found
Hình 1.3- Thông tin không đối xứng gây tổn thất phúc lợi xã hội ___ Error:
Reference source not found
SV Đỗ Thị Thu Lớp Kinh Tế Phát Triển 47B
Website : Email : Tel : 0918.775.368
Hình2.1- TTKT có vốn đầu tư nước ngoài ở Nhật Bản ___ Error: Reference
source not found
(giai đoạn 1983 – 2007) ________________ Error: Reference source not found
Hình 3.1- Thống kê các vụ mua bán, sáp nhập được công bố tại Việt Nam
____________________________________ Error: Reference source not found
Bảng 2.1- Số vụ thông báo sáp nhập tại Nhật Bản _ Error: Reference source
not found
Bảng 2.2 – TTKT- các hình thức TTKT __ Error: Reference source not found
Bảng 2. 3– TTKT- các hình thức TTKT __ Error: Reference source not found
Bảng 3.1- 20 Ngành có mức độ TTKT cao nhất trong năm 2006 theo CR3
____________________________________ Error: Reference source not found
Bảng 3.2- Các ngành có mức độ TTKT cao nhất theo HHI ________ Error:
quy mô hoạt động nhằm tăng hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh.
Nhìn chung, TTKT ở Việt Nam đang được đặt ra như một giải pháp
chiến lược của doanh nghiệp trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tê. Tuy
nhiên, xu hướng này gia tăng sẽ hình thành các doanh nghiệp lớn có sức mạnh
chi phối thị trường, ảnh hưởng tới môi trường cạnh tranh mà chính phủ Việt
Nam đang nỗ lực cải thiện. Quản lý TTKT đang được đặt ra như một nhiệm
vụ quan trọng của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Vì vậy, việc nghiên cứu
đề tài “Quản lý tập trung kinh tế: Kinh nghiệm quốc tế và kiến nghị tăng
cường công tác quản lý tập trung kinh tế ở Việt Nam” là rất cần thiết.
Với mục tiêu nghiên cứu nhằm tìm ra những giải pháp để tăng cường
công tác quản lý TTKT ở Việt Nam trong thời gian tới, đề tài được kết cấu
gồm bốn chương như sau:
SV Đỗ Thị Thu Lớp Kinh Tế Phát Triển 47B
Website : Email : Tel : 0918.775.368
Chương I- Cơ sở lý luận về TTKT. Chương này nhằm xây dựng
khung lý thuyết chung về TTKT và công tác quản lý TTKT.
Chương II- Kinh nghiệm quản lý TTKT trên thế giới. Nội dung
của chương tập trung nghiên cứu quá trình TTKT và công tác quản lý TTKT
ở một số quốc gia trên thế giới đã có nhiều thành công trong quản lý TTKT
nhằm rút ra những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam.
Chương III- Thực trạng TTKT và công tác quản lý TTKT ở Việt
Nam thời gian qua. Chương này nghiên cứu thực trạng TTKT, công tác quản
lý TTKT ở Việt Nam; phân tích những thành tựu cũng như những vấn đề còn
tồn tại và chỉ ra nguyên nhân của những tồn tại đó trong quản lý TTKT ở Việt
Nam.
Chương IV- Kiến nghị tăng cường công tác quản lý TTKT ở Việt
Nam. Chương này phân tích xu hướng TTKT ở Việt Nam trong thời gian tới
đồng thời đưa ra những giải pháp khắc phục những hạn chế đã tìm ra ở
chương III và những giải pháp cho yêu cầu đặt ra trong quản lý TTKT thời
gian tới.
doanh nghiệp độc lập cạnh tranh trên thị trường bị giảm đi thông qua các
hành vi sáp nhập (theo nghĩa rộng) hoặc thông qua tăng trưởng nội sinh của
doanh nghiệp trên cơ sở mở rộng năng lực sản xuất. Cách nhìn nhận này đã
làm rõ nguyên nhân và hậu quả của tập trung kinh tế đối với cấu trúc thị
trường cạnh tranh. Tuy nhiên, dường như quan điểm trên đã coi hiện tượng
tích tụ tư bản là một phần của khái niệm tập trung kinh tế.
1.1.2- Dưới góc độ là hành vi của các doanh nghiệp
Nhìn từ góc độ là hành vi của các doanh nghiệp, tập trung kinh tế (còn
gọi là tập trung tư bản) được hiểu là sự gia tăng tư bản do hợp nhất nhiều tư
bản lại hoặc một tư bản này thu hút một tư bản khác. Khái niệm này không
đưa ra các biểu hiện cụ thể của tập trung kinh tế nhưng lại cho thấy bản chất
và phương thức của hiện tượng.
Như vậy, dù nhìn ở góc độ nào thì các nhà khoa học kinh tế cũng có sự
thống nhất về bản chất của tập trung kinh tế gồm những nội dung sau:
SV Đỗ Thị Thu Lớp Kinh Tế Phát Triển 47B
Website : Email : Tel : 0918.775.368
Thứ nhất, TTKT có thể hiểu là quá trình tái cấu trúc doanh nghiệp, tái
cấu trúc thị trường nhờ vào: sự tăng trưởng nội sinh, sự rút khỏi thị trường
của một số doanh nghiệp, hiện tượng gia nhập thị trường của một số doanh
nghiệp; sự sáp nhập của một số doanh nghiệp (tăng trưởng ngoại sinh)...
Thứ hai, chủ thể của tập trung kinh tế là các doanh nghiệp hoạt động
trên thị trường. Các doanh nghiệp tham gia tập trung kinh tế có thể là các
doanh nghiệp hoạt động trong cùng hoặc không cùng thị trường liên quan.
Thứ ba, tập trung kinh tế đã hình thành nên doanh nghiệp có năng lực
cạnh tranh tổng hợp hoặc liên kết thành nhóm doanh nghiệp, tập đoàn kinh tế,
từ đó làm thay đổi cấu trúc thị trường và tương quan cạnh tranh trên thị
trường.
Tuy nhiên, mức độ tác động của TTKT tới tương quan cạnh tranh trên
thị trường là khác nhau tuỳ thuộc vào các hình thức TTKT khác nhau.
1.2- Các hình thức tập trung kinh tế
kinh tế trong đó sự liên kết giữa các doanh nghiệp tham gia tập trung không
chặt chẽ về quyền sở hữu hay tài sản...
Một hành vi tập trung kinh tế có thể coi là chặt chẽ hay không chặt chẽ
còn phụ thuộc vào quy mô tài sản hay phạm vi quyền, lợi ích hợp pháp được
chuyển nhượng trong khi thực hiện tập trung kinh tế.
Như vậy, tập trung kinh tế chặt chẽ là hình thức tập trung phức tạp và
có thể gây hạn chế cạnh tranh hơn so với hành vi tập trung kinh tế không chặt
chẽ.
1.2.3- Căn cứ vào vị trí của các doanh nghiệp tham gia TTKT trong các cấp độ
kinh doanh của các ngành kinh tế
TTKT thường được phân chia thành 3 hình thức sau:
SV Đỗ Thị Thu Lớp Kinh Tế Phát Triển 47B
Website : Email : Tel : 0918.775.368
(i) Tập trung kinh tế theo chiều ngang: là sự sáp nhập, hợp nhất, mua
lại hoặc liên doanh của các doanh nghiệp trong cùng một giai đoạn sản xuất
trong một chuỗi giá trị và sản phẩm hàng hoá, dịch vụ tương tự nhau hay có
thể hiểu là sự sáp nhập, hợp nhất, mua lại hoặc liên doanh giữa các doanh
nghiệp trong cùng một thị trường liên quan (bao gồm thị trường sản phẩm liên
quan và thị trường địa lý liên quan).
Trong đó, thị trường sản phẩm liên quan là thị trường của những hàng
hoá, dịch vụ có thể thay thế cho nhau về đặc tính, mục đích sử dụng và giá cả.
Và thị trường địa lý liên quan là một khu vực địa lý cụ thể trong đó có những
hàng hoá, dịch vụ có thể thay thế cho nhau với các điều kiện cạnh tranh tương
tự nhau và có sự khác biệt đáng kể với các khu vực lân cận.
(ii) Tập trung kinh tế theo chiều dọc: là sự sáp nhập, hợp nhất, mua lại
hoặc liên doanh giữa các doanh nghiệp nằm trong các giai đoạn sản xuất khác
nhau của cùng một chuỗi giá trị sản xuất ra một sản phẩm hàng hoá, dịch vụ
nào đó hay còn gọi là các doanh nghiệp có quan hệ người mua- người bán
(gồm quan hệ cung cấp- sản xuất hoặc sản xuất- bán lẻ).
(iii) Tập trung kinh tế dạng hỗn hợp (dạng tập đoàn-conglomerate): là sự hợp
Đường cong Lorenz phản ánh tỷ lệ phần trăm của tổng thị phần trên thị
trường (100%) được phân phối tương ứng với tỷ lệ phần trăm cộng dồn của
các nhóm doanh nghiệp trên thị trường. Đường cong Lorenz được biểu thị
trong một hình vuông với 2 cạnh là 2 trục của một hệ trục toạ độ Oxy. Trục
tung Oy biểu diễn phần trăm thị phần cộng dồn của các doanh nghiệp trên thị
trường (từ 0- 100%), trục hoành Ox biểu diễn phần trăm số doanh nghiệp
SV Đỗ Thị Thu Lớp Kinh Tế Phát Triển 47B
Website : Email : Tel : 0918.775.368
cộng dồn của các nhóm doanh nghiệp được sắp xếp theo thứ tự thị phần tăng
dần (từ 0- 100%).
% Số doanh nghiệp cộng dồn 100%
Hình 1.1- Đường cong Lorenz
Tất cả các đường cong Lorenz đều xuất phát từ gốc O của hình vuông
và kết thúc ở điểm A đối diện (Như hình vẽ). Tại điểm O: 0% số doanh doanh
nghiệp chiếm 0% thị phần trên thị trường. Tại điểm A: 100% số doanh nghiêp
chiếm 100% thị phần trên thị trường. Đường phân giác OA là đường bình
đẳng tuyệt đối. Nghĩa là bao nhiêu phần trăm số doanh nghiệp chiếm bấy
nhiêu phần trăm thị phần trên thị trường. Khi đó, có thể nói mức độ tập trung
thị trường là thấp nhất. Còn nếu một doanh nghiệp nào đó chiếm 100% thị
phần còn các doanh nghiệp khác không có một chút thị phần nào thì đường
cong Lorenz biểu diễn sự phân phối thị phần này sẽ có dạng hình chữ L với 2
cạnh là cạnh đáy và một cạnh bên phải của hình vuông. Đây chính là đường
phân phối thị phần bất bình đẳng tuyệt đối. Và có thể đánh giá mức độ tập
trung thị trường là cao nhất. Nhìn chung, đường cong Lorenz thường nằm
giữa đường bất bình đẳng tuyệt đối và đường bình đẳng tuyệt đối. Đường
Lorenz nào càng nằm xa đường bình đẳng tuyệt đối thì sự phân phối thị phần
SV Đỗ Thị Thu Lớp Kinh Tế Phát Triển 47B A B
SV Đỗ Thị Thu Lớp Kinh Tế Phát Triển 47B
Website : Email : Tel : 0918.775.368
đánh giá được mức độ TTKT trên một thị trường nhất định. Hệ số Gini còn
cho phép so sánh chéo về mức độ bất bình đẳng trong phân phối thị phần giữa
các doanh nghiệp giữa các thị trường với nhau. Đó cũng chính là những điểm
mạnh của phương pháp đo này. Bên cạnh đó, phương pháp này cũng có
những hạn chế: Cả đường cong Lorenz và hệ số Gini đều có xu hướng tập
trung đánh giá mức độ bất bình đẳng về thị phần của các doanh nghiệp trên
thị trường chứ không chú trọng tới số lượng doanh nghiệp trên thị trường đó
mặc dù nếu mức độ bất bình đẳng như nhau nhưng số lượng doanh nghiệp
khác nhau thì cấu trúc thị trường hoàn toàn khác nhau. Việc điều tra số lượng
doanh nghiệp cộng dồn và doanh thu cộng dồn của các doanh nghiệp trên thị
trường để tính chỉ số này là khá phức tạp.
Để khắc phục nhược điểm này, chúng ta có thể sử dụng một số phương
pháp khác đánh giá mức độ tập trung kinh tế đơn giản hơn thông qua sự phân
phối thị phần của một nhóm doanh nghiệp lớn trên thị trường.
2.2- Tỷ lệ tập trung kinh tế (CR
n
) có thể là CR
3
, CR
4
hoặc CR
8
Tỷ lệ tập trung kinh tế CR
n
- Concentration Ratio, là tổng thị phần của
n doanh nghiệp hàng đầu (có thị phần lớn nhất) trên một thị trường nhất
định. Trong đó n thường được sử dụng là 3, 4 hoặc 8 doanh nghiệp.
Công thức tính:
bình và cấu trúc thị trường là cạnh tranh độc quyền.
Nếu CR
4
> 40%: mức độ tập trung thị trường tương đối cao và cấu trúc
thị trường là độc quyền nhóm.
Nếu CR
4
~ 100%: mức độ tập trung thị trường rất cao và có thể kết luận
cấu trúc thị trường là độc quyền.
Tương tự đối với các chỉ số tập trung kinh tế của 3 hoặc 8 doanh
nghiệp, chúng ta có thể dùng để đánh giá một cách tương đối chính xác về
cấu trúc thị trường của một thị trường ngành hoặc một thị trường địa lý nhất
định.
Để tính được chỉ số tỷ lệ tập trung, chúng ta cần có số liệu về thị phần
của một nhóm các doanh nghiệp hàng đầu trên thị trường và số lượng doanh
nghiệp hàng đầu trong thị trường ngành hay trong thị trường địa lý nhất định
là một con số không lớn nên việc tính toán chỉ số này có thể nói là không quá
phức tạp.
Tuy nhiên, chỉ số này cũng có những hạn chế nhất định trong việc đo
lường và đánh giá mức độ tập trung kinh tế do: Chỉ số này chỉ hướng vào các
doanh nghiệp hàng đầu mà không xét đến sự phân bố thị phần của các doanh
nghiệp còn lại. Vì vậy không cho phép đánh giá một cách tổng thể nhất về
thực trạng mức độ tập trung kinh tế trên thị trường. Hơn nữa, việc tính tổng
thị phần của các doanh nghiệp hàng đầu chưa có sự phân biệt về mức độ ảnh
hưởng khác nhau của các doanh nghiệp khác nhau đến mức độ tập trung thị
SV Đỗ Thị Thu Lớp Kinh Tế Phát Triển 47B
Website : Email : Tel : 0918.775.368
trường do chưa tính đến trọng số của các doanh nghiệp có quy mô, thị phần
khác nhau. Để khắc phục hạn chế này, chúng ta có thể sử dụng chỉ số HHI-
Hirschman- Herfindahl Index.
mức độ TTKT trong một thị trường, từ đó xác định khá chính xác cấu trúc thị
trường.
SV Đỗ Thị Thu Lớp Kinh Tế Phát Triển 47B
Website : Email : Tel : 0918.775.368
Phương pháp này có đã khắc phục được nhược điểm của phương pháp
tính tỷ lệ TTKT đó là đã tính tỷ trọng lớn hơn cho các doanh nghiệp có thị
phần lớn hơn trong khi thực hiện bình phương thị phần của các doanh
nghiệp. Bên cạnh đó, phương pháp này cũng có những hạn chế về kỹ thuật
tính toán. Việc điều tra số liệu về thị phần của tất cả các doanh nghiệp trong
một thị trường ngành hay một thị trường địa lý và việc tính chỉ số này khá
phức tạp, đòi hỏi có sự đầu tư thời gian, kinh phí khá lớn và phải có một hệ
thống thông tin đảm bảo tính chính xác của các số liệu về thị phần của các
doanh nghiệp. Bởi việc tính toán chỉ số này có thể có những sai số rất lớn khi
bình phương thị phần của tất cả các doanh nghiệp.
2.4- Hệ số Entropy
Một phương pháp đo mức độ tập trung kinh tế khác là tính hệ số E-
Entropy. Hệ số này được định nghĩa là tổng của tích thị phần của mỗi doanh
nghiệp nhân với logarit tự nhiên của nghịch đảo thị phần.
Công thức tính:
E=∑S
i*
1/ lnS
i
Với i= 1--> N
Trong đó: S
i
là thị phần của doanh nghiệp thứ i(%)
N là tổng số doanh nghiệp trên thị trường
Chỉ số này được sử dụng để đo độ bất định trong một thị trường ngành. Qua
đó đánh giá độ bất định trong việc ra quyết định của các doanh nghiệp xét
với 1/ln S
i
đã ngầm gán trọng số thấp hơn cho các
doanh nghiệp có thị phần lớn hơn. Điều đó cũng đồng nghĩa với việc đánh
giá cao hơn tác động của các doanh nghiệp lớn hơn tới mức độ TTKT. Vì E
càng thấp thì mức độ tập trung kinh tế càng cao.
Tuy nhiên, việc tính toán chỉ số này có thể có sai số lớn đặc biệt là khi
số lượng doanh nghiệp trong một thị trường ngành càng lớn.
2.5- Chỉ số tập trung hỗn hợp CCI
SV Đỗ Thị Thu Lớp Kinh Tế Phát Triển 47B
Website : Email : Tel : 0918.775.368
Chỉ số tập trung hỗn hợp CCI- Comprehensive Concentration Index,
được định nghĩa bởi công thức sau:
Trong đó: S
1
là thị phần của doanh nghiệp lớn nhất trên thị trường
S
i
là thị phần của doanh nghiệp thứ i trên thị trường
N là tổng số doanh nghiệp trên thị trường
CCI được sử dụng để đánh giá mức độ tập trung kinh tế trên một thị
trường.
CCI có giá trị từ 0 đến 1.
CCI= 0: thị trường không có doanh nghiệp nào hoạt động.
CCI= 1: thị trường có một doanh nghiệp hoạt động, mức độ tập trung
thị trường là cao nhất (cấu trúc thị trường độc quyền).
CCI càng cao thì mức độ tập trung thị trường càng lớn.
Ưu điểm của phương pháp đo này là đã xét đến số lượng các doanh
nghiệp trên thị trường và kết hợp đánh giá thị phần của tất cả các doanh
nghiệp này trong đó có tính trọng số riêng đối với doanh nghiệp lớn nhất trên
thị trường cao và ngược lại.
Chỉ số Linda cũng là một trong những chỉ số cho phép đánh giá về mức
độ tập trung thị trường. Phương pháp đo lường mức độ TTKT này có ưu điểm
là đã khắc phục được nhược điểm của chỉ số CCI ở trên bằng cách phân ra các
nhóm doanh nghiệp dẫn đầu thị trường và nhóm doanh nghiệp còn lại. Như
vậy thì tác động của các doanh nghiệp có thị phần tương đương nhau đối với
thị trường sẽ được đánh giá tương đương. Tuy nhiên, việc cho i thay đổi từ 1
SV Đỗ Thị Thu Lớp Kinh Tế Phát Triển 47B
Website : Email : Tel : 0918.775.368
đến N để ghép các doanh nghiệp thành từng nhóm khác nhau và tính bình
quân thị phần của từng nhóm doanh nghiệp đó là khá phức tạp nếu số lượng
doanh nghiệp trên một thị trường là lớn.
Như vậy, có rất nhiều phương pháp khác nhau cho phép đo lường và
đánh giá mức độ tập trung kinh tế trên một thị trường, có thể là thị trường
ngành hay thị trường địa lý. Mỗi phương pháp đều có những ưu điểm nhất
định. Nhưng bên cạnh đó chúng cũng có những nhược điểm, những hạn chế
không thể phủ nhận. Vì vậy, để có sự định lượng một cách tổng thể và tương
đối chính xác về mức độ tập trung kinh tế cũng như định lượng cấu trúc thị
trường nói chung, chúng ta cần sử dụng kết hợp các phương pháp đo trên và
có sự linh hoạt khi áp dụng trong những ngành, thị trường cụ thể và trong
những điều kiện phát triển kinh tế cụ thể của từng nước, trong từng thời kỳ.
Những phân tích mang tính lý luận trên đã trả lời cho các câu hỏi: Tập
trung kinh tế là gì? Tập trung kinh tế có những hình thức nào? Và những tiêu
chí nào cho phép đánh giá mức độ tập trung kinh tế? Qua đó có thể thấy:
TTKT cũng là một trong những vấn đề quan trọng của nền kinh tế thị trường.
Vậy, TTKT có những tác động như thế nào tới sự phát triển kinh tế? Tại sao
chúng ta phải quản lý tập trung kinh tế? Và quản lý tập trung kinh tế phải tuân
theo những nguyên tắc nào? Đó chính là những nội dung của cơ sở lý luận về
quản lý TTKT đề tài cần làm rõ.
II- Cơ sở lý luận về quản lý tập trung kinh tế
triển kinh tế bền vững. Thật vậy, bản chất của TTKT là sự chuyển giao quyền
sở hữu giữa các chủ thể kinh tế, có thể là các doanh nghiệp hay các tập đoàn
kinh tế với nhau. Quyền sở hữu đó bao gồm các quyền sở hữu về: vốn, tài
sản, các phát minh sáng chế, các dây chuyền công nghệ, ... Tập trung kinh tế
SV Đỗ Thị Thu Lớp Kinh Tế Phát Triển 47B
Website : Email : Tel : 0918.775.368
sẽ thúc đẩy chuyển giao khoa học- công nghệ, cách thức tổ chức quản lý, kỹ
năng lao động. Theo mô hình hàm sản xuất Cobb- Douglass thì công nghệ
chính là một nhân tố quan trọng tạo ra sản lượng trong nền kinh tế và tăng
trưởng kinh tế:
Y= T.K
a
.L
b
.R
c
(1)
Trong đó: T là khoa học công- nghệ.
K, L, R lần lượt là vốn, lao động, đất đai và các.
Mô hình Cobb- Douglass sau khi biến đổi sẽ thiết lập được mối quan
hệ theo tốc độ tăng trưởng của các biến số như sau :
g= t+ a.k + b.l+ c.r
Trong đó : g là tốc độ tăng trưởng.
k, l, r là tốc độ tăng trưởng của các yếu tố đầu vào
t là tốc độ tăng tiền bộ khoa học- công nghệ.
Các công nghệ tiên tiến, hiện đại được áp dụng rộng rãi sẽ thúc đẩy
việc tăng năng suất lao động, nâng cao sản lượng trong nền kinh tế. Và tiến
bộ công nghệ là yếu tố vô hạn có thể mở rộng đường giới hạn khả năng sản
xuất của nền kinh tế trong điều kiện các nguồn lực khác đều là hữu hạn, công
nghệ là yếu tố quan trọng của tăng trưởng và phát triển bền vững.
động hạn chế đối với sự phát triển kinh tế.
1.2- Tập trung kinh tế- những tác động tiêu cực tới sự phát triển kinh tế
Những tác động tiêu cực tới sự phát triển kinh tế có thể kể đến một số
tác động sau:
Thứ nhất, TTKT làm thay đổi tương quan cạnh tranh trên thị trường và
có thể dẫn đến những tổn thất phúc lợi xã hội. Thật vậy, TTKT làm giảm số
SV Đỗ Thị Thu Lớp Kinh Tế Phát Triển 47B