ẢNH HƯỞNG CỦA MANNAN OLIGOSACCHARIDE TRONG SẢN PHẨM
ACTIGEN
TM
LÊN KHẢ NĂNG TĂNG TRƯỞNG VÀ CẢI THIỆN SỨC KHỎE
CÁ TRA (Pangasianodon hypophthalmus)
Đào Ngọc Thủy, Ngô Lâm Trung Nguyên, Lê Thanh Hùng
Khoa Thủy Sản, Đại Học Nông Lâm TP Hồ Chí Minh
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Cá tra là loài cá được nuôi phổ biến ở các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, đóng góp khá
lớn vào sản lượng và giá trị xuất khẩu thủy sản của cả nước. Trước những giá trị lợi nhuận cao
do cá tra mang lại đã dẫn đến mức độ nuôi thâm canh tương đối cao và diện tích nuôi nhanh
chóng được mở rộng. Dịch bệnh do vi khuẩn gây ra là một trong những trở ngại chính của mô
hình nuôi thủy sản thâm canh (Kohler, 2000). Để điều trị bệnh do vi khuẩn, người nuôi thường
sử dụng kháng sinh. Tuy nhiên, việc sử dụng kháng sinh trong việc điều trị bệnh tạo ra một hệ
lụy nghiêm trọng là sự tồn dư của kháng sinh trong cơ thịt cá ảnh hưởng đến người tiêu dùng, dễ
tạo ra những dòng vi khuẩn kháng thuốc và có thể làm tác động đến môi trường, hệ sinh thái của
khu vực (Sarter và ctv, 2007). Điều này dẫn đến việc điều trị bệnh ngày càng gặp nhiều khó
khăn. Vì vậy, việc duy trì tình trạng sức khỏe tốt của động vật thủy sản nuôi thông qua việc quản
lý tốt ao nuôi và sử dụng những hợp chất có hoạt tính sinh học như Mannan oligosaccharide
(MOS), Galacto-oligosaccharide (GOS), Fructo-oligosaccharide (FOS) nhằm hạn chế việc sử
dụng kháng sinh đang là xu hướng phổ biến hiện nay trên thế giới và ở Việt Nam.
Actigen
TM
là sản phẩm của công ty Alltech, thành phần chứa mannan oligosaccharide được
ly trích từ tế bào nấm men Saccharomyces cerevisiae. Đây là chất có hoạt tính sinh học, tác dụng
điều chỉnh khả năng đáp ứng miễn dịch, cải thiện tăng trưởng và hiệu quả sử dụng thức ăn
(Miguel và ctv, 2004). Đã có nhiều nghiên cứu đánh giá việc bổ sung Actigen vào các loài vật
nuôi. Tuy nhiên, hiện tại chưa có nghiên cứu về tác động của Actigen đối với cá tra. Xuất phát từ
thức tế đã nêu ở trên, chúng tôi thực hiện đề tài nghiên cứu với mục tiêu đánh giá ảnh hưởng của
mannan oligosaccharide trong sản phẩn Actigen
TM
Sau khi kết thúc thí nghiệm 1, 25 cá/giai sẽ được chọn ngẫu nhiên để tiến hành thí
nghiệm 2. Thí nghiệm 2 được tiến hành nhằm đánh giá ảnh hưởng của Actigen lên khả năng bảo
hộ các gây nhiễm với vi khuẩn Edwardsiella ictaluri. Bố trí thí nghiệm gồm 4 nghiệm thức, mỗi
nghiệm thức có 4 lần lặp lại, tương ứng sẽ có 16 bể bố trí ngẫu nhiên. Cá được gây cảm nhiễm
bằng phương pháp ngâm với Edwardsiella ictaluri trong vòng 1 giờ. Mật độ vi khuẩn gây nhiễm
là 10
6
cfu/ml. Sau khi ngâm, cá sẽ được chuyển vào nuôi trong bể composite (80 lít). Theo dõi tỷ
lệ chết 2 lần/ngày trong vòng 14 ngày.
Phương pháp phân tích và xử lý số liệu
Tất cả các số liệu thu thập được sau thí nghiệm sẽ được tính toán bằng phần mềm
Microsofl Excel 2007 và phân tích thống kê bằng phần mềm Minitab 15, sử dụng two-way
ANOVA, kiểm định sự khác nhau giữa các nghiệm thức bằng trắc nghiệm Turkey với mức ý
nghĩa P < 0,05.
3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
Thí nghiệm 1
Tăng trưởng, hiệu quả sử dụng thức ăn và tỷ lệ sống của cá
Bảng 1: Tăng trưởng và hệ số chuyển đổi thức ăn và tỷ lệ sống của cá sau 10 tuần thí
nghiệm
Nghiệm thức ĐC A1 A2 A3 Giá trị P
W
1
(g/cá) 10,76 ± 0,59
a
10,53 ± 0,32
a
10,79 ± 0,10
a
10,82 ± 0,06
a
Lượng ăn 0,89 ± 0,03
a
1,00 ± 0,07
ab
1,04 ± 0,06
ab
1,12 ± 0,06
b
0,02
(g/cá/ngày)
Tỷ lệ sống 97,50 ± 3,79
a
98,00 ± 2,31
a
98,50 ± 1,92
a
99,50 ± 1,00
a
0,66
Ghi chú: W
1
: trọng lượng cá trung bình đầu thí nghiệm (g/cá); W
2
: trọng lượng cá trung bình cuối thí
nghiệm (g/cá); SGR: tốc độ tăng trưởng đặc biệt (%/ngày); FCR: hệ số biến đổi thức ăn. Các giá trị trên
cùng một hàng nếu chứa các ký tự giống nhau thì khác nhau không có ý nghĩa về mặt thống kê (P >
0,05).
Kết quả ở bảng 1 cho thấy, trọng lượng cá ban đầu ở các nghiệm thức (NT) khác biệt
không có ý nghĩa về mặt thống kê (P > 0,05). Tuy nhiên, sau 10 tuần thí nghiệm trọng lượng cuối
có sự khác biệt ý nghĩa. Trọng lượng trung bình của cá ở NT A3 là lớn nhất (79,81g/con), và
bổ sung 0,24% MOS sẽ giúp gia tăng tốc độ tăng trưởng và cải thiện FCR (Zhou và Li, 2004).
Theo Staykov và ctv (2005), bổ sung hàm lượng 0,2% Bio-Mos vào thức ăn cá hồi, kết quả cho
thấy tỷ lệ tăng trưởng tăng lên 13,7%, FCR giảm 0,83, tỷ lệ chết giảm 0,58
(P < 0,01). Bogut và ctv (2006) nghiên cứu trên cá da trơn Châu Âu Silurus glanis với
khẩu phần có bổ sung MOS vào thức ăn cho kết quả cải thiện tăng trưởng, FCR và tỷ lệ chết
giảm xuống so với lô đối chứng. Theo Che và ctv (2011), khi thức ăn có bổ sung 0,04% Actigen
giúp gia tăng khả năng tăng trưởng và hiệu quả sử dụng thức ăn của heo thí nghiệm.
Số lượng bạch cầu của cá sau thí nghiệm
Bạch cầu đơn nhân, đại thực bào, bạch cầu hạt trung tính là các tế bào miễn dịch không
đặc hiệu trên cá. Nhiệm vụ chính của bạch cầu là chống lại sự xâm nhập của vi khuẩn vào cơ thể,
mỗi loại bạch cầu có một chức năng riêng (Nguyễn Văn Tư, 2007).
Kết quả về số lượng bạch cầu đếm được trong các mẫu máu cá tra sau 10 tuần thí nghiệm
được thể hiện qua bảng 2. Kết quả cho thấy số lượng bạch cầu đếm được ở NT A2 là cao nhất, kế
đến là NT A3, NT A1 và thấp nhất là NT ĐC. Tuy nhiên, sự khác biệt giữa NT ĐC và NT A1, NT
ĐC và NT A3, NT A1 và NT A3 là không có ý nghĩa về mặt thống kê (P > 0,05). Còn sự khác
biệt giữa NT ĐC và NT A2 là có ý nghĩa về mặt thống kê (P < 0,05). Điều này chứng tỏ ở mức
bổ sung 800g Actigen/tấn thức ăn cho tác dụng tốt nhất trong việc kích thích và làm gia tăng hoạt
động của bạch cầu.
Bảng 2: Số lượng bạch cầu đếm được trong các mẫu máu cá tra thí nghiệm
Nghiệm thức Tổng số lượng bạch cầu (x10
3
tế bào/mm
3
)
ĐC 79,43 ± 18,32
a
A1 84,89 ± 9,56
ab
A2 101,21 ± 19,59
b
ab
155,00 ± 32,3
ab
A2 5,2 ± 0,00
ab
130,00 ± 11,55
ab
A3 6,6 ± 0,01
b
164,38 ± 15,73
b
Giá trị P 0,02 0,02
Ghi chú: Các giá trị trên cùng một cột nếu chữa các ký tự giống nhau thì khác nhau không có ý nghĩa về
mặt thống kê (P > 0,05).
Hoạt lực của lysozyme có sự gia tăng ở những lô bổ sung Actigen nhưng sự gia tăng
không đồng đều. Hoạt lực lysozyme cao nhất ở NT A3 (164,38 unit/mL) và thấp nhất là NT ĐC
(118,75 unit/mL). Sự khác biệt giữa NT ĐC và NT A3 là có ý nghĩa về mặt thống kê (P < 0,05).
Còn sự khác biệt giữa các NT còn lại là không có sự khác biệt về mặt thống kê (P > 0,05).
Sự suy giảm mật độ quang là do hoạt động của lysozyme. Lysozyme hoạt động càng
mạnh, số lượng tế bào Gram dương bị phá vỡ càng nhiều, do đó mật độ quang cũng giảm nhiều
hơn. Ở NT A3 có sự giảm mật độ quang cao nhất và có ý nghĩa về mặt thống kê (P < 0,05). Điều
này chứng tỏ việc bổ sung 1200 g Actigen/tấn thức ăn cho kết quả kích thích hoạt động của
lysozyme tốt nhất.
Staykov và ctv (2006) nghiên cứu về ảnh hưởng của MOS lên tăng trưởng và tình trạng
miễn dịch của cá hồi vân (Salmo gairdneri irideus G) và cá chép (Cyprinus carpio L). MOS được
bổ sung với liều 2kg/tấn thức ăn. Kết quả cho thấy, hoạt lực lysozyme được gia tăng ở liều bổ
sung MOS (P < 0,05). Thí nghiệm trên cá chép Jian cho kết quả gia tăng hoạt lực của lysozyme
khi cá ăn thức ăn có bổ sung MOS (Zhou và Li, 2004).
Thí nghiệm 2
Đồ thị: Tỷ lệ sống của cá sau khi gây cảm nhiễm bởi E. ictaluri
miễn dịch không đặc hiệu trên cá tra giúp cá gia tăng khả năng chống lại bệnh gan thận mũ gây
ra do vi khuần Edwardsiella ictaluri. Nhưng hệ miễn dịch không đặc hiệu chỉ giúp gia tăng sức
khỏe giúp làm giãm tỉ lệ chết khi gây cãm nhiễm và trong thí nghiệm này do mật độ vi khuẩn
gây bệnh cao nên tỉ lệ chết của các nghiệm trên 50% nên khả năng bảo hộ của các lô bổ sung
Actigen không thấy rõ so với lô đối chứng.
4. KẾT LUẬN
Thức ăn bổ sung 800 và 1200 g Actigen/tấn thức ăn ảnh hưởng tốt giúp gia tăng tăng
trưởng của cá tra (P < 0,05). Lượng thức ăn gia tăng ý nghĩa so với đối chứng ở liều bổ sung
1200g Actigen/tấn. Tuy nhiên hệ số thức ăn không khác nhau ý nghĩa ở các nghiệm thức dù có
khuynh hường giãm khi bổ sung các liều Actigen vào thức ăn.
Bổ sung Actigen giúp gia tăng hệ miễn dịch không đặc hiệu trên cá tra: 1200 g
Actigen/tấn thức ăn giúp gia tăng hoạt lực của lysozyme (P < 0,05) và 800 g Actigen/tấn thức ăn
hoạt hóa bạch cầu tốt hơn so với đối chứng (P < 0,05).
Khi gây cãm nhiễm với vi khuẩn Edwardsiella ictaluri, tỷ lệ sống của cá tra sau 14 ngày
gây cãm nhiễm có khuynh hướng gia tăng với các liều bổ sung Actigen nhưng không có sự khác
biệt có nghĩa so với đối chứng (P > 0,05). Sự gia tăng hệ miễn dịch không đặc hiệu trên cá tra khi
bổ sung Actigen chưa đủ hiệu quả để bảo vệ cá khi mật độ vi khuẩn gây bệnh trong môi trường
quá cao gây chết với tỷ lệ trên 50%.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Ballou C.E., 1970. A study of the immunochemistry of three yeast mannans. J Biol Chem 245(5):
1197-1203.
Bayne C.J. and Gerwick L., 2001. The acute phase response and innate immunity of fish.
Developmental and Comparative Immunology 25:725-743.
Bogut I., Milakovic Z., Pavlicevic J., Petrovic D., 2006. Effect of Bio-Mos
®
on performance and
health of European catfish. In: Nutrition and biotechnology in the feed and food industries:
Alltech’s 22
nd
annual symposium (suppl. 1) (abstracts of posters presented). Lexington, KY,
Murray C.K. and Fletcher T.C., 1976. The immunohistochemical localisation of lysozyme in
plaice (Pleuronectes platessa L.) tissuse. J. Fish Biology 9: 329-334.
Nguyễn Văn Tư, 2007. Bài giảng Sinh lý cá và giáp xác. Đại học Nông Lâm, TP. Hồ Chí Minh,
142 trang.
Samrongpan C., Areechon N., Yoonpundh R. and Srisapoome P., 2008. Effectc of mannan-
oligosaccharide on growth, survival and disease resistance Nile tilapia (Oreochromis
niloticus Linnaeus) fry. International Symposium on Tilapia in Aquaculture 8: 345-353.
Sarter S., Kha N.H.N., Hung L.T, Lazard J. and Diditier M., 2007. Antibiotic Resistance in
Gram-negative bacteria isolated from farmed catfish. Food Control 18: 1391 – 1396.
Staykov Y., Denev S., Spring P., 2005. Influence of dietary mannan oligosaccharides (Bio-Mos
®
)
on growth rate and immune function of common carp (Cyprinus carpio L.). In: Howell B,
Flos R (eds) Lessons from the past to optimise the future. European Aquaculture Society,
Special Publication. 35: 431–432.
Staykov Y., Spring P., Denev S. Influence of dietary Bio-Mos
®
on growth, survival and immune
status of rainbow trout (Salmo gairdneri irideus G.) and common
carp (Cyprinus carpio L.). Bulgaria: Trakia University; 2006.
Staykov Y., Spring P., Denev S. and Sweetman J., 2007. Effect of a mannan oligosaccharide on
the growth performance and immune status of rainbow trout (Oncorhynchus mykiss).
Aquacult. Int., 15, 153-161.
Swanson K.S., Grieshop C.M., Flickinger E.A., Bauer L.L., Healy H.P., Dawson K.A., Merchen
N.R. and Fahey G.C., 2002. Supplemental fructooligosaccharides and
mannanoligosaccharides influence immune function, ileal and total tract nutrient
digestibilities, microbial populations and concentrations of protein catabolites in the large
bowel of dogs. J Nutr 132: 980-989.
Torrecillas S., Makol A., Caballero M. J., Montero D., Robaina L., Real F. and Sweetman J., 2007.
Immune stimulation and improved infection resistanxe in European sea bass (Dicentrarchus
Actigen supplementing feed treatments tends to increase when compared to the control (significant improvement in
treatment A3 (P < 0,05)). Non-specific immune response including lysozyme activity and density of white blood cells
of fish were evaluated. Treatment A3 (800 g Actigen ton
-1
) enhanced significantly lysozyme activity, and treatment
A2 increased significantly the density of white blood cells (P < 0,05).
At the end of the trial, fish fed different feed in 10 weeks were challenged with Edwardsiella ictaluri bacteria by
immersion. Mortality was observed twice per day, for 14 days. There were a tendency of increased survival rates in
Actigen supplement fish when compared to the control but no significant differences among treatments (P > 0,05). It
seems that Actigen has improved the non specific immune systems in fish fed 800-1200g Actigen.ton
-1
; however,
when challenged with high bacteria solution, the health improvement had a tendency to be improved with Actigen
supplementation but no significant differences among treatments