Nghiên cứu ảnh hưởng của mùa vụ, phương thức chăn nuôi đến khả năng sinh trưởng và cho thịt của gà sasso thương phẩm nuôi tại thái nguyên - Pdf 35

1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

HOÀNG THỊ HỒNG NHUNG

NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA MÙA VỤ, PHƯƠNG THỨC
CHĂN NUÔI ĐẾN KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG VÀ CHO THỊT
CỦA GÀ SASSO THƯƠNG PHẨM NUÔI TẠI THÁI NGUYÊN

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP

THÁI NGUYÊN - 2008


2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

HOÀNG THỊ HỒNG NHUNG

NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA MÙA VỤ, PHƯƠNG
THỨC CHĂN NUÔI ĐẾN KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG VÀ
CHO THỊT CỦA GÀ SASSO THƯƠNG PHẨM NUÔI TẠI THÁI
NGUYÊN

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
Chuyên ngành: Chăn nuôi
Mã số: 60.62.40

Thái Nguyên, Trường THCS Hạ Hoà - Phú Thọ đã tạo mọi điều kiện thuận lợi
cho tôi hoàn thành luận văn này.
Tôi xin chân thành cảm ơn tới mọi người thân trong gia đình và toàn thể
bạn bè, đồng nghiệp đã động viên giúp đỡ tôi cả về vật chất và tinh thần để tôi
yên tâm hoàn thành công việc.
Tôi xin trân trọng gửi tới các thầy cô giáo, các vị hội đồng chấm luận văn
lời cảm ơn sâu sắc và lời chúc tốt đẹp nhất.
.
Thái Nguyên, ngày tháng
Tác giả

năm 2008

Hoàng Thị Hồng Nhung


5

MỤC LỤC
Phần mở đầu
1.
2.
3.

Tính cấp thiết của đề tài
Mục đích của đề tài
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

1.1.6.1.
1.1.6.2.

2.1.
2.1.1.
2.1.2.
2.2.
2.2.1.
2.2.2.
2.2.3.

Chương 2:
Đối tượng, địa điểm, nội dung và phương pháp nghiên cứu
Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Địa điểm, thời gian thí nghiệm
Nội dung, phương pháp và các chỉ tiêu theo dõi
Nội dung nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu
Các chỉ tiêu theo dõi

1.1.
1.1.1.
1.1.2.
1.1.21.
1.1.2.2.
1.1.2.3.
1.1.3.
1.1.4.
1.1.4.1.
1.1.4.2.
1.1.5.
1.1.6.

38
41


6

2.2.4.
2.2.4.1.
2.2.4.2.
2.2.4.3.

Phương pháp theo dõi các chỉ tiêu
Tỷ lệ nuôi sống
Khả năng sinh trưởng
Khả năng chuyển hoá thức ăn và chi phí thức ăn cho 1 kg tăng
khối lượng
2.2.4.4. Đánh giá năng suất và chất lượng thịt
2.2.4.5. Phưong pháp xử lý số liệu

3.1.
3.2.
3.2.1.
3.2.2.
3.2.3.
3.2.4.
3.2.4.1.
3.2.4.2.
3.2.5.
3.2.5.1.
3.2.5.2.

48
53
58
62
62
64
73
73
74
76
79
82

Kết luận, tồn tại và đề nghị
1.
Kết luận
2.
Tồn tại
3.
Đề nghị
Tài liệu tham khảo
I.
Tài liệu tiếng việt
II.
Tài liệu tiếng nước ngoài

83
84
84
85

Chế độ dinh dưỡng của gà thí nghiệm
Tỷ lệ nuôi sống của gà thí nghiệm
Ảnh hưởng của mùa vụ đến sinh trưởng tích luỹ của gà thí nghiệm
(chung trống mái)
Ảnh hưởng của phương thức nuôi đến sinh trưởng tích luỹ của gà thí
nghiệm (chung trống mái)
Sinh trưởng tuyệt đối của gà thí nghiệm theo mùa vụ (chung trống
mái)
Sinh trưởng tuyệt đối của gà thí nghiệm theo phương thức nuôi
(chung trống mái)
Sinh trưởng tương đối của gà thí nghiệm theo mùa vụ (chung trống
mái)
Sinh trưởng tương đối của gà thí nghiệm theo phương thức nuôi
(chung trống mái)
Khả năng thu nhận thức ăn của gà thí nghiệm theo mùa vụ (chung
trống mái)
Khả năng thu nhận thức ăn của gà thí nghiệm theo phương thức nuôi
Tiêu tốn thức ăn cộng dồn cho tăng khối lượng của gà thí nghiệm
theo mùa vụ
Tiêu tốn thức ăn cộng dồn cho tăng khối lượng của gà thí nghiệm
theo phương thức nuôi.

Trang
24
38
40
47
50
51
54

3.11b

Kết quả mổ khảo sát gà thí nghiệm lúc 63 ngày tuổi
Thành phần hoá học của thịt gà thí nghiệm lúc 63 ngày tuổi
Chỉ số sản xuất của gà thí nghiệm theo mùa vụ
Chỉ số sản xuất của gà thí nghiệm theo phương thức nuôi

74
75
76
77

3.12a
3.12b

Chỉ số kinh tế của gà thí nghiệm theo mùa vụ
Chỉ số kinh tế của gà thí nghiệm theo phương thức nuôi

80
80

3.13a
3.13b

So sánh chi phí trực tiếp cho sản xuất gà thịt theo mùa vụ
So sánh chi phí trực tiếp cho sản xuất gà thịt theo phương thức nuôi

82
82


đặc tính sinh trưởng, phát dục, sinh sản, các chỉ tiêu sản xuất của giống đó.
Nhằm góp phần đánh giá ảnh hưởng của mùa vụ và phương thức chăn
nuôi đến khả năng sinh trưởng và cho thịt của gà Sasso thương phẩm, từ đó tìm
ra môi trường ngoại cảnh thích hợp, kết hợp với nuôi dưỡng, chăm sóc, chúng ta
sẽ không những duy trì được các đặc tính quý của phẩm giống, mà còn đem lại
lợi ích kinh tế cao hơn cho người chăn nuôi.
Chính vì vậy chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài:
"Nghiên cứu ảnh hưởng của mùa vụ, phương thức chăn nuôi đến khả
năng sinh trưởng và cho thịt của gà Sasso thương phẩm nuôi tại Thái
Nguyên"


10

2. Mục đích của đề tài
- Xác định được ảnh hưởng của mùa vụ đến tỷ lệ nuôi sống, khả năng sinh
trưởng và cho thịt của gà Sasso thương phẩm nuôi tại Thái Nguyên.
- Xác định được ảnh hưởng của phương thức nuôi đến tỷ lệ nuôi sống, khả
năng sinh trưởng và cho thịt của gà Sasso thương phẩm nuôi tại Thái Nguyên.
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Góp phần vào việc hoàn thiện nghiên cứu thích nghi và xây dựng quy
trình kĩ thuật chăn nuôi giống gà Sasso ở Việt Nam.
- Góp phần vào việc triển khai chăn nuôi gà lông màu cho các cơ sở và
nông hộ tại khu vực.
- Kết quả nghiên cứu là tài liệu để người chăn nuôi, cán bộ nghiên cứu,
sinh viên ngành nông nghiệp tham khảo, áp dụng cho công việc chuyên môn và
các nghiên cứu tiếp theo.


11

G: Là giá trị kiểu gen
E: Là sai lệch môi trường


12

Tuy nhiên khác với tính trạng chất lượng, giá trị kiểu gen của tính trạng số
lượng do nhiều gen nhỏ (Minorgene) cấu tạo thành. Đó là hiệu ứng riêng biệt
của từng gen thì rất nhỏ, nhưng tập hợp nhiều gen nhỏ sẽ có ảnh hưởng rõ rệt
đến tính trạng nghiên cứu. Hiện tượng này gọi là hiện tượng đa gen (Polygene)
gồm các thành phần: Cộng gộp, trội và tương tác gen, nên được biểu thị theo
công thức sau:
G=A+D+I
Trong đó:
G: Là giá trị kiểu gen
A: Là giá trị cộng gộp (Additive value)
D: Là giá trị sai lệch trội (Dominance deviation)
I : Là giá trị sai lệch tương tác (Interaction deviation)
Trong đó giá trị cộng gộp (A) là do giá trị giống quy định, là thành phần
quan trọng nhất của kiểu gen vì nó ổn định, có thể xác định được và di truyền lại
cho thế hệ sau, có ý nghĩa trong chọn dòng thuần, là cơ sở cho việc chọn giống.
Hai thành phần sai lệch trội (D) và tương tác gen (I) cùng có vai trò quan
trọng, là giá trị giống đặc biệt chỉ có thể xác định được thông qua con đường
thực nghiệm. D và I không di truyền được và phụ thuộc vào vị trí và sự tương tác
giữa các gen. Chúng là cơ sở của việc lai giống.
Đồng thời tính trạng số lượng cũng chịu ảnh hưởng của môi trường chung
và môi trường riêng:
- Sai lệch môi trường chung (General environmental) (Eg) là sai lệch do
các yếu tố tác động lên toàn bộ các cá thể trong nhóm vật nuôi. Loại này có tính
chất thường xuyên và không cục bộ như: Thức ăn, khí hậu... Do vậy đó là sai

đến giá trị kiểu hình, từ đó tìm ra mức độ ảnh hưởng cũng như tạo ra môi trường
thích hợp để tiềm năng của giống (G) được thể hiện ra giá trị kiểu hình (P) có lợi
cho người chăn nuôi.
1.1.2. Cơ sở khoa học của việc nghiên cứu khả năng sinh trưởng
1.1.2.1. Khái niệm sinh trưởng:
Về mặt sinh học, sự sinh trưởng được xem như quá trình tổng hợp protein,
nên người ta thường lấy việc tăng khối lượng làm chỉ tiêu đánh giá sinh trưởng.
Sinh trưởng là một quá trình sinh lý phức tạp và tuân theo những quy luật nhất
định. Trần Đình Miên, Nguyễn Kim Đường, 1992 [31] cho biết: Midedorpho A.
F (1867) là người đầu tiên phát hiện ra quy luật sinh trưởng theo giai đoạn của
gia súc, cho rằng gia súc non phát triển mạnh nhất sau khi mới sinh, sau đó tăng
khối lượng giảm dần theo từng tháng tuổi.


14

* Khái niệm sinh trưởng
Sinh trưởng là một quá trình sinh lý, sinh hoá phức tạp, duy trì từ khi phôi
được hình thành cho đến khi con vật đã trưởng thành. Để có được số đo chính xác về
sinh trưởng ở từng thời kỳ không phải dễ dàng (Chambers J. R, 1990 [66])
Trần Đình Miên, Nguyễn Kim Đường, 1992 [31] đã khái quát: “Sinh
trưởng là một quá trình tích luỹ các chất hữu cơ thông qua trao đổi chất, là sự
tăng lên về chiều cao, chiều dài, bề ngang, khối lượng của từng cơ quan, bộ phận
cũng như toàn bộ cơ thể trên cơ sở tính di truyền có từ đời trước”.
Ganer (1992) cho rằng sinh trưởng trước hết là kết quả của phân chia tế
bào, tăng thể tích tế bào để tạo nên sự sống (Trần Đình Miên, Nguyễn Kim
Đường 1992, [31])
Sinh trưởng là quá trình tích luỹ các chất hữu cơ do đồng hoá và dị hoá, là
sự tăng lên về chiều cao, chiều dài, bề ngang khối lượng của các bộ phận và toàn
bộ cơ thể con vật trên cơ sở tính di truyền. Sinh trưởng chính là sự tích luỹ dần

70 ngày tuổi khối lượng tất cả các cơ của gà trống đạt 530g, của gà mái đạt 467g
(Ngô Giản Luyện, 1994) [28])
Qua những nghiên cứu cho thấy cơ sở sinh trưởng gồm hai quá trình: Tế
bào sinh sản và tế bào phát triển. Tất cả các đặc tính của gia súc, gia cầm như
ngoại hình, thể chất, sức sản xuất đều được hoàn chỉnh dần trong suốt quá trình
sinh trưởng, các đặc tính này tuy là một sự tiếp tục thừa hưởng các đặc tính di
truyền của bố mẹ, nhưng hoạt động mạnh hay yếu còn do tác động của môi
trường.
Khối lượng cơ thể thường được theo dõi theo từng tuần tuổi và đơn vị tính
là kg/con hoặc g/con. Để xác định khối lượng cơ thể ở các khoảng thời gian khác
nhau người ta còn biểu thị khối lượng thông qua đồ thị sinh trưởng.
Khối lượng cơ thể ở từng thời kỳ là thông số để đánh giá sự sinh trưởng
một cách đúng đắn nhất, song lại không chỉ ra được sự khác nhau về tỷ lệ sinh
trưởng của các thành phần trong khoảng thời gian của các độ tuổi.
Sinh trưởng của vật nuôi nói chung và sinh trưởng của gà nói riêng chịu
ảnh hưởng của nhiều yếu tố, quan trọng nhất là yếu tố giống, thức ăn và các điều
kiện chăm sóc nuôi dưỡng khác.
Khi nghiên cứu về sinh trưởng người ta thường sử dụng một cách đơn
giản và cụ thể một số chỉ tiêu để đánh giá sự sinh trưởng của gia cầm:
1.1.2.2. Phương pháp đánh giá sinh trưởng
Để đánh giá khả năng sinh trưởng các nhà chọn giống vật nuôi đã có
khuynh hướng sử dụng các phương thức đơn giản và thực tế, đó là khả năng sinh
trưởng theo 3 chỉ tiêu là: Chiều cao, thể tích và khối lượng.
Khối lượng cơ thể: Về mặt sinh học, sinh trưởng được xem như là quá
trình tổng hợp, tích lũy dần các chất mà chủ yếu là protein. Do vậy có thể lấy


16

việc tăng khối lượng cơ thể làm chỉ tiêu đánh giá khả năng sinh trưởng của gia

thể trong một khoảng thời gian nhất định.
- Đường cong sinh trưởng: Đường cong sinh trưởng biểu thị sinh trưởng
của gia súc, gia cầm nói chung.


17

Theo Chambers J. R, 1990 [66] đường cong sinh trưởng của gà thịt
gồm 4 pha chính như sau:
+ Pha sinh trưởng tích luỹ tăng tốc nhanh sau khi nở.
+ Điểm uốn của đường cong tại thời điểm có sinh trưởng cao nhất.
+ Pha sinh trưởng có tốc độ giảm dần sau điểm uốn
+ Pha sinh trưởng tiệm cận với giá trị khi gà trưởng thành.
Đồ thị sinh trưởng tích luỹ biểu thị một cách đơn giản nhất về đường
cong sinh trưởng.
Đường cong sinh trưởng không những được sử dụng để chỉ rõ về khối
lượng mà còn làm rõ về mặt chất lượng, sự sai khác giữa các dòng, giống, giới
tính (Knizetova H. J, Hyanck, Knize. B and Roubicek. J, 1991[82])
Ở nước ta, Nguyễn Đăng Vang, 1983 [56] khi nghiên cứu về đường
cong sinh trưởng của ngỗng Rheinland từ sơ sinh đến 77 ngày tuổi thấy hoàn
toàn phù hợp với quy luật sinh trưởng của gia cầm nói chung.
Trần Long và cộng sự, 1994 [23] khi nghiên cứu về đường cong sinh
trưởng của các dòng gà A, V1, V3, trong giống gà Hybro (HV85) cho thấy đường
cong sinh trưởng của cả bốn dòng đều phát triển đúng quy luật. Đường cong sinh
trưởng của 3 dòng có sự khác nhau và trong mỗi dòng giữa gà trống và gà mái
cũng có sự khác nhau: Sinh trưởng cao ở 7 - 8 tuần tuổi đối với gà trống và 6 - 7
tuần tuổi đối với gà mái.
- Tiêu tốn thức ăn: Tiêu tốn thức ăn cho 1 kg tăng khối lượng phản ánh
quá trình chuyển hoá thức ăn để sinh trưởng. Tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối
lượng càng thấp thì hiệu quả kinh tế càng cao và ngược lại.

môi trường khác nhau thì có sinh trưởng khác nhau. Cho nên việc cần thiết là
phải tạo ra môi trường phù hợp với kiểu gen đó để phát huy tối đa tiềm năng di
truyền của giống. Jaap và Moris, 1937 [79] đã phát hiện ra những sai khác trong
cùng một giống về cường độ sinh trưởng.
Theo Nguyễn Duy Hoan, Trần Thanh Vân, 1998 [13] cho biết, gà con ở
40 ngày tuổi khối lượng tăng gấp 10 lần so với lúc 01 ngày tuổi, trong khi đó vịt
con chỉ cần có 20 ngày để tăng gấp 10 lần khối lượng so với lúc 01 ngày tuổi.
Nguyễn Thị Thuý Mỵ, 1997 [33] khi nghiên cứu 3 giống gà AA , Avian
và BE 88 nuôi tại Thái Nguyên cho thấy khối lượng cơ thể của 3 giống khác
nhau ở 49 ngày tuổi là khác nhau, cụ thể lần lượt là: 2501,09g; 2423,28g;
2305,14g.
Khảo sát khả năng sinh trưởng của 3 dòng gà Plymouth Rock thì dòng
TĐ9 có khả năng sinh trưởng tốt nhất. Đến tuần tuổi thứ 8, dòng TĐ9 có khối
lượng sống vượt dòng TĐ8 12,90% và vượt dòng TĐ3 17,40%, (Lê Hồng Mận
và cộng sự, 1996 [30])
Theo Nguyễn Mạnh Hùng và cộng sự, 1994 [16] thì sự sai khác về khối
lượng cơ thể giữa các giống gia cầm rất lớn, giống gà kiêm dụng nặng hơn gà
hướng trứng từ 500 - 700g (13 - 30%).
Như vậy, các nhà nghiên cứu đã chứng minh sự khác biệt về sinh trưởng
là do di truyền, mà cơ sở di truyền là do gen, có ít nhất một gen quy định khả
năng sinh trưởng
liên kết với giới tính, cho nên con trống thường lớn hơn con mái. Điều này
chứng tỏ di truyền có ảnh hưởng rất lớn đến quá trình sinh trưởng của gia cầm.


19

Theo Bùi Quang Tiến, 1993 [42] cho biết hệ số di truyền về tốc độ sinh
trưởng là 0,4 – 0,5.
* Ảnh hưởng của tính biệt, tốc độ mọc lông đến sinh trưởng của gà



20

tác giả cho rằng ảnh hưởng của hoocmon sinh trưởng có tác dụng ngược chiều
với giới tính quy định tốc độ mọc lông.
The Siegel P. B và Dumington E. D, 1978 [94] thì những alen quy định
tốc độ mọc lông nhanh phù hợp với tăng khối lượng cao.
* Ảnh hưởng của độ tuổi và mức độ dinh dưỡng đến sinh trưởng
Khi nghiên cứu đến độ tuổi và mức độ dinh dưỡng ảnh hưởng đến sinh
trưởng của gà thì Chambers J. R, 1990 [66] cho biết: Sinh trưởng là tổng số của
sự phát triển các phần cơ thể như thịt, xương, da. Tỷ lệ sinh trưởng các phần này
phụ thuộc vào độ tuổi, tốc độ sinh trưởng và phụ thuộc vào mức độ dinh dưỡng.
Mức độ dinh dưỡng không chỉ ảnh hưởng tới sự phát triển các bộ phận khác
nhau của cơ thể mà còn ảnh hưởng tới sự phát triển của từng mô này đối với mô
khác.
Theo Bùi Đức Lũng, Lê Hồng Mận, 2003 [27] để phát huy được sinh
trưởng cần cung cấp thức ăn tối ưu với đầy đủ chất dinh dưỡng được cân bằng
hợp lý giữa protein với năng lượng. Ngoài ra trong thức ăn hỗn hợp cho chúng
còn được bổ sung hàng loạt các chế phẩm hóa sinh không mang theo nghĩa dinh
dưỡng nhưng có kích thích sinh trưởng làm tăng chất lượng thịt.
Nguyễn Thị Thúy Mỵ, 2006 [34] đã nghiên cứu ảnh hưởng của các mức
năng lượng và protein khác nhau cùng với tỷ lệ ME/CP khác nhau nhằm phát
huy tốt đến khả năng sinh trưởng của ngan Pháp nuôi tại Thái Nguyên.
Trần Tố, 2007 [53] nghiên cứu ảnh hưởng của tỷ lệ khác nhau giữa
methionine và lysine trong khẩu phần đến sinh trưởng của gà broiler Kabir cho
biết đến 10 tuần tuổi lô có tỷ lệ methionine/lysine 40,5% cho sinh trưởng tốt hơn
các lô có tỷ lệ này bằng 45,5% và 35,5%.
Theo Trần Công Xuân, 1995 [60] cho biết cùng tổ hợp lai broiler: Ross
208, Ross 208 - V35 nuôi ở 9 lô với 3 mức năng lượng và 3 mức protein, cho

220C; tuần thứ tư là 200C. Theo Lê Hồng Mận và cộng sự, 1993 [29] thì nhiệt độ
tối ưu chuồng nuôi với gà con sau 3 tuần tuổi là 18 – 200C. Nhiệt độ ảnh hưởng
rất lớn tới nhu cầu năng lượng trao đổi (ME) và protein thô (CP) của gà Broiler,
do vậy tiêu thụ thức ăn của gà chịu sự chi phối của nhiệt độ môi trường. Trong
điều kiện nhiệt độ khác nhau thì mức tiêu thụ thức ăn của gà cũng khác nhau.
Theo Herbert G. J và cộng sự, (1983) [74] thì nhiệt độ chuồng nuôi có ảnh
hưởng tới gà sau 3 tuần tuổi như sau: Thay đổi 10C tiêu thụ năng lượng của gà
mái biến đổi tương đương 2 Kcal ME, mà nhu cầu về năng lượng và các vật chất
dinh dưỡng khác nhau cũng bị thay đổi theo nhiệt độ môi trường. Trong điều
kiện khí hậu nước ta, theo Bùi Đức Lũng, Lê Hồng Mận, 1993 [26] thì gà Broiler
nuôi vụ hè cần phải tăng mức ME và CP cao hơn vụ xuân 10 - 15%.
Wash Burn, Wetal K, (1992) [98] cho biết nhiệt độ cao làm gà sinh trưởng
chậm, tăng tỷ lệ chết, gây thiệt hại kinh tế lớn ở các khu vực chăn nuôi gà
Broiler công nghiệp vùng khí hậu nhiệt đới. Nir I, 1992 [85] qua nghiên cứu đã
chỉ ra rằng với nhiệt độ môi trường 350C, ẩm độ tương đối 66% đã làm giảm quá


22

trình tăng khối lượng cơ thể 30 - 35% ở gà trống, 20 - 30% ở gà mái so với điều
kiện khí hậu thích hợp.
Thông thường khi nhiệt độ cao khả năng ăn của gia cầm giảm. Để khắc
phục điều này đảm bảo khả năng sinh trưởng của gà người ta đã sử dụng thức ăn
cao năng lượng, tất nhiên, trên cơ sở cân bằng tỷ lệ ME/CP cũng như axit
amin/ME và tỷ lệ khoáng, vitamin trong thức ăn cũng cần phải cao hơn để đảm
bảo dinh dưỡng mà gà tiếp nhận được không thấp hơn nhu cầu của chúng.
Do đó, trong điều kiện khí hậu ở nước ta, tuỳ theo mùa vụ, căn cứ vào
nhiệt độ của từng giai đoạn, mà điều chỉnh mức ME và tỷ lệ ME/CP trong thức
ăn và kỹ thuật chăm sóc nuôi dưỡng cho phù hợp để đạt hiệu quả kinh tế cao
nhất trong chăn nuôi gia cầm nói chung và chăn nuôi gà thịt nói riêng.

sau: 3 ngày đầu chiếu sáng 24/24 giờ, cường độ chiếu sáng 20 lux/m2, ngày thứ
tư đến khi kết thúc thời gian chiếu sáng giảm xuống còn 23/24 giờ, cường độ
chiếu sáng còn 5 lux/m2.
- Với gà Broiler nuôi dài ngày (giết thịt ở 42, 49, 56 ngày tuổi) thì chế độ
chiếu sáng như sau:
Ngày thứ 1: 24/24h;
Ngày thứ 2: 20/24h;
Ngày thứ 3 đến ngày thứ15: 12/24h;
Ngày thứ 19 đến ngày thứ 22: 14/24h;
Ngày thứ 23 đến ngày thứ 24: 18/24h ;
Ngày thứ 25 đến kết thúc thì thời gian chiếu sáng: 24/24h.
Cường độ chiếu sáng 3 ngày đầu là 20 lux, từ ngày thứ tư đến kết thúc
giảm dần còn 5 lux.
Khi cường độ chiếu sáng cao, gà hoạt động nhiều do đó làm giảm khả
năng tăng khối lượng. Với chuồng nuôi thông thoáng tự nhiên, mùa hè cần phải
che ánh nắng mặt trời chiếu thẳng vào chuồng, nhưng vẫn đảm bảo thông
thoáng, ánh sáng được phân bố đều trong chuồng và sử dụng bóng đèn có cùng
công suất để tránh gà tụ tập vào nơi có ánh sáng mạnh hơn.
+ Ảnh hưởng của mật độ nuôi nhốt:
Mật độ nuôi nhốt cũng là một yếu tố quan trọng để chăn nuôi gà đạt
hiệu quả cao. Mỗi giai đoạn sinh trưởng, mỗi phương thức nuôi đều có quy định
mật độ nuôi nhất định (phương thức chăn thả tự do, bán nuôi nhốt, nuôi nhốt trên
đệm lót dày, nuôi nhốt có sân chơi yêu cầu mật độ lần lượt: 0,1; 0,3; 0,35; 0,2
m2/con…). Nếu nuôi quá thưa thì lãng phí diện tích, nhưng nếu nuôi quá dày thì
ảnh hưởng lớn đến khả năng sinh trưởng của gà. Bởi lẽ, khi mật độ nuôi nhốt cao
thì chuồng nhanh bẩn, lượng khí thải NH3, CO2, H2S cao và quần thể vi sinh vật
phát triển ảnh hưởng tới khả năng tăng khối lượng và sức khoẻ của đàn gà, gà dễ
bị cảm nhiễm bệnh tật, tỷ lệ đồng đều thấp, tỷ lệ chết cao, cuối cùng làm giảm
hiệu quả trong chăn nuôi. Ngược lại, mật độ nuôi nhốt thấp thì chi phí chuồng


xuất mỗi m2 tăng lên hầu hết ở thí nghiệm thứ nhất bằng khoảng 65 xu (tiền A
Rập) cho mỗi gà/ m2, khi tăng ở mật độ chuồng nuôi.
Theo Beremski Ch, 1978 [63] thí nghiệm nuôi 4 nhóm gà Broiler trên nền
chuồng có đệm lót, ở mật độ là 20, 22, 18 và 16 con/m2; ở giai đoạn 6, 7, 8 tuần
tuổi, với cùng thức ăn hỗn hợp. Mật độ chuồng nuôi đã không ảnh hưởng đến chỉ


25

số so sánh các sản phẩm lúc 7 tuần tuổi. Tỷ lệ tăng trưởng giảm theo sự tăng mật
độ đàn ở giai đoạn vỗ béo lúc 8 tuần tuổi, tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng và
chỉ số thịt xẻ không bị ảnh hưởng lúc 6, 7, 8 tuần tuổi bởi mật độ đàn. Tăng mật
độ nuôi lúc 6 đến 8 tuần tuổi đã làm giảm sự tăng trưởng nhưng tăng sản phẩm
thịt trên đơn vị diện tích nền chuồng bằng 7,0 tới 9,3% ở tuần tuổi 6, 7 và đến
20,7% ở tuần tuổi 8.
Nhiều tác giả cũng đưa ra khuyến cáo: Nuôi gà Broiler ở mật độ nuôi từ
11 con/m2 - 12 con/m2 là thích hợp, nếu nuôi ở mật độ cao thì tỷ lệ chết cũng cao
và khối lượng cơ thể giảm, đặc biệt nuôi trên 14 con/m2 - 15 con/m2.
Khi làm thí nghiệm trên gà Broiler BE11, V35, AV35 từ 1 - 49 ngày tuổi
nuôi nhốt với mật độ khác nhau, các tác giả Nguyễn Hữu Cường và Bùi Đức
Lũng, 1996 [3] có kết quả như sau:
- Với gà BE11, V35 nuôi vụ Hè và vụ Đông.
+ Tỷ lệ nuôi sống lô I mật độ 8 con/m2 cho kết quả cao nhất đạt 97,5%,
thấp nhất ở lô II có mật độ 14 con/m2 là 92,86%.
+ Tiêu tốn thức ăn/ kg tăng khối lượng ở lô I cho kết quả tốt hơn (2,05 kg)
so với lô II (2,11 kg).
+ Hiệu quả kinh tế/1m2 chuồng:
Lô I: Mùa hè = + 38.130đ

Mùa đông = + 32.500đ

3,0
11
7



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status