i
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
oOo
NGUYỄN TUẤN HIỆP NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA LOẠI, HÀM
LƯỢNG KÍCH DỤC TỐ LÊN KHẢ NĂNG SINH SẢN
CỦA CÁ RÔ ĐỒNG Anabas testudineus (Bloch, 1792)
LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành : NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
Mã số : 60.62.70 LUẬN VĂN THẠC SĨ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. PHẠM ANH TUẤN Khánh Hòa – 2014 i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi, do tôi
trực tiếp thực hiện với sự giúp đỡ của các đồng nghiệp làm việc tại
Trung tâm Giống Thủy đặc sản Nam Định - xã Mỹ Tân – huyện Mỹ
Lộc – tỉnh Nam Định. Các số liệu và kết quả nghiên cứu được trình
bày trong luận văn là trung thực và chưa được công bố trong một
công trình nào khác.
để có được ngày hôm nay. Con vô cùng biết ơn.
Xin được bầy tỏ những lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất.
Tác giả
Nguyễn Tuấn Hiệp iiiMỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
DANH MỤC CÁC HÌNH viii
Phần I: ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1.1. Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2. Ý nghĩa Thực tiễn: 2
1.3. Mục tiêu của đề tài: 2
1.4. Nội dung nghiên cứu: 2
Phần II: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 Vài nét về đối tượng nghiên cứu: 3
2.1.1. Vị trí phân loại 3
2.1.2. Đặc điểm hình thái ngoài: 3
2.1.3. Một số đặc điểm khác: 4
2.2. Các nghiên cứu về cá rô đồng: 6
2.2.1. Những nghiên cứu về sản xuất giống và nuôi thương phẩm cá rô
rô đồng. 40
4.4.6. Đánh giá ảnh hưởng của hàm lượng kích dục tố LHRHa lên khả
năng sinh sản của cá rô đồng 411
4.5. Kết quả thí nghiệm sử dụng kích dục tố HCG 433
4.5.1. Ảnh hưởng liều lượng kích dục tố HCG lên tỷ lệ cá rô đồng tham
gia sinh sản 433
4.5.2. Ảnh hưởng của liều lượng kích dục tố HCG lên thời gian hiệu ứng.
455
4.5.3: Ảnh hưởng của liều lượng kích dục tố HCG lên sức sinh sản hữu
dụng 466
4.5.4: Ảnh hưởng của liều lượng kích dục tố HCG lên tỷ lệ thụ tinh. 477
4.5.5. Ảnh hưởng của liều lượng kích dục tố HCG lên tỷ lệ nở 488
v
4.5.6. Đánh giá ảnh hưởng của liều lượng kích dục tố HCG lên khả năng
sinh sản của cá rô đồng. 499
PHẦN V: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 51
5.1. Kết luận 51
5.1.1. Các yếu tố môi trường trong quá trình thí nghiệm. 51
5.1.2. Kết quả kiểm tra kích thước và khối lượng của cá trước khi tham
gia sinh sản 51
5.1.3. Kết quả thí nghiệm sử dụng kích dục tố LHRHa 52
5.1.4. Kết quả thí nghiệm sử dụng kích dục tố HCG 52
5.2. Đề xuất. 52
TÀI LIỆU THAM KHẢO 53 vii
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1: Các yếu tố môi trường trong quá trình thí nghiệm 311
Bảng 2: Kết quả kiểm tra kích thước cá bố mẹ trước khi đưa vào thí nghiệm.322
Bảng 3: Kết quả kiểm tra khối lượng cá tham gia sinh sản 333
Bảng 4: Tỷ lệ cá rô đồng tham gia sinh sản ở liều lượng LHRHa khác nhau 344
Bảng 5: Ảnh hưởng của liều lượng kích dục tố LHRHa lên thời gian hiệu ứng
kích dục tố 366
Bảng 6: Ảnh hưởng của liều lượng kích dục tố LHRHa lên sức sinh sản hữu
dụng 388
Bảng 7: Ảnh hưởng của liều lượng kích dục tố LHRHa lên tỷ lệ thụ tinh 399
Bảng 8: Ảnh hưởng của liều lượng kích dục tố LHRHa lên tỷ lệ nở 411
Bảng 9: Bảng tổng hợp ảnh hưởng của liều lượng kích dục tố LHRHa lên khả
năng sinh sản của cá rô đồng………………………………………………… 42
Bảng 10: Ảnh hưởng của liều lượng HCG lên khả năng sinh sản. 433
Bảng 11: Ảnh hưởng của liều lượng HCG lên thời gian hiệu ứng. 455
Hình 8: Đồ thị ảnh hưởng của liều lượng kích dục tố LHRHa lên thời gian hiệu
ứng kích dục tố 366
Hình 9: Đồ thị ảnh hưởng của kích dục tố LHRHa lên sức sinh sản hữu dụng
của cá rô đồng 388
Hình 10: Đồ thị ảnh hưởng của liều lượng kích dục tố LHRHa lên tỷ lệ thụ tinh
cá rô đồng 40
Hình 11: Đồ thị ảnh hưởng của liều lượng kích dục tố LHRHa lên tỷ lệ nở. 411
Hình 12: Đồ thị ảnh hưởng của liều lượng kích dục tố HCG lên tỷ lệ cá rô đồng
tham gia sinh sản 444
Hình 13: Đồ thị ảnh hưởng của liều lượng kích dục tố HCG lên thời gian hiệu
ứng 455
Hình 14:Đồ thị biểu diễn ảnh hưởng liều lượng HCG lên sức sinh sản hữu dụng
466
Hình 15: Đồ thị biểu diễn Ảnh hưởng của liều lượng HCG lên tỷ lệ thụ tinh .477
Hình 16: Đồ thị biểu diễn Ảnh hưởng của liều lượng HCG lên tỷ lệ nở 481
Phần I: ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Cá rô đồng là loài cá tuy có kích thước bé nhưng thịt béo, thơm, dai,
hoàn thiện quy trình sinh sản nhân tạo cá rô đồng.
1.2. Ý nghĩa Thực tiễn:
Góp phần vào việc hoàn thiện quy trình sinh sản nhân tạo cá Rô đồng
Là cơ sở cho những nghiên cứu tiếp theo về đặc điểm sinh học và sinh
thái sinh sản cá rô đồng.
1.3. Mục tiêu của đề tài:
Đánh giá được vai trò của kích dục tố đến sinh sản nhân tạo cá rô đồng
Tìm ra được loại, liều lượng kích dục tố tối ưu cho sinh sản nhân tạo cá
rô đồng tại địa phương.
1.4. Nội dung nghiên cứu:
Tìm hiểu đặc điểm sinh học và sinh thái sinh sản cá rô đồng
Tìm hiểu về cơ chế tác động của 2 loại kích dục tố LHRH
a
và HCG lên
sinh sản nhân tạo cá rô đồng
Nghiên cứu ảnh hưởng của các loại kích dục tố lên các chỉ tiêu sinh sản
của cá.
3
Phần II: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Vài nét về đối tượng nghiên cứu:
2.1.1. Vị trí phân loại
Hình1: Hình dạng bên ngoài cá rô đồng [38]
Theo
Mai Đình Yên, Vũ Trung Tạng, Bùi Lai, Trần Mai Thiên (1979)
[15]
.
(1998) [9]; Phạm Văn Khánh (1999) [7]. Chúng được biết đến với khả năng di
cư từ ao hồ này sang ao hồ khác bằng cách vượt cạn, nhất là trong mùa mưa và
thông thường diễn ra trong đêm Vương Dĩ Khang, (1962) [6].
b. Sinh sản:
Cá rô đồng từ lúc nở đến lúc phát dục khoảng 7,5 - 8 tháng tuổi. Khối
lượng cá bình quân khoảng 50 - 70gam/con. Cá sẽ mang trứng vào khoảng
tháng 11 Âm Lịch (với cá nuôi trong ao, khi trời trở lạnh) và tháng 4 - tháng 5
Âm lịch (với cá tự nhiên). Hình 2: Cá rô đồng đực (ở trên), Cá rô đồng cái (ở dưới) [41]
Phân biệt đực - cái:
+ Cá đực có thân hình thon dài hơn so với cá cái. Cá đực phát dục có tinh
dịch màu trắng, dùng tay vuốt nhẹ dưới ổ bụng từ vây ngực đến vây hậu môn, ta
5
sẽ thấy tinh dịch chảy ra. Đây là lúc chín muồi của sự thành thục, cá đã sẵn sàng
cho việc sinh sản.
+ Cá cái, khi mang trứng, bụng sẽ phình to. Nếu dùng tay vuốt nhẹ, trứng
sẽ vọt ra ngoài báo hiệu cá đang sẵn sàng cho việc sinh sản.
- Cá đẻ trong tự nhiên: tự bắt cặp sinh sản. Sau những cơn mưa, hoặc
mực nước thủy vực thay đổi (do thủy triều) là điều kiện ngoại cảnh thích hợp -
kích thích cá sinh sản. Hình thức sinh sản: do hưng phấn nên trong quá trình bắt
cặp sinh sản, cả cá cái lẫn cá đực sẽ phóng lên khỏi mặt nước liên tục.
- Bãi đẻ của cá là ven những bờ ao, bờ ruộng - kênh - mương, nơi có
nhiều cỏ và cây thủy sinh. Cá cái sẽ đẻ trứng vào trong nước, đồng thời với lúc
trứng được đẻ ra cũng là lúc tinh trùng từ cá đực được phóng ra. Trứng ngay lập
tức được thụ tinh và nổi lên trên mặt nước nhờ vào những lớp váng dầu màu
vàng được phóng ra cùng lúc với trứng.
cá này rất cao bởi vị thơm ngon của nó, có giá trị lưu giữ, độ tươi được kéo dài
khi không có nước và là một món ăn có giá trị cho người bệnh và đang dưỡng
bệnh. Giá thị trường hiện tại dao động từ 2 - 3 đôla Mỹ/kg Uttam & Ctv, (2005)
[39]. Mặc dù công nghệ nuôi, sinh sản và ương nuôi ấu trùng của một số loài cá
chủ yếu thuộc họ cá Chép đã được phát triển trong những thập kỷ qua, nhưng
một số loài khác có giá trị thương mại lại không được quan tâm. Gần đây, cá A.
testudineus được xem là một trong những đối tượng mới có tiềm năng đối với
nghề nuôi trồng thủy sản và sinh sản nhân tạo Ponniah & Sarkar, (2000) [30];
Ayyappan, Raizada & Reddy, (2001) [17].
Hình 3: Vùng phân bố của cá rô đồng trên thế giới [41]
7
a. Các nghiên cứu về đặc điểm sinh học
Cá Rô đồng (Anabas testudineus Bloch, 1792) có tên tiếng Anh thông
thường là Climbing perch, thuộc họ Anabantidae. Kích cỡ của cá hiếm khi đạt
đến 23 cm, thông thường từ 10 đến 15 cm. Vây đuôi có dạng hình tròn, đường
bên bị ngắt quãng bên dưới vây lưng, gốc vây lưng dài hơn gốc vây hậu môn,
nắp mang chính, nắp mang phụ và xương nắp mang màng được tiếp giáp với
nhau bởi các gai dài xòe ra Rainboth, (1996) [33].
Cá Rô đồng được tìm thấy ở những vùng nước chảy chậm, nước đứng,
hoặc thậm chí cả ở vùng nước tù thường với thảm thực vật rậm rạp. Xuất hiện
từ Sri Lanka đến Trung Quốc, Indonesia, và quần đảo Philippin. Là một loài ăn
thịt với thức ăn chủ yếu là các loại cá. Cá ra khỏi nước vào ban đêm khi nó tìm
kiếm một nơi sống mới bằng cách leo trèo qua các bãi đất khô bằng cách sử
dụng các nắp mang đã xòe ra và uốn cong cuốn đuôi Rainboth, (1996) [33].
Theo Uttam và Ctv (2005) [39] thì cá Rô đồng là loài cá có kích cỡ nhỏ, nơi
sống của nó cả trong môi trường nước ngọt và nước lợ thuộc vùng tiểu lục địa
của Ấn Độ và Đông Nam Á. Cá có biểu hiện hoạt động nuốt không khí bắt
buộc, là loài có tập tính ăn tạp và di chuyển thông qua các dòng nước chảy vào
trong cùng một nhánh với những sự phân chia theo khu vực. Những sự tập hợp
thành cụm này cho thấy rằng mối quan hệ về di truyền giữa các quần thể cá Rô
đồng là tương tự như đối với các loài cá nước ngọt khác và phụ thuộc vào
những đặc trưng riêng về địa lý chẳng hạn như các hệ thống sông ở Thái Lan.
c. Nghiên cứu về sinh sản.
Những báo cáo đầu tiên liên quan đến những thử nghiệm về não thùy thể
nhân tạo ở cá Rô đồng A. testudineus và những kết quả về cho sinh sản được
điều khiển của loài cá này được xuất bản vào những năm 1970 Khan, (1972)
[21]; Banerjee & Prasad, (1974) [22]; Khan & Mukhopadhyay, (1975) [22],
tuyến não thùy của cá chép đang được sử dụng trong kích thích cho cá đẻ. Rà
soát lại các tài liệu gần đây cho thấy rằng không có thử nghiệm nào được thực
9
hiện sau những năm 1970 để cho cá A. testudineus đẻ ngoại trừ nghiên cứu của
Uttam & Ctv, (2005) [39].
Uttam & Ctv (2005) [39] đã nghiên cứu về sinh sản nhân tạo cá Rô đồng
bằng hormone tổng hợp Wova-FH. Trong nghiên cứu này đã sử dụng hormone
tổng hợp Wova-FH với các liều lượng lần lượt là 0.1, 0.2 và 0.3 ml/kg cá bố mẹ
để kích thích cá đẻ. Cá bố mẹ được tiêm một lần và chuyển đến các bể đẻ với tỉ
lệ giới tính giữa con đực và con cái là 2:1. Số lần đẻ, sức sinh sản, tỉ lệ thụ tinh,
tỉ lệ nở và tỉ lệ sống được xác định trong mỗi lô thí nghiệm. Lượng trứng đẻ
ra/cá cái ở liều lượng hormone 0.3 ml/kg cá bố mẹ là cao hơn đáng kể so với ở
liều lượng hormone 0.1 và 0.2 ml/kg cá bố mẹ. Phân tích thống kê cho thấy ảnh
hưởng có ý nghĩa (P≤0.05) giữa liều lượng hormone lên tỉ lệ thụ tinh, đẻ trứng
và tỉ lệ nở. Nghiên cứu này cũng khuyên rằng hormonse Wova-FH ở liều lượng
0.3 ml/kg cá bố mẹ có hiệu quả hơn và nó được cân nhắc cho nghề nuôi cá Rô
đồng. Trong một nghiên cứu về khả năng làm suy yếu chức năng buồng trứng ở
cá Rô đồng bởi hàm lượng thuốc trừ sâu không gây chết đối với cá của
Chirashree & Ctv (1993) [18], đã thử nghiệm các mức không gây chết của
metacid-50 (0.106 ppb) và carbaryl (1.66 ppm) trong 90 ngày cả giai đoạn tiền
d. Nghiên cứu nuôi thương phẩm
Cá Rô đồng là một loài cá nuôi có tiềm năng ở vùng châu thổ sông
Mêkông với giá trị kinh tế cao và nhu cầu tiêu thụ lớn. Ở Bangladesh, công
nghệ sản xuất giống cá Rô đồng với năng suất cao đã được phát triển. Hiện nay,
sản lượng cá trung bình trên một đơn vị diện tích mặt nước nuôi trong nuôi đơn
cá Rô đồng ở Bangladesh đạt 8.000 - 10.000 kg/ha The Bangladesh Observer,
(2006). Tuy nhiên, có rất ít các công trình nghiên cứu về nuôi thương phẩm loài
cá này được phổ biến trên thế giới. Trong những năm gần đây, công nghệ nhân
giống cá Rô đồng đã được tiến hành thành công Yakupitiyage & Ctv, (1998)
[40]; Doolgindachabaporn, (1994) [22]. Đối với nuôi loài cá này thì
Doolgindachabaporn (1994) [22] đã tiến hành bằng cách sử dụng phụ phẩm
trong nông nghiệp để nuôi cá.
11
e. Những nghiên cứu khác
Nghiên cứu về sự hấp thụ oxy trong môi trường nước ở giai đoạn đầu
trong vòng đời của cá Rô đồng A. testudineus đã được thực hiện bởi Mishra &
Singh (1979) [25]. Sự tiêu thụ oxy (mg/giờ) trong nước của cá Rô đồng trong
suốt quá trình sinh trưởng và phát triển đã được đo và mối liên quan của sự tiêu
thụ oxy này với chiều dài và khối lượng cơ thể cá cũng được nghiên cứu. Đồ thị
đường logarit của 2 sự hấp thụ oxy trong nước nghịch nhau hoặc là theo khối
lượng cơ thể hoặc là theo chiều dài cơ thể đã đưa ra một đường cong tập hợp có
ý nghĩa về thống kê (P>0,05), điểm cắt nhau của 2 đường này tại thời điểm khối
lượng cá 11 mg và chiều dài thân 1.78 cm. Đây là giá trị lý thuyết về chiều dài
hay khối lượng ở mức mà khả năng cung cấp gần 40% trong tổng nhu cầu oxy
trong giai đoạn mới phát triển cơ quan thở trong không khí ở cá mới nở. Nghiên
cứu về sự di chuyển của cá Rô đồng trên mặt đất cũng đã được tiến hành bởi
Davenport & Martin (1990) [19]. Nghiên cứu này cho thấy cá Rô đồng có thể di
chuyển trên mặt đất, chúng sử dụng các nắp mang có gai để bám vào mặt nền
và dùng đuôi để đẩy cơ thể tiến về phía trước. Độ dốc mà cá có khả năng leo
phối cá cái XX bình thường với cá đực XX (từ thế hệ F1 được đực hóa bằng
androgen) cho thế hệ con F2 mang toàn nhiễm sắc thể XX. Việc xử lý bằng 17α
- Methyltestosteron với liều lượng 40 mg/kg thức ăn, trong 2 tuần kể từ ngày
thứ 2 sau khi nở đã tạo được tỉ lệ là 97,5 ± 1,43 % cá đực, tỉ lệ sống của cá 1
tháng tuổi là 5,24 ± 0,11 %. Qua kiểm tra 68 con ở đàn F2 đã phát hiện 16 cá
đực F1 cho tỉ lệ cá cái bằng 78,95 – 95,12 % là tỉ lệ không có sự khác biệt với tỉ
lệ lý thuyết 100 % cá cái từ cá đực XX. Theo phương pháp này sẽ tránh được
việc mẫu sinh khi lọc những con XX (thông thường thì cá mẫu sinh yếu và có tỉ
lệ sống thấp) nhưng phải thêm công đoạn chọn những con cá đực XX
Pongthana et al.,(1999) [31]. Trong điều kiện không thể phân biệt được con đực
bình thường là con đực XY với con đực XX theo ngoại hình trực tiếp, người ta
phải phát hiện cá đực XX thông qua giới tính của thế hệ con (về lý thuyết sẽ là
toàn cái vì mang các nhiễm sắc thể giới tính XX).
Doolgindachabaporn (1994) [22] đã thử nghiệm nuôi cá rô đồng trong ao,
sử dụng phụ phẩm nông nghiệp và đạt năng suất khoảng 10 kg/100m
2
sau 3
tháng nuôi. Kết quả ương cá rô đồng của Doolgindachabaporn (1994) [22] cho
13
thấy; sau 1,5 tháng đạt kết quả với tỉ lệ sống dao động từ 3,7 – 15,6 %, năng
suất cá ương bình quân đạt 1653 kg cá giống/ha mặt nước ao nuôi. Theo nhận
định của Ray (1989) thì hệ số tiêu tốn thức ăn ở cá rô đồng có lẽ là cao so với
các loài cá nhiệt đới khác. Theo Mangklamanee (1986) [23] thì cá rô đồng có
tốc độ tăng trưởng chậm khoảng 0,5 gr/ngày khi nuôi trong ao với mật độ 10 –
15 con/m
2
và có bổ sung thêm thức ăn. Thức ăn cung cấp cho cá nuôi trong 3
tháng đầu là thức ăn viên công nghiệp có 28 % đạm, khẩu phần ăn dao động từ
10 – 12 % khối lượng thân của đàn cá nuôi/ngày Sangrattanakhul, (1989) [34].
treo trong 12 ao có diện tích 100 m
2
/ao, và 3 ao có kích cỡ như nhau được dùng
làm đối chứng không treo lồng. Cá Rô đồng giống cỡ 9 g/con được thả với mật
độ 50, 100, 150 và 200 con/m
3
trong các lồng, trong khi đó cá Rô phi giống cỡ
10 g/con được thả với mật độ 2 con/m
2
trong toàn bộ 15 ao, đưa ra các tỉ lệ về
số lượng cá Rô đồng trong lồng - cá Rô phi trong ao lần lượt là 1:1, 2:1, 3:1,
4:1. Cá Rô đồng nuôi lồng được cho ăn thức ăn viên công nghiệp (độ đạm 26-
28%) với tỉ lệ 5%, 3% và 2% khối lượng cá/ngày lần lượt trong suốt tháng đầu
tiên, tháng thứ hai và các tháng còn lại. Các ao được bón phân hàng tuần với urê
và TSP với liều lượng 28 kg N và 7 kg P/ha/tuần, trong khi các ao đối chứng
không được bón phân. Kết quả thí nghiệm cho thấy, tỉ lệ sống của cá Rô đồng ở
lô thí nghiệm mật độ cao nhất (97.1%), thấp hơn ở các lô thí nghiệm khác
(99.3-99.3%, P>0.05), trong khi đó không có sự khác nhau đáng kể về tỉ lệ sống
của cá Rô phi, dao động từ 72.5% đến 87.2% (P>0.05). Khối lượng trung bình
cuối cùng của cả cá Rô đồng và cá Rô phi không khác nhau đáng kể giữa tất cả
cá lô thí nghiệm, dao động từ 19.5 đến 20.5 g/con và từ 111.5 đến 133.9 g/con
(P>0.05). Tổng lượng cá Rô đồng thu hoạch được dao động từ 4.00 - 15.2
kg/lồng, tăng theo sự tăng mật độ thả (P<0.05), trong khi tổng lượng cá Rô phi
thu hoạch cao nhất ở lô thí nghiệm thả cá Rô đồng trong lồng với mật độ 150
con/m
3
(22.7 kg/ao), trung bình ở các lô thí nghiệm khác (19.0-20.7 kg/ao), và
thấp nhất ở lô đối chứng (15.8 kg/ao; P<0.05). Hệ số thức ăn (FCR) của cá Rô
đồng trong tất cả các lô thí nghiệm là rất cao, dao động từ 5.05 đến 6.60. FCR
20
; và nghiệm thức 4 cá được cho
ăn thức ăn tự chế biến dạng ẩm. Kết quả thí nghiệm cho thấy mô hình nuôi cá
Rô đồng trong mươn vườn là mô hình có tiềm năng lớn trong việc cải thiện thu
nhập cho các nông hộ sản xuất với qui mô nhỏ ở Đồng bằng sông Cửu Long.
Thức ăn viên có hàm lượng đạm 30% cho kết quả cao về tăng trưởng, tỉ lệ sống
và năng suất với hệ số thức ăn thấp, loại thức ăn này có thể ứng dụng trong nuôi
thâm canh cá Rô đồng.
Trong nghiên cứu về mô hình lúa-cá của Cao Quốc Nam và Ctv (2003)
[1] để đánh giá sự thay đổi năng suất cá và lúa, và môi trường nước trong ruộng
lúa cao sản khi nuôi cá thâm canh. Cá Rô đồng, cá Mè vinh và cá Trê vàng lai
được đưa vào thí nghiệm nuôi trong ruộng lúa với hai mật độ thả khác nhau.
Một nhân tố được thí nghiệm nữa là cá mức đầu tư dinh dưỡng cho ruộng nuôi.
Kết quả cho thấy tổng năng suất của cá loài cá giữa hai mật độ thả không khác
biệt (P>0.05). Ngoài ra năng suất của cá Mè vinh và cá Rô đồng tăng lên ở
trường hợp mật độ cá thả và mức dinh dưỡng cao nhất (P<0.05). Tuy nhiên,
mức đầu tư dinh dưỡng trung bình và mật độ cá thả thưa cho hiệu quả cao nhất.