XÁC ĐỊNH TỶ LỆ TIÊU HÓA CÁC CHẤT DINH DƯỠNG CỦA MỘT SỐ LOẠI THỨC
ĂN GIÀU PROTEIN TRONG KHẨU PHẦN NUÔI CÁ RÔ ĐỒNG Anabas testudineus
Bloch 1792
Ngô Hữu Toàn, Trần Thị Thu Sương
Khoa Thủy sản, Trường Đại học Nông Lâm Huế
TÓM TẮT
Nghiên cứu này được tiến hành trên cá rô đồng để xác định tỷ lệ tiêu hóa (TLTH) vật chất khô (VCK),
protein, lipid, xơ và khoáng của 5 khẩu phần (KP) (CT1: KPCS; CT2: 70% KPCS+30% bột cá; CT3: 70% KPCS +
30% bột đậu nành; CT4: 70% KPCS + 30% bột đầu tôm; CT5: 70% KPCS + 30% khô dầu lạc) và 4 loại nguyên
liệu thí nghiệm (bột cá, bột đậu nành, bột đầu tôm, khô dầu lạc). Kết quả cho thấy TLTH VCK, protein, lipid, xơ ở KP
bột cá cao hơn (P<0,05) khẩu phần cơ sở, KP bột đậu nành, KP khô dầu lạc và KP bột đầu tôm. TLTH VCK, protein,
lipid, xơ ở nguyên liệu bột đầu tôm thấp nhất và có sự sai khác thống kê (P<0,05) với nguyên liệu bột cá. TLTH
khoáng của KP bột đầu tôm và nguyên liệu bột đầu tôm cao nhất trong các khẩu phần và các nguyên liệu. Các yếu tố
môi trường nằm trong khoảng giới hạn, thích hợp cho sự sinh trưởng và phát triển của cá rô đồng.
Từ khóa: Cá rô đồng, tỷ lệ tiêu hóa, thức ăn giàu protein.
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong NTTS, thức ăn đóng vai trò quan trọng vì chiếm tỷ lệ cao trong chi phí (60-80%
tổng chi phí). Để tiết kiệm chi phí thức ăn, tăng lợi nhuận trong nuôi trồng thuỷ sản và giảm
thiểu chất thải gây ô nhiễm môi trường cần phải nghiên cứu nhu cầu dinh dưỡng của các đối
tượng thuỷ sản cũng như xây dựng và sản xuất các công thức ăn phù hợp. Trong nghiên cứu nhu
cầu dinh dưỡng và sản xuất thức ăn việc nghiên cứu xác định tỷ lệ tiêu hoá thức ăn cho các đối
tượng nuôi giữ vai trò quan trọng.
Cá rô đồng (Anabas testudineus) là loài cá nước ngọt có khả năng thích ứng cao với các
điều kiện khắc nghiệt của môi trường (Đoàn Khắc Độ, 2008) [1], cá có giá trị dinh dưỡng và giá
trị kinh tế cao. Tuy nhiên hạn chế ảnh hưởng lớn nhất đến sự phát triển cá rô đồng ở nước ta nói
chung và Thừa Thiên Huế nói riêng là kích thước cá thương phẩm nhỏ, chậm lớn (Ngô Hữu
Toàn, 2010) [3]. Nguyên nhân do việc nghiên cứu dinh dưỡng và TLTH các chất dinh dưỡng trên
đối tượng này chưa có vì vậy các nhà nuôi trồng thủy sản cũng như các nhà chế biến thức ăn
chưa đủ cứ liệu khoa học hoàn chỉnh để thiết lập công thức thức ăn cho cá rô đồng đảm bảo đủ
thành phần các chất dinh dưỡng trong thức ăn.
Các nước Châu Âu và các nước đã phát triển khác trên thế giới đang sử dụng chỉ số
2
O
3
) được sử dụng làm chất chỉ thị tiêu hóa với tỷ lệ 1% trong khẩu phần. Thức ăn
được chế biến thành viên, sấy khô và bảo quản ở 4
0
C. Công thức phối trộn và thành phần dinh
dưỡng của các khẩu phần thí nghiệm được trình bày ở bảng 1.
Bảng 1. Công thức phối trộn và thành phần dinh dưỡng của các công thức thức ăn
Nguyên liệu CT1 CT2 CT3 CT4 CT5
Bột cá 17 11,2 11,2 11,2 11,2
Cám gạo 13 9,1 9,1 9,1 9,1
Bột bắp 32 22,5 22,5 22,5 22,5
Bột đậu nành 26 18,2 18,2 18,2 18,2
Khô dầu lạc 10 7 7 7 7
Bột cá 0 30 0 0 0
Bột đậu nành 0 0 30 0 0
Bột đầu tôm 0 0 0 30 0
Khô dầu lạc 0 0 0 0 30
Vitamin 1 1 1 1 1
Cr
2
O
3
1 1 1 1 1
Tổng cộng 100 100 100 100 100
Giá trị dinh dưỡng
VCK (%) 85,4 86,5 86,9 83,8 85,2
Protein thô (%) 27,5 38,0 32,05 33,85 23,8
Lipid (%) 9,5 7,5 11,08 7,5 10,2
/%Cr
ph
) * (%DD
ph
/%DD
ta
)
Trong đó, % Cr
ta
: tỷ lệ Cr có trong thức ăn, % Cr
ph
: tỷ lệ Cr có trong phân, %DD
ph
: tỷ lệ
chất dinh dưỡng trong phân (% VCK), %DD
ta
: tỷ lệ chất dinh dưỡng trong thức ăn (% VCK)
- Tỷ lệ tiêu hóa biểu kiến VCK, protein, lipid, xơ và khoáng tổng số của nguyên liệu thí
nghiệm được tính theo công thức:
TLTH
nl
= TLTH
kptn
+ [(TLTH
kptn
– TLTH
kpcs
) * (0,7*D
cs
/0,3*D
Nhiệt độ (
0
C)
6,038,27
00,2830,26
±
−
pH
07,096,6
0,78,6
±
−
DO (mg/l)
28,058,6
00,700,6
±
−
NH
3
(mg/l)
014,0028,0
05,001,0
±
−
Nhiệt độ trong suốt quá trình thí nghiệm dao động từ 26,3
0
C đến 28,0
0
C, đạt trung bình
± δ
TLTH xơ
X
xơ
± δ
TLTH khoáng
khoáng
X
± δ
KPCS 87,2
a
± 0,4 77,7
a
± 1,1 81,3
a
± 1,6 38,0
a
± 0,9 32,2
a
± 1,2
KP Bột cá 89,9
b
± 0,8 86,4
b
± 0,9 88,8
b
± 0,8 44,8
b
± 1,0 35,6
b
ac
± 1,5 28,2
c
± 1,3
SEM 0,3 0,4 0,7 0,6 0,6
P- value 0,001 0,001 0,001 0,001 0,001
a, b, c, d
các ký tự khác nhau trong cùng cột sai khác có ý nghĩa thống kê (P<0,05)
SEM: sai số chuẩn của trung bình mẫu
X
: giá trị trung bình mẫu của TLTH khoáng
δ: độ lệch chuẩn.
Tỷ lệ tiêu hóa vật chất khô của các khẩu phần thí nghiệm trên cá rô đồng đạt từ 85,6%
đến 89,9% trong đó cao nhất là khẩu phần bột cá, tiếp đến là khẩu phần khô dầu lạc, khẩu phần
cơ sở, khẩu phần bột đậu nành và thấp nhất là khẩu phần bột đầu tôm theo thứ tự là 89,9%,
87,6%, 87,2%, 86,5% và 85,6%. Không có sự sai khác thống kê về tỷ lệ tiêu hóa vật chất khô
giữa khẩu phần cơ sở, khẩu phần bột đậu nành và khẩu phần khô dầu lạc (P>0,05), tương tự đối
với khẩu phần bột đậu nành và khẩu phần bột đầu tôm, có sự sai khác giữa khẩu phần bột cá với
tất cả các khẩu phần còn lại (P<0,05).
Khả năng tiêu hoá protein ở cá cao hơn so với các thành phần khác trong thức ăn, thường
từ 50 - 95% tùy thuộc vào nguồn nguyên liệu cung cấp protein. Protein có thành phần và tỉ lệ các
amino acid thiết yếu càng giống đối tượng nuôi sẽ cho sinh trưởng tốt hơn. Protein động vật
được tiêu hóa tốt hơn protein thực vật.
Trong 5 khẩu phần thí nghiệm, khẩu phần bột cá có thành phần hóa học protein cao nhất
38% nhờ đó nó làm tăng hoạt tính của các men tiêu hóa protein là pepsin và tripsin, kết quả là tỷ
lệ tiêu hóa protein ở khẩu phần bột cá cao nhất (86,4%).
Tỷ lệ tiêu hóa lipid của các khẩu phần ở các lô thí nghiệm sử dụng thức ăn khác nhau đã
cho kết quả khác nhau. Lô sử dụng bột đầu tôm cho kết quả thấp nhất (80,8%) và không có sự sai
khác thống kê với KPCS, KP khô dầu lạc, giữa khẩu phần bột đậu nành và bột cá (P>0,05), tỷ lệ
tiêu hóa cao nhất là bột cá 88,8% và bột đậu nành 87,2% và có sự sai khác với các khẩu phần
thí nghiệm
TLTH
VCK
VCK
X
± δ
TLTH
protein
protein
X
± δ
TLTH lipid
lipid
X
± δ
TLTH xơ
X
xơ
± δ
TLTH khoáng
khoáng
X
± δ
Bột cá 94,7
a
± 1,8 90,1
a
± 1,1 88,9
a
± 0,8 44,8
± 1,2 82,8
b
± 1,8 40,1
bc
± 1,5 28,1
b
± 1,3
SEM 0,8 0,4 0,7 0,7 0,6
P- value 0,001 0,001 0,001 0,001 0,001
a, b, c, d
các ký tự khác nhau trong cùng cột sai khác có ý nghĩa thống kê (P<0,05)
SEM: sai số chuẩn của trung bình mẫu
X
: giá trị trung bình mẫu của TLTH khoáng
δ: độ lệch chuẩn.
Từ kết quả ở bảng 4 ta thấy tỷ lệ tiêu hóa vật chất khô của các nguyên liệu thí nghiệm
tăng dần theo thứ tự bột đầu tôm 83,1%, bột đậu nành 85,3%, khô dầu lạc 88,2% và cao nhất là
bột cá 94,7%, trong đó không có sự khác nhau về mặt thống kê (P>0,05) về tỷ lệ tiêu hóa vật
chất khô giữa bột đậu nành và bột đầu tôm, giữa bột đậu nành và khô dầu lạc.
Hàm lượng carbohydrate và xơ trong nguyên liệu có ảnh hưởng lớn đến tỷ lệ tiêu hóa các
chất dinh dưỡng khác trong khẩu phần, đặc biệt vật chất khô. Nghiên cứu của Storebakken và
đồng tác giả (1998) cho thấy rằng khi tăng hàm lượng carbohydrate và hàm lượng xơ thô trong
khẩu phần sẽ làm giảm tỷ lệ tiêu hóa vật chất khô. Sự khác nhau về thành phần hóa học của tinh
bột trong các nguyên liệu có nguồn gốc thực vật sẽ dẫn đến sự khác nhau về tỷ lệ tiêu hóa vật
chất khô của các nguyên liệu có hàm lượng tinh bột cao. Trong một vài trường hợp, tỷ lệ tiêu hóa
vật chất khô có liên quan đến hàm lượng xơ và khoáng có trong nguyên liệu [12]. Tỷ lệ tiêu hóa
vật chất khô cao nhất là bột cá, nó có hàm lượng protein thô cao nhất và hàm lượng xơ và
khoáng thấp nhất trong 4 loại nguyên liệu, ngược lại nguyên liệu có tỷ lệ tiêu hóa vật chất khô
thấp nhất là bột đầu tôm, nó có hàm lượng xơ và khoáng cao nhất trong nguyên liệu thí nghiệm.
ở cá rô phi là 90,1% , của bột đậu nành là 95,2% [10] cao hơn rất nhiều so với nghiên cứu trên cá
rô đồng. Như vậy có thể thấy rằng cá rô đồng là cá ăn động vật nên có khả năng tiêu hóa xơ thấp
hơn so với cá rô phi. Ở cá ăn động vật, cấu tạo ruột rất ngắn vì vậy xơ không được tiêu hóa kịp
khi đi qua đoạn ruột này, trong khi đó cá ăn thực vật xơ được tiêu hóa tốt hơn.
Tỷ lệ tiêu hóa khoáng của nguyên liệu bột đầu tôm cao nhất đạt 37,4%, tiếp đến là bột cá
35,8%, bột đậu nành 30,1% và thấp nhất là khô dầu lạc 28,1%, không có sự sai khác có ý nghĩa
thống kê (P>0,05) về tỷ lệ tiêu hóa khoáng giữa bột cá và bột đầu tôm, giữa bột đậu nành và khô
dầu lạc. Đối với nguyên liệu bột cá, cá rô phi có tỷ lệ tiêu hóa khoáng là 38,1% [10] phù hợp với
kết quả nghiên cứu trên cá rô đồng.
4. KẾT LUẬN
Các yếu tố môi trường như nhiệt độ, pH, DO và NH
3
nằm trong giới hạn thích hợp cho sự
sinh trưởng và phát triển của cá rô đồng và không ảnh hưởng tiêu cực đến việc nghiên cứu tỷ lệ
tiêu hóa ở cá trong thí nghiệm này.
Tỷ lệ tiêu hóa vật chất khô, protein, lipid, xơ ở khẩu phần bột cá cao nhất và thấp nhất là
khẩu phần bột đầu tôm. Tuy nhiên tỷ lệ tiêu hóa khoáng cao nhất là khẩu phần bột đầu tôm và
thấp nhất là khẩu phần khô dầu lạc.
Trong các loại nguyên liệu trên, bột cá có tỷ lệ tiêu hóa vật chất khô, protein, lipid, xơ
cao nhất. So sánh với các loài cá khác cá rô đồng tiêu hóa tốt bốn loại nguyên liệu thí nghiệm.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Đoàn Khắc Độ (2008), Kỹ thuật nuôi cá rô đồng, Nhà xuất bản Đà Nẵng.
2. Trần Thị Thanh Hiền (2004), Giáo trình Dinh dưỡng và thức ăn thủy sản, Khoa Thủy
sản, Trường Đại học Cần Thơ.
3. Ngô Hữu Toàn (2010), “Ảnh hưởng của tỷ lệ protein thô trong khẩu phần đến sinh trưởng
ở cá rô đồng (Anabas testudineus) nuôi tại Thừa Thiên Huế”. Tạp chí Kinh tế sinh thái, (36),
69 - 75.
4. Nguyễn Duy Quỳnh Trâm (2011), “Nghiên cứu tỷ lệ tiêu hóa một số loại thức ăn trên cá
trê lai (Clarias macrocephalus x C. gariepinus) và rô phi đơn tính (Oreochromis niloticus)”,
Tạp chí Nông nghiệp và phát triển nông thôn, kỳ 1 tháng 5, 80 - 87.
dietaries (CT1: Basic diet; CT2: 70% basic diet +30% fish meal; CT3: 70% basic diet + 30% Peanut meal; CT4:
70% basic diet + 30% Shrimp head meal; CT5: 70% basic diet+ 30% ground nut meal), and to identify those in 4
different protein feed sources (Fish meal, peanut meal, shrimp head meal, ground nut meal). The results shown that
the digestibility of DM, CP, EE, CF in CT2 were higher (P<0.05) than in CT1, CT3, CT4, CT5. The digestibilty of
DM, CP, EE, CF in Shrimp head meal were lowest and have significant different (P<0,05) with fish meal while
digestibility of Ash in CT4 as well as in shrimp head meal were highest compared to others. Environmental factors
were in line with performant and development capacity of this fish.
Key words: Anabas testudineus, digestibility, protein feed sources.