B GIO DC V O TO
I HC HU H Lấ QUNH CHU
XAẽC ậNH GIAẽ TRậ NNG LặĩNG TRAO
ỉI
COẽ HIU CHẩNH NIT (ME
N
), Tẩ L
TIU HOẽA HệI TRAèNG CAẽC CHT DINH
DặẻNG CUA MĩT S LOAI THặẽC N
VAè ặẽNG DUNG TRONG THIT LP KHỉU
PHệN NUI GAè THậT
LUN N TIN S NễNG NGHIP
HU - 2014
B GIO DC V O TO
I HC HU H Lấ QUNH CHU
Hồ Lê Quỳnh Châu
ii
LỜI CẢM ƠN
Luận án Tiến sĩ này được thực hiện tại Trường Đại học Nông Lâm, Đại học
Huế dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. TS. Hồ Trung Thông và PGS. TS. Đàm
Văn Tiện. Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các Thầy về định hướng khoa học,
liên tục quan tâm, tạo điều kiện thuận lợi trong suốt quá trình thực hiện luận án này.
Tôi xin chân thành cám ơn GS. Velmurugu Ravindran và Th.S. Don Thomas
Trang
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC BẢNG viii
DANH MỤC HÌNH VÀ SƠ ĐỒ xi
MỞ ĐẦU 1
1. Tính cấp thiết của đề tài 1
2. Mục tiêu và phạm vi nghiên cứu 2
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 3
4. Nhữ
ng đóng góp mới của luận án 3
Chương 1.
TỔNG QUAN TÀI LIỆU 5
1.1. Thực trạng của ngành chăn nuôi gà trên thế giới và ở Việt Nam 5
1.1.1. Tình hình sản xuất của ngành chăn nuôi gà 5
1.1.2. Các phương thức chăn nuôi 9
1.1.3. Hệ thống sản xuất giống 12
1.1.4. Thức ăn và dinh dưỡng cho gà 13
1.1.5. Tình hình chăm sóc và quản lý đàn gà 15
1.2. Các hệ thống biểu thị giá trị dinh dưỡng trong thức ăn cho gia cầm 16
1.2.1. Hệ thố
ng giá trị chất dinh dưỡng tổng số 16
1.2.2. Hệ thống năng lượng 18
1.2.3. Hệ thống giá trị chất dinh dưỡng tiêu hóa 21
1.3. Phương pháp đánh giá giá trị năng lượng trao đổi và tỉ lệ tiêu hóa chất dinh
dưỡng trong thức ăn cho gia cầm 24
1.3.1. Các phương pháp đánh giá giá trị năng lượng trao đổi trong thức ăn cho gia
3.3.2. Tỉ lệ tiêu hóa các chất dinh dưỡng tổng số của các thức ăn thí nghiệm 87
3.4. Thí nghiệm 4. Xác định tỉ lệ
tiêu hóa hồi tràng tiêu chuẩn của các amino acid
trong các loại thức ăn cho gà 93
3.4.1. Hàm lượng amino acid nội sinh cơ bản 93
3.4.2. Tỉ lệ tiêu hóa hồi tràng amino acid trong các thức ăn thí nghiệm 94
3.5. Thí nghiệm 5. Kiểm tra kết quả xác định giá trị năng lượng trao đổi đối với một
số thức ăn nguyên liệu bằng thí nghiệm sinh trưởng 99
3.6. Thí nghiệm 6. Xây dựng phương trình hồi quy ước tính giá trị năng lượng trao
đổi của các thứ
c ăn thí nghiệm và kiểm tra độ chính xác của phương trình 105
3.6.1. Các phương trình hồi quy ước tính giá trị năng lượng trao đổi trong thức ăn
cho gà 105
3.6.2. Kiểm tra độ chính xác của phương trình hồi quy 109
v
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 115
1. Kết luận 115
2. Đề nghị 116
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA NGHIÊN CỨU SINH 117
TÀI LIỆU THAM KHẢO 119
PHỤ LỤC
Năng lượng trao đổi biểu kiến có
hiệu chỉnh nitơ
Nitrogen-corrected apparent
metabolizable energy
AOAC Hiệp hội các nhà hóa phân tích
chính thống
Association of Official Analytical
Chemists
Ash Khoáng tổng số Total ash
ATD Tỉ lệ tiêu hóa toàn phần biểu
kiến
Apparent total tract digestibility
CF Xơ thô Crude fiber
CP Protein thô/protein tổng số Crude protein
cs. Cộng sự
DCP Dicalcium phosphate
DDGS Bã ngô Distillers dried grains with
solubles
DE Năng lượng tiêu hóa Digestible energy
DM Vật chất khô Dry matter
ĐVT Đơn vị tính
EE Lipid thô/lipid tổng số Ether extract
ELISA Xét nghiệm hấp thụ miễn dịch
liên kết với enzyme
Enzyme Linked Immunosorbent
Assay
FCR Hệ số chuyển hóa thức ăn Feed conversion ratio
FE Năng lượng trong phân Fecal energy
FE
NIRS Quang phổ cận hồng ngoại Near infrared reflectance
spectroscopy
NRC Hội đồng nghiên cứu quốc gia National Research Council
NSP Polysaccharide phi tinh bột Non-starch polysaccharides
NT Nguyên trạng
OM Chất hữu cơ Organic matter
PHILSAN Hội các nhà dinh dưỡng động
vật Phillipines
Philippine Society of Animal
Nutritionists
SE Sai số chuẩn Standard error
SID Tỉ lệ tiêu hóa hồi tràng tiêu
chuẩn
Standardised ileal digestibility
TB Trung bình
tdt Trích dẫn theo
TME Năng lượng trao đổi đúng True metabolizable energy
UE Năng lượng trong nước tiểu Urinary energy
UE
e
Năng lượng nước tiểu có nguồn
gốc nội sinh
Endogenous urinary energy
UE
f
Năng lượng nước tiểu có nguồn
gốc từ thức ăn
Urinary energy of feed
trong thức ăn bằng phương pháp
gián tiếp 70
Bảng 3.3. So sánh giá trị ME
N
được xác định bằng phương pháp trực tiếp và gián
tiếp ở 2 giai đoạn tuổi 72
Bảng 3.4. Ảnh hưởng của độ tuổi gà đến lượng nitơ tích lũy 74
Bảng 3.5. Giá trị năng lượng trao đổi trong thức ăn theo các độ tuổi của gà 75
Bảng 3.6. So sánh giá trị ME và ME
N
của khẩu phần thí nghiệm 75
Bảng 3.7. Giá trị năng lượng trao đổi có hiệu chỉnh nitơ (ME
N
) của ngô 78
Bảng 3.8. Giá trị năng lượng trao đổi có hiệu chỉnh nitơ (ME
N
) của cám gạo 79
ix
Bảng 3.9. Giá trị ME
N
của bột sắn 81
Bảng 3.10. Giá trị ME
N
của đậu tương nguyên dầu 82
Bảng 3.11. Giá trị ME
N
của bột cá 84
Bảng 3.12. Giá trị ME
N
109
x
Bảng 3.33. Kết quả xác định giá trị ME
N
trong 5 loại thức ăn kiểm chứng phương
trình hồi quy bằng thí nghiệm in vivo 110
Bảng 3.34. Các phương trình hồi quy ước tính giá trị ME
N
trong thức ăn 111
u tương, bột thịt và bột cá cũng tăng cao [180]. Khoảng cách về nhu
cầu và nguồn cung cấp trong thực tế sẽ ngày càng lớn [180]. Do đó, việc khai thác
triệt để giá trị dinh dưỡng của thức ăn nguyên liệu, tận dụng các phụ phẩm ngành
công nghiệp chế biến trong xây dựng khẩu phần nhằm giảm áp lực về nguồn cung
cấp đối với ngành công nghiệp thức ăn chăn nuôi ngày càng trở nên quan tr
ọng.
Trước đây, việc xây dựng khẩu phần thường có xu hướng dư thừa chất dinh
dưỡng do không chắc chắn về tính sẵn có của các chất dinh dưỡng (đặc biệt là các
amino acid và phosphorus) hoặc nhu cầu dinh dưỡng [181]. Hiện nay, vấn đề này
không còn được chấp nhận do việc xây dựng khẩu phần như vậy rất lãng phí và chất
dinh dưỡng dư thừa được đào thải qua phân là nguồn gây ô nhiễm môi trường [181].
Việc xây dựng các khẩu phần đáp ứng vừa đủ nhu cầu dinh dưỡng của vật nuôi sẽ
giúp tối ưu hóa hiệu quả sử dụng thức ăn [181]. Để xây dựng khẩu phần dinh dưỡng
hợp lý, bên cạnh đánh giá nhu cầu dinh dưỡng của vật nuôi, việc đánh giá giá trị
dinh dưỡng của thức ăn là rất cần thiết.
Giá trị tiềm năng của một lo
ại thức ăn có thể được xác định thông qua các
phân tích hóa học. Tuy nhiên, theo McDonald và cs. (1998), giá trị dinh dưỡng thực
của thức ăn đối với động vật chỉ có thể được xác định sau khi hiệu chỉnh các thất
thoát xảy ra trong quá trình tiêu hóa, hấp thu và trao đổi chất (tdt [163]). Trong khi
2
đó, các dữ liệu về giá trị dinh dưỡng của các loại thức ăn cho gia cầm ở Việt Nam
đang được biểu thị ở dạng thành phần dinh dưỡng tổng số, giá trị năng lượng trao
đổi của thức ăn cũng chỉ là kết quả từ các công thức ước tính [6], [11]. Các nghiên
cứu gần đây đã chỉ ra sự sai lệch đáng kể về giá trị năng lượng trao
đổi của thức ăn
xác định bằng phương pháp in vivo và phương pháp ước tính [5], [8]. Như vậy, có
thể thấy rằng khả năng ứng dụng vào thực tiễn của cơ sở dữ liệu về giá trị dinh
dưỡng của thức ăn cho gia cầm ở nước ta hiện nay là rất thấp. Chính vì vậy, việc
tiến hành các thí nghiệm in vivo nhằm đánh giá đúng giá trị dinh dưỡng củ
dựa trên mức độ các chất dinh dưỡng tổng số.
2.2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Thí nghiệm được tiến hành trên gà Lương Phượng 35 ngày tuổi tại Phòng
nghiên cứu gia cầm Phòng Nghiên cứu Gia cầm và Phòng Thí nghiệm Trung tâm
thuộc Khoa Chăn nuôi - Thú y, Trường Đại học Nông Lâm, Đại học Huế từ năm
2008 đến 2013.
Tổng cộng 39 mẫu thuộc 18 loạ
i thức ăn thí nghiệm (ngô, cám gạo nguyên
dầu, cám gạo trích ly, tấm gạo, gạo lứt, bột sắn, đậu tương nguyên dầu, khô dầu đậu
tương, đậu tương thủy phân, DDGS, bột cá, khô dầu lạc, khô dầu dừa, khô dầu hạt
cải, bột lông vũ, bột gia cầm thủy phân, bột thịt xương và bột đầu tôm) đã được sử
dụng để đánh giá giá trị dinh dưỡng.
3. Ý nghĩ
a khoa học và thực tiễn
3.1. Ý nghĩa khoa học
Bổ sung dữ liệu về giá trị năng lượng trao đổi, tỉ lệ tiêu hóa hồi tràng các
chất dinh dưỡng và tỉ lệ tiêu hóa hồi tràng tiêu chuẩn của các amino acid trong các
loại thức ăn cho gà ở Việt Nam.
3.2. Ý nghĩa thực tiễn
- Cung cấp thông tin giúp các nhà sản xuất thức ăn gia cầm phối trộn khẩu
phần một cách hợp lý, phục vụ tốt h
ơn cho quá trình sản xuất.
- Giúp rút ngắn thời gian đánh giá giá trị năng lượng trao đổi có hiệu chỉnh
nitơ trong thức ăn thông qua sử dụng phương trình hồi quy.
4. Những đóng góp mới của luận án
- Luận án là nghiên cứu đầu tiên ở Việt Nam sử dụng khoáng không tan
trong acid chlohydric (AIA) làm chất chỉ thị trong đánh giá giá trị dinh dưỡng của
thức ăn cho gà.
- Đã đánh giá giá trị dinh dưỡng của 18 loại thức
ăn phổ biến cho gà bằng thí
5
Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Thực trạng của ngành chăn nuôi gà trên thế giới và ở Việt Nam
1.1.1. Tình hình sản xuất của ngành chăn nuôi gà
1.1.1.1. Tình hình sản xuất ngành chăn nuôi gà thế giới
Chăn nuôi gia cầm cũng như thương mại các sản phẩm gia cầm trên thế giới
phát triển mạnh trong những năm qua. Sản lượng thịt gia cầm tăng nhanh hơn sản
lượng thịt bò và thịt lợn. Năm 2009, sản lượng thịt gà broiler thế giới đạt 73,6 triệu
tấn; thịt lợn là 100,6 triệu tấn; thịt bò và thịt bê là 57,1 triệu tấn [240]. Đến tháng 4
năm 2013, sản lượng thịt gà broiler đã tăng lên 79% so với thịt lợn và 147% so với
thịt bò và thịt bê. Từ năm 2009 đến 4/2013, sản lượng thịt gà thế giới tăng 14,9%;
trong khi đó sản lượng thịt lợn, thịt bò và bê chỉ tăng lần lượt là 6,80% và 0,61%
(bảng 1.1).
Bảng 1.1. Sản lượng các loại thịt chính trên thế giới giai đoạn 2009-2013
(ĐVT: 1000 tấn)
Năm Thịt gà broiler Thịt lợn Thịt bò và bê
2009 73.612 100.567 57.180
2010 77.893 102.968 57.303
2011 80.811 102.015 57.058
2012 82.774 105.519 57.257
4/2013 84.610 107.412 57.527
Thay đổi 2009/2013 14,9% 6,80% 0,61%
Thịt gà được tính theo khối lượng thịt đã được sơ chế; Thịt lợn, thịt bò và thịt bê được tính theo
khối lượng thịt xẻ
(Nguồn: [240])
chiếm 46,96% tổng sản lượng thịt gà tây xuất khẩu thế giới. Trong khi đó, Mỹ đứng
đầu về xuất khẩu thịt gà tây với tổng lượng xuất khẩu là 336 triệu tấn vào năm 2012,
chiếm 50,37% tổng lượng thịt gà tây xuất khẩu của thế giới [240].
Về sản lượng trứng gia cầm, từ năm 2000 đến 2010, sản lượng trứng gia cầm
thế giới tăng 2,5% mỗi năm, từ 51 triệu tấn đến 63,8 triệu tấn (bảng 1.4). Tốc độ
tăng trưởng hằng năm về sản lượng trứng gia cầm khác nhau theo từng khu vực.
Tốc độ tăng trưởng về sản xuất trứng gia cầm ở châu Phi vào khoảng 4,7% mỗi
năm; ở châu Á là 2,9%/năm; ở châu Mỹ là 2,3%. Sản lượng trứng gia cầm của châu
Đại Dương chiếm tỉ lệ thấp nhất so với các khu vực khác trên thế giới, tốc độ tăng
trưởng giai đoạn 2000-2010 là 5,0%/năm. Ở châu Âu, tốc độ tăng trưởng về sản
lượng trứng gia cầm là thấp nhất (1,1%/năm).
7
Bảng 1.3. Tổng sản lượng thịt gà tây thế giới giai đoạn 2008-2012
(ĐVT: triệu tấn)
Quốc gia 2008 2009 2010 2011 2012
Tổng sản lượng
Mỹ 2.796 2.535 2.527 2.592 2.675
EU-27 1.830 1.795 1.946 1.950 2.020
Brazil 465 466 485 489 510
Canada 180 167 159 160 165
Nga 39 31 70 90 100
Mexico 15 11 11 13 14
Nam Phi 7 8 8 8 8
Trung Quốc 5 5 6 6 6
Tổng 5.337 5.018 5.212 5.308 5.498
(Nguồn: [240])
Bảng 1.4. Tổng sản lượng trứng gia cầm thế giới giai đoạn 2000-2010
(ĐVT: triệu tấn)
Khu vực 2000 2005 2006 2007 2008 2009 2010
Châu Phi 1,9 2,2 2,4 2,5 2,6 2,6 2,8
Sản lượng thịt gia cầm
hơi giết bán (nghìn tấn)
Trứng gia cầm
(nghìn tấn)
2000 196,1 292,9 185,4
2001 218,1 308,0 200,5
2002 233,3 338,4 226,5
2003 254,6 372,7 242,6
2004 218,2 316,4 197,0
2005 219,9 321,9 188,0
2006 214,6 344,4 198,5
2007 226,0 358,8 223,0
2008 248,3 448,2 247,0
2009 280,2 518,3 390,0
2010 286,8 531,4 326,1
(Nguồn: [61])
Theo Tổng cục Thống kê (2012), năm 2011 tổng đàn gia cầm cả nước là
322,569 triệu con [10]. Sự phân bố của đàn gia cầm là không đồng đều giữa các
vùng. Đàn gia cầm chủ yếu tập trung ở vùng đồng bằng sông Hồng (83,165 triệu
con); tiếp theo là Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung (68,726 triệu con), đồng
bằng sông Cửu Long (66,361 triệu con), Trung du và miền núi phía Bắc (65,927 triệu
con), vùng Đông Nam Bộ (24,121 triệu con) và Tây Nguyên (14,248 triệu con) [10].
Thời điểm 01/10/2012 đàn gia cầm có 308,5 triệu con, bằng 95,63% so
với 01/10/2011, trong đó đàn gà có 223,7 triệu con, giảm 3,85% [10]. Nguyên
nhân của việc giảm đàn gia cầm chủ yếu là do giá bán thấp trong khi chi phí
đầu vào luôn ở mức cao, và lượng gia cầm nhập vào Việt Nam theo đường
chính ngạch và tiểu ngạch với giá bán thấp hơn so với giá trong nước. Mặc dù
9
đàn gia cầm giảm, sản lượng thịt gia cầm hơi giết bán vào năm 2012 tăng 4,8%
so với cùng kỳ năm trước [10].
Nam đang tồn tại cả
3 phương thức chăn nuôi gà nói trên [60]. Ngành gia cầm chăn
thả nhỏ lẻ chiếm 2/3 sản lượng và 1/2 thị trường trực tiếp và có tầm quan trọng rất
lớn trong chiến lược sinh kế của người dân nông thôn [2].
10
1.1.2.1. Phương thức chăn nuôi quảng canh
Đây là phương thức chăn nuôi có từ lâu đời và vẫn tồn tại phát triển ở hầu
khắp vùng nông thôn Việt Nam [60]. Mỗi hộ chăn nuôi có khoảng 50 con gà, chủ
yếu là các giống địa phương [49], [236]. Giống gà chủ yếu được nuôi trong hình
thức này là gà Ri, có khối lượng trung bình 1,2-1,6 kg lúc 6 tháng tuổi, sản lượng
trứng là 45-60 quả/mái/năm [236]. Gà tự ấp và nuôi con; tuy nhiên, đôi khi gà con
cũng được mua từ các chợ
địa phương để bổ sung vào đàn [236].
Đặc điểm của phương thức chăn nuôi này là chi phí đầu vào và đầu ra thấp
[236]. Đàn gia cầm được thả rông trong sân hoặc vườn, tự tìm kiếm thức ăn và tận
dụng phụ phẩm nông nghiệp, rác thải nhà bếp [49], [236]. Lượng thức ăn sử dụng
để nuôi gà không tập trung vào hiệu quả sản xuất mà phụ thuộc vào các loại thức ăn
hạ
t sẵn có và nhu cầu ăn của gia cầm [60], [236]. Thông thường, gia cầm được thả
và cho ăn vào buổi sáng, cho ăn lại vào buổi tối và nhốt trong chuồng suốt đêm [60],
[236]. Chuồng trại sử dụng trong hệ thống nuôi này có kết cấu đơn giản, vườn thả
không có hàng rào bao che [119], [236]. Thời gian nuôi kéo dài [49]. Mặt khác, do
ít có sự đầu tư về lao động và tài chính, nguồn thu nhập từ hình thức chăn nuôi gia
cầm này chỉ được xem là nguồn thu ph
ụ trong hộ gia đình [236]. Do thả tự do, môi
trường chăn nuôi không đảm bảo vệ sinh dịch tễ khiến đàn gà dễ mắc bệnh, dễ chết
nóng, chết rét, tỉ lệ nuôi sống thấp, hiệu quả kinh tế không cao [236]. Tuy vậy,
phương thức chăn nuôi này có những ưu điểm nhất định như phù hợp với điều kiện
tự nhiên và kinh tế của hộ nông dân; cung cấp thứ
c ăn động vật cho người dân nông
ảng hơn 10 năm
trở lại đây [35]. Đặc điểm của phương thức chăn nuôi thâm canh công nghiệp là vốn
đầu tư cao, quản lý tốt và thời gian nuôi ngắn, gà được nuôi nhốt với quy mô đàn từ
hơn 2.000 – 1000.000 con [35], [60]. Hệ thống chuồng trại được kiểm soát bán tự động
hoặc tự động trong việc cung cấp thức ăn, nước uống; kiểm soát độ ẩm, hệ thố
ng thông
gió, chiếu sáng và quản lý chất thải [35]. Điểm đáng chú ý trong phương thức nuôi gà
thâm canh công nghiệp ở Việt Nam là hệ thống sản xuất giống các cấp không đồng bộ,
các doanh nghiệp nhà nước và các công ty nước ngoài chỉ tập trung nhập khẩu trứng
hoặc con giống thương phẩm 1 ngày tuổi từ đàn bố mẹ ở nước ngoài [119]. Việc đầu tư
xây dựng và sản xuất giống ông bà ít được quan tâm, trung bình nướ
c ta phải nhập
1.000.000 con gà giống bố mẹ và 4.000 – 5.000 con gà giống ông bà mỗi năm để sản
xuất gà thương phẩm [60]. Nhìn chung, chăn nuôi gà theo phương thức thâm canh
công nghiệp ở nước ta vẫn còn trong tình trạng thấp kém cả về trình độ công nghệ và
năng suất chăn nuôi so với các nước trong khu vực và trên thế giới [119].