Tài liệu GIÁ TRỊ NĂNG LƯỢNG TRAO ĐỔI CÓ HIỆU CHỈNH NITƠ TRONG MỘT SỐ PHỤ PHẨM KHI SỬ DỤNG LÀM THỨC ĂN NUÔI GÀ - Pdf 10



269

TẠP CHÍ KHOA HỌC, Đại học Huế, tập 71, số 2, năm 2012 GIÁ TRỊ NĂNG LƯỢNG TRAO ĐỔI CÓ HIỆU CHỈNH NITƠ TRONG MỘT
SỐ
PHỤ PHẨM KHI SỬ DỤNG LÀM THỨC ĂN NUÔI GÀ
Hồ Trung Thông
1
, Thái Thị Thúy
1
, Hồ Lê Quỳnh Châu
1
,Vũ Chí Cương
2
1
Trường Đại học Nông Lâm, Đại học Huế
2
Viện Chăn nuôi Quốc gia

Tóm tắt. Nghiên cứu này đã được triển khai nhằm xác định giá trị năng lượng trao
đổi có hiệu chỉnh nitơ (ME
N
) trong một số phụ phẩm (khô dầu lạc, khô dầu dừa,
bột đầu tôm và tấm gạo) khi được sử dụng làm thức ăn nuôi gà. Tổng số 150 con
gà Lương Phượng 35 ngày tuổi được sử dụng trong thí nghiệm. Khẩu phần cơ sở
được thiết kế đảm bảo đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng cho gà ở giai đoạn thí nghiệm.
Tổng số 04 khẩu phần thí nghiệm được thiết lập bằng cách thay thế 20% hoặc 40%

chế biến làm thức ăn cho gia súc, gia cầm là một trong những giải pháp hiệu quả đảm
bảo sản xuất bền vững và hạn chế ô nhiễm môi trường. Tuy nhiên, để sử dụng hiệu quả
nguồn phụ phẩm trong thiết lập khẩu phần cho gia cầm, việc đánh giá giá trị dinh dưỡng
của thức ăn là rất cần thiết. Cho đến nay, đã có nhiều công bố về sự sai khác đáng kể về 270

giá trị năng lượng trao đổi trong thức ăn xác định bằng phương pháp in vivo trong điều
kiện thực tế ở Việt Nam so với số liệu đã công bố trong các cơ sở dữ liệu thức ăn và giá
trị ước tính từ thành phần các chất dinh dưỡng tổng số (Vũ Duy Giảng và cs., 2000; Tôn
Thất Sơn và Nguyễn Thị Mai, 2007; Hồ Lê Quỳnh Châu và cs., 2011). Chính vì vậy,
nghiên cứu này đã được triển khai nhằm xác định giá trị năng lượng trao đổi trong một
số loại phụ phẩm như khô dầu lạc, khô dầu dừa, bột đầu tôm và tấm gạo, từ đó làm cơ
sở cho việc sử dụng hiệu quả nguồn phụ phẩm làm thức ăn trong chăn nuôi gà thịt ở địa
phương.
2. Vật liệu và phương pháp nghiên cứu
2.1. Động vật và thức ăn thí nghiệm
Thí nghiệm được tiến hành trên gà Lương Phượng giai đoạn 35-42 ngày tuổi tại
Phòng Nghiên cứu Gia cầm và Phòng Thí nghiệm Trung tâm, Khoa Chăn nuôi – Thú y,
Trường Đại học Nông Lâm Huế. Tổng số 150 con gà ở 35 ngày tuổi có trọng lượng
đồng đều (trung bình 514g/con) được bố trí ngẫu nhiên vào 75 cũi trao đổi chất, tỉ lệ
trống/mái ở mỗi cũi là 1/1. Tổng số 05 khẩu phần được sử dụng trong thí nghiệm gồm
01 khẩu phần cơ sở (KPCS) và 04 khẩu phần chứa thức ăn thí nghiệm (khô dầu lạc, khô
dầu dừa, bột đầu tôm và tấm gạo). Mỗi thí nghiệm được tiến hành với 5 lần lặp lại.
Nguồn gốc của các loại thức ăn thí nghiệm được trình bày ở bảng 1.
Bảng 1. Nguồn gốc của các mẫu thức ăn thí nghiệm
TT Mẫu thức ăn thí nghiệm Ký hiệu Nguồn gốc
1 Khô dầu lạc KDL Huế
2 Khô dầu dừa KDD Bến Tre

Tỷ lệ (%)
1 Cám gạo 5,50 6 Premix vitamin* 0,20
2 Bột ngô 60,27 7 Premix vi khoáng** 0,25
3 Bột cá cơm 7,50 8 Bột CaCO
3
0,74
4 Bột sắn 2,00 9 Methionine 0,03
5 Khô dầu đậu nành 23,00 10 DCP 0,51
(* Bio-pharmachemie (Bio-ADE+B.complex premix), 1kg chứa: 3.100.000 UI vitamine
A, 1.100.000 UI vitamine D3, 300 UI vitamine E, 320 mg B1, 140 mg B2 1.000 mg niacinamide,
600 mg B6, 1.200 mcg B12, 1.000 mg vitamine C, 130 mg acid folic.
** Bio-pharmachemie (Bio-chicken minerals), 1 kg chứa: 10.800 mg Mn, 2.160 mg Fe,
7.200 mg Zn, 1.260 mg Cu, 144 mg Iodine, 21,6 mg Co, 14,4 mg Se, 40 mg acid folic, 4.800 mcg
biotin, 20.000 mg Choline chloride).
2.2. Nuôi gà và thu mẫu
Thí nghiệm kéo dài trong 7 ngày, trong đó 4 ngày đầu tiên là giai đoạn thích
nghi và 3 ngày sau là giai đoạn thu mẫu. Chế độ cho ăn được áp dụng là cho ăn tự do.
Trong giai đoạn thu gom mẫu, chất thải ở từng cũi trao đổi chất được thu 2 lần/ ngày,
cho vào hộp đựng bảo quản mẫu, vặn chặt nắp và bảo quản ở nhiệt độ -20
o
C. Khi kết
thúc giai đoạn thu mẫu, trộn đều mẫu chất thải của gà ở 3 cũi trao đổi chất (pooled mẫu)
trong cùng 1 lần lặp lại đã thu được trong 3 ngày và bảo quản ở -20
o
C cho đến khi phân
tích.
2.3. Phân tích hóa học và tính kết quả
Mẫu chất thải được sấy khô ở 60
o
C. Mẫu thức ăn và mẫu chất thải được nghiền

d
là năng lượng tổng số của khẩu phần (kcal/kg DM), GE
e
là giá trị năng lượng tổng
số của chất thải (kcal/kg DM), AIA
d
là hàm lượng khoáng không tan trong acid trong
khẩu phần (%DM), AIA
e
là hàm lượng khoáng không tan trong acid trong chất thải
(%DM).
Giá trị năng lượng trao đổi biểu kiến được hiệu chỉnh bằng lượng nitơ tích lũy
với hệ số f = 8,22 kcal/g theo công thức sau: ME
N
= ME - 8,22 × NR; với NR = (N
d

N
e
× AIA
d
/AIA
e
) × 1000/100 (Lammers và cs., 2008). Trong đó, ME
N
là năng lượng
trao đổi được tính bằng kcal/kg DM; 8,22 là năng lượng của uric acid (kcal/g) (Hill và
Anderson, 1958), NR là lượng nitơ tích lũy (g/kg), N
d
là lượng nitơ trong khẩu phần


số liệu đã công bố của Viện Chăn nuôi (2001). Theo Sundu và cs. (2009), chất lượng
của khô dầu dừa phụ thuộc vào nhiều yếu tố như quá trình chế biến, điều kiện bảo quản
và quá trình sấy khô. Một số nghiên cứu đã được thực hiện nhằm nghiên cứu ảnh hưởng
của các phương pháp chế biến đến chất lượng của khô dầu dừa (Thorne và cs., 1989;
Thomas và Scott, 1962). Theo Thomas và Scott (1962), khô dầu dừa chiết ly có chất
lượng tốt hơn so với khô dầu dừa ép máy. Sự gia nhiệt trong quá trình ép máy là nguyên
nhân dẫn đến sự phá hủy protein trong thức ăn. Ngoài ra, độ ẩm không khí cao trong
quá trình bảo quản cũng làm giảm chất lượng protein trong khô dầu dừa do nhiễm
aflatoxin. Nghiên cứu của Head và cs. (1999) cho thấy tỷ lệ nhiễm aflatoxin tăng lên
theo hàm số mũ khi thời gian bảo quản kéo dài hơn 5 tuần. Sấy khô cũng là một trong
những yếu tố tác động đến chất lượng khô dầu dừa do sự biến tính của protein (Guarte
và cs., 1996).
Bảng 3. Thành phần các chất dinh dưỡng tổng số của các mẫu thức ăn thí nghiệm
Thành phần dinh dưỡng
TT

Mẫu thức ăn thí
nghiệm
DM

(%)

CP
(%DM)

EE
(%DM)

Ash


(%)

CP
(%DM)

EE
(%DM)

Ash
(%DM)

CF
(%DM)

GE
(kcal/kg DM)

AIA
(%DM)

1 KPCS 88,74

23,20 3,49 6,82 3,78 4443,09 2,02
2 KPDL 89,12

28,56 4,88 6,89 4,48 4541,71 1,97
3 KPDD 87,63

20,95 4,71 7,15 7,75 4571,24 2,26

b
±
16,49
3051,55
a
±
5,50
2868,36
c
±
11,16
3464,76
d

± 29,40
Nitơ
tích
lũy
g/kg
DM
13,189
a± 1,381
11,198
a
±
0,689
16,980

3365,73
c± 27,89
MJ/kg
DM
12,21
a± 0,11
11,14
b ± 0,05
12,18
a

± 0,05
11,43
b± 0,10
14,08
c

± 0,12

a± 0,09
9,76
b± 0,05
10,86
a

± 0,04
10,26
c± 0,04
12,60
d± 0,10
(DM: vật chất khô, NT: nguyên trạng, Các giá trị trung bình trong cùng một hàng có ít
nhất một chữ cái giống nhau thì sự sai khác không có ý nghĩa thống kê với p > 0,05).
Kết quả thí nghiệm ở bảng 5 cho thấy giá trị năng lượng trao đổi có hiệu chỉnh
nitơ của khẩu phần cơ sở là 2918,67 kcal/kg chất khô (DM) hay 2590,07 MJ/kg nguyên
trạng (NT). Giá trị này thấp hơn 13,62% so với giá trị ước tính (2998,60 kcal/kg NT) từ
các số liệu tham khảo của Viện Chăn nuôi (2001). Giá trị ME
N

N
của mẫu khô
dầu dừa trong nghiên cứu này thấp hơn so với các số liệu đã công bố. Vì thế việc tiếp
tục nghiên cứu giá trị ME
N
trong các mẫu khô dầu dừa khác nhau là điều cần thiết.
Tương tự, giá trị năng lượng trao đổi có hiệu chỉnh nitơ của bột đầu tôm trong nghiên
cứu này cũng cho kết quả thấp hơn so với công bố của PHILSAN (2003) (1737,68
kcal/kg NT so với 1985 kcal/kg NT). Ngược lại, kết quả xác định giá trị ME
N
trong tấm
gạo trong nghiên cứu này cao hơn so với công bố của Viện Chăn nuôi (2001) và
PHILSAN (2003) (3539,66 kcal/kg NT hay 14,81 MJ/kg NT so với 12 MJ/kg NT và
3100 kcal/kg NT). Sự sai khác này có thể do mẫu tấm gạo sử dụng trong nghiên cứu này
có chất lượng tốt, hàm lượng NfE cao (87,43%), hàm lượng CF thấp (0,55%). Kết quả ở
bảng 6 cũng chỉ ra sự sai khác về kết quả xác định giá trị ME
N
trong các loại thức ăn khi
tiến hành thí nghiệm trực tiếp trên động vật và kết quả ước tính từ thành phần các chất
dinh dưỡng tổng số. Kết quả ước tính giá trị năng lượng trao đổi có hiệu chỉnh nitơ
trong khô dầu dừa theo công thức của Janssen (1989) (tdt NRC, 1994) là 1870,10
kcal/kg DM, cao hơn 14,36% so với kết quả xác định bằng phương pháp in vivo.
Bảng 6. Giá trị ME
N
của các mẫu thức ăn thí nghiệm
Chỉ
số
Đơn vị tính Khô dầu dừa Khô dầu lạc Bột đầu tôm Tấm gạo
Kcal/kg DM
1635,28

Kcal/kg NT
1444,87
a

± 53,63
2542,51
b

± 51,66
1737,68
c

± 45,10
3539,66
d

± 61,15
ME
N

MJ/kg NT 6,05
a
± 0,22
10,64
b

± 0,22
7,27
c
± 0,19

của
khô dầu dừa từ nghiên cứu này thấp hơn nhiều so với giá trị ME
N
của khô dầu dừa trong
cơ sở dữ liệu thức ăn. Tuy vậy, giá trị ME
N
của tấm gạo từ nghiên cứu này cao hơn giá
trị ME
N
của tấm gạo từ một số cơ sở dữ liệu hiện nay.

TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Hồ Lê Quỳnh Châu, Hồ Trung Thông, Đàm Văn Tiện, Vũ Chí Cương, Giá trị năng
lượng trao đổi có hiệu chỉnh nitơ và tỷ lệ tiêu hóa các chất dinh dưỡng trong bột sắn
khi sử dụng làm thức ăn nuôi gà, Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, 6,
(2011), 60-66.
2. Lã Văn Kính, Thành phần hóa học và giá trị dinh dưỡng của các loại thức ăn gia súc
Việt Nam, Nxb. Nông nghiệp TPHCM, 2003.
3. Tôn Thất Sơn, Nguyễn Thị Mai, Xác định giá trị năng lượng trao đổi (ME) của một số
giống đỗ tương làm thức ăn cho gia cầm bằng phương pháp trực tiếp, Tạp chí KHKT
Nông nghiệp, 4, (2007), 33-37.
4. Viện Chăn nuôi, Thành phần và giá trị dinh dưỡng thức ăn gia súc - gia cầm Việt Nam,
Nxb. Nông nghiệp Hà Nội, 2001.
5. Vũ Duy Giảng, Nguyễn Thị Mai, Tôn Thất Sơn, Kết quả xác định giá trị năng lượng
trao đổi (ME) của một số loại ngô đỏ làm thức ăn cho gia cầm bằng phương pháp trực
tiếp, Tạp chí Khoa học Nông nghiệp, 9, (2000), 95-104.
6. AOAC, Official methods of analysis, Fifteenth edition, Published by the Association of
Official Analytical Chemists, Inc., Arlington-Virginia-USA, 1990.
7. Guarte RC, Muhlbaeur W, and Kellert M., Drying characteristics of copra and quality
of copra and coconut oil, Postharvest Technology, 9, (1996), 361-372.

energy value of copra meals and their prediction from chemical composition, Animal
Production, 49, (1989), 459-466.
19. Villamide MJ, Fuente JM, Perez de Ayala P, and Flores A., Energy evaluation of eight
barley cultivars for poultry: Effect of dietary enzyme addition, Poult Sci, 76, (1997),
834-840.
20. Vogtmann H, Pfirter HP, and Prabucki AL., A new method of determining
metabolisability of energy and digestibility of fatty acids in broiler diets, Br Poult Sci,
16(5), (1975), 531-534.
278

DETERMINATION OF NITROGEN-CORRECTED METABOLIZABLE
ENERGY VALUES OF COCONUT MEAL, PEANUT MEAL, SHRIMP HEAD
MEAL AND BROKEN RICE FOR BROILER
Ho Trung Thong
1
, Thai Thi Thuy
1
, Ho Le Quynh Chau
1
and Vu Chi Cuong
2
1
College of Agriculture and Forestry, Hue University
2
National Institute of Animal Husbandry

Abstract. The aim of this study was to determine the nitrogen-corrected


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status