Nghiên cứu ảnh hưởng của chế biến cổ truyền đến thành phần hóa học và tác dụng sinh học của cốt toái bổ (rhizoma drynariae bonii) - Pdf 30

BỘ YTÊ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Dược HÀ NỘI
PHẠM THỊ HẰNG
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA CHÊ BIÊN c ổ TRUYỀN
ĐẾN THÀNH PHẦN HOÁ HỌC VÀ TÁC DỤNG SINH HỌC
CỦA CỐT TOÁI BỔ
( Rhizoma Drynariae bonii)
(KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP Dược sĩ KHOÁ

9
ỹ $ ẩ Ỉ
004
)
Ĩ Ề B
Nguời hướng dần : PGS. TS. Phạm Xuai
DS. Đào Thị Hằng
Nơi thực hiện : Bộ môn Dược học cổ truyền-Trường
Đại học Dược Hà Nội.
Bộ môn Dược lý -Trường Đại học Y
Hà Nội.
Thời gian thực hiện: Từ 16/2 - 31/5/2004
' <23 lon
r*'ĩỉỉỉí-ì'nh- \
i í ị ị ị 5. ^ . J
Hà Nội, tháng 5 - 2004 \ lc.^33 /
-rò '7 ® c Jlt Ơ Q l
Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, tôi xin bày tỏ lời cảm ơn chân
thành tới:
- PGS. TS. Phạm Xuân Sinh - trưởng bộ môn Dược học cổ truyền,
Trường Đại học Dược Hà Nội, đã trực tiếp hướng dẫn tôi tận tình, chỉ bảo
cho tôi những cho tôi những kiến thức quí báu trong quá trình thực nghiệm

1.3.3. Công dụng và cách dùng 10
Phần 2: THỰC NGHIỆM VÀ KẾT QUẢ 12
2.1. Nguyên vật liệu và phương pháp thực nghiệm 12
2.1.1. Đối tượng và thiết bị 12
2.1.2. Phương pháp thực nghiệm 13
2.2. Kết quả thực nghiệm và nhận xét 16
2.2.1 Chế biến vị thuốc cốt toái bổ 16
2.2.2. Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của chế biến đến thành
phần hoá học của vị thuốc cốt toái bổ 16
2.2.3. Kết quả nghiên cứu thử tác dụng sinh học 27
2.3. Bàn luận 33
2.3.1. Về nguồn nguyên liệu cốt toái bổ 33
2.3.2. Về chế biến 33
2.3.3. Về hoá học 34
2.3.4. Về tác dụng sinh học 34
Phần 3: KẾT LUẬN VÀ ĐỂ XUẤT 37
3.1. Kết luận 37
3.2. Đề xuất 37
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHU Lưc
Chú giải chữ viết tắt
CTB : cốt toái bổ
CTBS : cốt toái bổ sống
CTBTR : cốt toái bổ trích rượu
MS :mẫu sống
sc : sao vàng cách cát
TR : trích rượu
TB : trung bình
TT : thể trọng
YHCT : y học cổ truyền

sau khi chế.
PHẦN 1: TỔNG QUAN
Chế biến thuốc cổ truyền là sử dụng các phương pháp tổng hợp để làm
biến đổi vị thuốc từ trạng thái tự nhiên ban đầu thành vị thuốc sử dụng cho
việc phòng và chữa bệnh. Hay nói cách khác chế biến để chuyển vị thuốc từ
dạng thuốc sống trở thành thuốc chín. Chế biến làm cho thuốc có sự biến đổi,
thay đổi nhất định về thành phần hoá học, công năng chủ trị.[20]
1.1. Ý nghĩa của chế biến cổ truyền.
1.1.1. Tinh chế thuốc, làm sạch tạp cơ học: [2],[3],[13],[20],[21]
- Loại bỏ những bộ phận không dùng làm thuốc như: bỏ hạt trong kim
anh tử, bỏ vỏ tang bạch bì, bỏ rễ phụ tử
- Rửa tạp cơ học: đất, sỏi
- Một số vị thuốc có nguồn gốc khoáng vật được thu từ thiên nhiên, có
tính chất thăng hoa, thường tinh chế bằng phương pháp chế sương (phương
pháp nung kín) như chế lưu huỳnh, khinh phấn
1.1.2. Làm thay đổi tính, vị của vị thuốc, từ đó thay đổi tác dụng của thuốc:
- Tính, vị là đặc trưng của vị thuốc, biểu hiện xu hướng và cường độ tác
dụng. Chế biến theo các cách khác nhau có thể làm thay đổi tính, vị của chúng
dẫn đến thay đổi tác dụng. [3]
- Tăng tính ấm, giảm tính hàn bằng phương pháp hoả chế, thuỷ hoả hợp
chế hoặc dùng các phụ liệu tính ôn như gừng, sa nhân, rượu .[2],[3]
Ví dụ: Sinh địa (vị đắng, ngọt; tính mát) sau khi nấu với gừng, sa nhân,
rượu thành thục địa (vị ngọt, tính ôn). Sinh địa có tác dụng lương huyết, thục
địa có tác dụng bổ huyết.[2],[3],[20],[21]
- Giảm tính đại nhiệt hoặc đại hàn có thể chế bằng cách ngâm trong
dịch nước vo gạo, cam thảo hoặc sao đen .[3]
I
1.1.3. Giảm độc tính của thuốc:[2], [3]
Các vị thuốc có độc tính cao gây nguy hại đến tính mạng thường phải
chế biến để giảm độc tính như rán dầu hoặc ép dầu tạo các sản phẩm giảm độc

muối
+ Tăng tác dụng của thuốc ở phế thì chế biến để vị thuốc có màu trắng,
vị cay. Ví dụ: Bán hạ, đẳng sâm chế với dịch nước gừng.
+ Tăng tác dụng của thuốc ở tâm, tiểu tràng thì chế biến để vị thuốc có
màu đỏ, vị đắng. Ví dụ: Xương bồ tẩm thần sa
+ Tăng tác dụng của thuốc ở can, đởm thì chế biến để vị thuốc có màu
xanh, vị chua. Ví dụ: Hương phụ chế với dấm
- Chế biến thuốc có thể làm tăng hiệu lực trị bệnh trên cơ sở:
+ Hiệp đồng tác dụng của vị thuốc với phụ liệu. Ví dụ: Bán hạ chế
sinh khương thì tăng tác dụng chống nôn; chế cam thảo thì tăng tác dụng chỉ
ho, long đờm.
+Thay đổi tác dụng của vị thuốc.
+ Tăng khả năng giải phóng hoạt chất khỏi vị thuốc.
1.1.7. Thay đổi vê mặt hoá học của vị thuốc do đó tác dụng sinh học của vị
thuốc sẽ thay đổi:[ 2], [20], [21]
- Dưới tác dụng của nhiệt độ và các phụ liệu thường làm cho thành phần
hoá học của vị thuốc ít nhiều bị thay đổi, do đó ảnh hưởng đến tác dụng của vị
thuốc. Ví dụ: Các dược liệu chứa tinh dầu, sau khi chế biến, hàm lượng tinh
dầu giảm rõ rệt.
4
- Sau khi chế, thành phần hoá học của một số dược liệu đã biến đổi
thành chất mới. Ví dụ: Phụ tử sống chứa aconitin, độc A, sau khi chế biến bị
thuỷ phân thành benzoylaconin, aconin có độ độc giảm rõ rệt.
1.1.8. Tạo ra tác dụng trị bệnh mới:[2],[20],[21]
- Qua chế biến, một số vị thuốc có thể thay đổi tác dụng thậm chí có thể
tạo ra tác dụng đối lập với tác dụng vốn có của nó.
Ví dụ: + Sinh địa vị đắng, ngọt; tính mát có tác dụng thanh nhiệt lương
huyết sau khi chế thành thục địa có vị ngọt, tính ôn có tác dụng bổ âm bổ
huyết.
+ Bồ hoàng sống có tác dụng hoạt huyết còn bồ hoàng thán có

trung gian. Các phụ liệu thường dùng là: Gạo, cám, cát, hoạt thạch,
văn cập
■ Các phương pháp hoả chế khác: Nung, lùi, nướng, hoả phi
1.2.2. Phương pháp thuỷ chê
Là phương pháp chế biến sử dụng tác động của nước hoặc dịch phụ liệu
để đáp ứng được các mục đích khác nhau.
Các phương pháp thuỷ chế thường dùng: Ngâm, ủ, tẩm, thuỷ phi
1.2.3. Phương pháp thuỷ hoả hợp chế:
Là phương pháp chế biến phối hợp nước lửa, sử dụng sự tác động của
nước ở nhiệt độ cao hơn nhiệt độ thường.
Trích: Trích là phương pháp tẩm vào vị thuốc một hay nhiều loại dịch phụ
liệu, ủ đến khi thấm đều thì sao hoặc nướng.
6
- Phương pháp trích rượu nhằm mục đích: Cải thiện tính dược, dẫn
thuốc lên trên; tăng cường tác dụng bổ can thận; tăng cường tác
dụng hoạt huyết, thông lạc; trừ mùi hôi tanh khó chịu[13].
- Tuỳ vào mục đích điều trị mà trích với các dịch phụ liệu khác như:
trích giấm, trích mật, trích gừng, trích cam thảo, trích đậu đen, trích
muối
Ngoài ra, có một số phương pháp khác như: chưng, đồ, nấu, sắc
1.3. Chê biến cổ truyền cốt toái bổ:
1.3.1. Vài nét về vị thuốc cốt toái bổ:
1.3.1.1. Hình thái thực vật:
Ảnh 1: Loài Drynaria bonii được thu hái ở Lạng Sơn.
Tên khoa học của một số loài Cốt toái bổ ở Việt Nam: [1],[8],[14],[27]
- Drynaria bonii Chirst.
- Drynaria fortunei J.Sm.
- Drynaria quercifolia (L) J.Sm.
- Drynaria propinqua (Wall, ex Mett.) J.Sm.
Họ Ráng: Polypodiaceae

R = Neohesperidose
OH
Naringenin
1.3.1.3. Tác dụng sinh học của cốt toái bổ:
Cốt toái bổ là cây thuốc dễ kiếm, rẻ tiền, được sử dụng nhiều trong
đông y và kinh nghiệm dân gian. Cho đến nay, cốt toái bổ vẫn chưa được
nghiên cứu sâu về tác dụng dược lý. Theo nghiên cứu của Trần Thanh Tùng
(2003) [24] cho thấy, dạng cao lỏng 2:1 của cốt toái bổ loài Drynaria fortunei
có tác dụng giảm đau, chống viêm cấp và mạn tính.
Theo Gu Sui Bu [25], bột cao 5 :1 của cốt toái bổ loài Drynaria fortunei
còn được sử dụng như một thức ăn bổ sung.
Theo Trần Văn Kỳ [17], cốt toái bổ có tác dụng tăng cường sự hấp thu
canxi của xương, nâng cao lượng phospho của canxi trong máu, giúp cho
chóng liền xương; thuốc có tác dụng giảm đau, an thần; đồng thời có tác dụng
phòng ngừa Lipid huyết cao và phòng ngừa được chứng xơ mỡ mạch.
Trên cơ sở những tác dụng sinh học đã được nghiên cứu về cốt toái bổ,
chúng tôi tiếp tục nghiên cứu về thành phần hoá học và ảnh hưởng của các
phương pháp chế biến đến thành phần hoá học và tác dụng sinh học của loài
Drynaria bonii, từ đó góp phần làm sáng tỏ ý nghĩa khoa học của phương pháp
9
chế biến cổ truyền, góp phần xây dựng phương pháp chế biến vị thuốc để việc
sử dụng thuốc cổ truyền hiệu quả và an toàn.
1.3.2. Chế biến cốt toái bổ:
Ở nước ta, cốt toái bổ là vị thuốc còn được dùng chủ yếu trong phạm vi
nhân dân để chữa các bệnh về xương khớp. Việc chế biến cốt toái bổ cho đến
nay chưa có công trình nghiên cứu một cách khoa học. Nhân dân chủ yếu thu
lấy thân rễ, loại bỏ cuống lá, lông, rửa sạch, thái phiến rồi phơi khô, có thể sao
vàng để sắc uống; có khi được dùng sống để đắp các vết thương[18].
Việt Nam là nước có khí hậu nóng ẩm, do đó cốt toái bổ cũng như các vị
thuốc khác có nguồn gốc dược liệu rất dễ bị mốc gây khó khăn cho việc bảo

8g
Thục địa
12g
Hồng hoa
4g
Đinh hương
4g
Phục linh
12g
Nhũ hương
4g
Cốt toái bổ
12g
Trần bì
6g
Một dược
4g
Đương quy
12g
Cách dùng: sắc uống.
Tác dụng: Bong gân, khớp bị sai, trật gây đau.
11
PHẦN 2 : THỰC NGHIỆM VÀ KẾT QUẢ
2.1. Nguyên vật liệu và phương pháp thực nghiệm:
2.1.1. Đôi tượng và thiết b ị:
* Đôi tượng:
- Thân rễ của loài cốt toái bổ Drynaria bonii. Christ được thu hái tại
Lạng Sơn vào tháng 9.
- Cao lỏng 2:1 của loài cốt toái bổ sống và trích rượu.
- Dịch chiết saponin toàn phần của cốt toái bổ chưa chế.

pháp chung [4],[5],[12], [23].
+ Sắc ký lớp mỏng với bản mỏng silicagel GF254(Merck) đã tráng sẵn
[12].
+ Định lượng Flavonoid toàn phần và Saponin toàn phần của cốt toái bổ
trước và sau chế bằng phương pháp cân[4],[23].
2.1.2.3. Nghiên cứu tác dụng sinh học của vị thuốc cốt toái bổ trước và
sau khi chế:
Nghiên cứu tác dụng giảm đau
■ Tác dụng giảm đau trung ương
Phương pháp mâm nóng (Hot plate)
Chuột nhắt trắng được chia làm 5 lô:
- Lô l(lô chứng): uống NaCl 0,9% -2ml/0,lkg chuột.
- Lô 2: Uống aspegic (lysin acetyl salicylat 0,09g/kg) tương đương aspirin
0,05g/kg.
- Lô 3: Uống cao cốt toái bổ sống 4gCTB/kgTT
- Lô 4: Uống cao cốt toái bổ trích rượu 4gCTB/kgTT
13
- Lô 5: Uống dịch chiết saponin toàn phần của cốt toái bổ tương đương
4gCTB/kgTT
Cho chuột uống thuốc thử 3 ngày liền vào một giờ nhất định, riêng lô
uống aspirin chỉ uống vào ngày thứ 3. Đến ngày thứ 3, sau khi uống thuốc thử
60 phút, đặt chuột lên mâm làm nóng được duy trì ở 56°c. Theo dõi thời gian
chuột phản ứng với nhiệt độ, là thời gian tính từ lúc đặt chuột lên "mâm nóng"
đến khi chuột liếm chân sau. Loại bỏ những chuột phản ứng quá sớm (dưới 8
giây) hoặc quá chậm (trên 30 giây).
■ Tác dụng giảm đau tại chỗ:
Phương pháp gây quặn đau bằng acid acetic[26]
Thực nghiệm được tiến hành theo phương pháp Koster, chuột nhắt trắng
được chia làm 5 lô:
- Lô l:(lô chứng) Uống NaCl 0,9% -2ml/0,lkg

Phần trăm độ tăng thể tích chân chuột được tính như sau:
V - V
v°/o——-— — .100
K
Trong đó:
Vt:Thể tích chân chuột sau khi gây phù viêm
Vo:Thể tích chân chuột trước khi gây phù viêm
So sánh độ tăng thể tích biểu hiện của phù viêm giữa chân chuột thử
thuốc và chân chuột đối chứng trong nhóm và giữa các nhóm với nhau. Tác
dụng chống phù viêm được biểu thị bằng tỉ lệ % ức chế phản ứng phù viêm.
Tỉ lệ phần trăm ức chế phản ứng phù viêm (1%) được tính như sau:
AVC% -AV,%
A v„ %
Trong đó:
AVc%: Trung bình % độ tăng thể tích chân ở lô chứng
AVt%: Trung bình % độ tăng thể tích chân ở lô thuốc
■ Xử lý sô liệu: Các kết quả nghiên cứu được trình bày theo:
Số trung bình ± độ lệch chuẩn (M ± SD) và được xử lý bằng thuật toán
thống kê T-test Student. [11]
2.2. Kết quả thực nghiệm và nhận xét:
2.2.1. Chê biến vị thuốc cốt toái bổ
2.2.1.1. Sơ chế:
Cốt toái bổ được thu hái ở Lạng Sơn vào tháng 9, tiến hành loại bỏ
cuống lá, bỏ lông, vảy, rễ con sau đó rửa sạch, thái phiến dầy l-2mm, dài 10-
15cm, phơi khô tới độ thuỷ phần không quá 13%.
22.1.2. Chế biến cổ truyền:
Nguyên liệu là cốt toái bổ phiến khô
+ Sao vàng cách cát:
- Xử lý cát: Cát được làm sạch bằng cách cho cát vào trong nước rửa kỹ
rồi gạn bỏ nước, làm như vậy nhiều lần rồi đem phơi khô cát.

1%/cồn trong H2S04đặc, thấy xuất hiện màu âỏ.(Phản ứng dương tính ở cả 3
mẫu)
- Phản ứng Salkowski:
Cho 1 ml dịch chiết cồn vào 1 ống nghiệm nhỏ, thêm 1 ml H2S04 đặc
dọc theo thành ống nghiệm, xuất hiện màu tím đỏ ở mặt phân cách giữa 2 lớp
chất lỏng .(Phản ứng dương tính ở cả 3 mẫu)
Xác định chỉ số tạo bọt:
Cân 5g bột cốt toái bổ (sống hoặc chế) cho vào các bình nón 250ml
khác nhau. Thêm 100ml nước cất, đun sôi cách thuỷ 30 phút, lọc nóng sau đó
để nguội, cho vào bình định mức 100ml, thêm nước cất đến vạch, lấy 50ml
dịch chiết pha thành 100ml để xác định chỉ số tạo bọt.
Lấy 10 ống nghiệm(16 X l,6cm), đánh số thứ tự từ 1 đến 10 và bố trí thí
nghiệm theo bảng sau:
Bảng 2.1. Thí nghiệm xác định chỉ số bọt.
SỐ ống 1
2 3 4 5 6
7 8
9
10
Dịch chiết saponin (ml) 1 2
3 4 5 6
7 8
9
10
Nước cất (ml) 9
8 7 6 5 4
3 2 1 0
Tổng số (ml)
10 10
10 10 10 10 10 10 10 10

một ít bột Mg kim loại, nhỏ từng giọt HC1 đặc (4-5 giọt) để trên cách thuỷ
sôi vài phút, thấy xuất hiện màu đỏ. (phản ứng dương tính ở cả 3 mẫu)
■ Phản ứng với kiềm: Nhỏ một giọt dịch chiết lên giấy lọc, hơ khô rồi để lên
miệng lọ amoniac đậm đặc đã mở nắp thấy xuất hiện màu đỏ cam(phản
ứng dương tính ở cả 3 mẫu)
■ Phản ứng với FeCls 5%: Lấy 1 ml dịch chiết 1 cồn, lắc đều cho tan rồi
thêml ml FeCl3 thấy xuất hiện tủa màu xanh đen .(phẩn ứng dương tính ở 3
m ẫu )
■ Sắc ký lớp mỏng:
- Chuẩn bị dịch chấm sắc ký: Lấy 5ml dịch chiết ethylacetat ở trên cho
vào ống nghiệm nhỏ, bốc hơi dung môi thu được cắn, hoà cắn bằng lml cồn
80°, dùng dịch này để chấm sắc ký.
- Chất hấp phụ: Bản mỏng bằng nhôm tráng sẵn Silicagel GF254 của
hãng Merck đã được hoạt hoá ở nhiệt độ 110°c trong 1 giờ.
19
- Hệ dung môi khai triển:
Hệ 1: Toluen- Ethylacetat- Acid formic (4:5:1)
Hệ 2: Ethylacetat-Methanol-Nước-Acid acetic (100 : 17 : 13 : 1)
Nhận xét: sắc ký đồ của mẫu sống và mẫu trích rượu đều tách 5 vết
giống nhau về màu sắc (hơ hơi NH3 đậm đặc) và giá trị Rf, còn mẫu sao vàng
cách cát thì chỉ cho một vết có Rf= 0,72 được thể hiện ở bảng 2.2.
Bảng 2.2 : Kết quả khai triển sắc ký lớp mỏng của hệ 2:
Vết
Rf
Màu của vết với hơi NH3
TR(1)
SC(2)
MS(3) TR(1)
SC(2) MS(3)
1


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status