Giải pháp nâng cao năng lực quản trị rủi ro tại Công ty cổ phần chứng khoán Phố Wall - Pdf 30

Chuyên đề tốt nghiệp
LỜI CAM ĐOAN
Em xin cam đoan, đề tài “Giải pháp nâng cao năng lực quản trị rủi ro tại
Công ty cổ phần chứng khoán Phố Wall” là công trình nghiên cứu của riêng em.
Các số liệu trong chuyên đề được sử dụng trung thực, có nguồn trích dẫn rõ
ràng và chưa từng được công bố tại công trình nào khác.
Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô tại Học Viện Ngân Hàng đã truyền đạt
cho em kiến thức trong suốt những năm học ở trường.
Em xin chân thành cảm ơn Công ty cổ phần chứng khoán Phố Wall đã tạo điều
kiện cho em trong thời gian thực tập và thực hiện chuyên đề này.
Nguyễn Thị Hồng
Lớp: CKA – K12
Chuyên đề tốt nghiệp
MỤC LỤC
Nguyễn Thị Hồng
Lớp: CKA – K12
Chuyên đề tốt nghiệp
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt Diễn giải
WSS Công ty cổ phần chứng khoán Phố Wall
CTCK Công ty chứng khoán
TTCK Thị trường chứng khoán
UBCKNN Ủy ban chứng khoán nhà nước
SGDCK Sở giao dịch chứng khoán
BCTC Báo cáo tài chính
OTC Thị trường chứng khoán phi tập trung
VKD Vốn khả dụng
NĐC Nợ điều chỉnh
DMĐT Danh mục đầu tư
QĐ Quyết định
DT Doanh thu

một trong những công ty bán lẻ hàng đầu tại thị trường Việt Nam trong lĩnh vực cung
cấp dịch vụ chứng khoán thì vai trò của công tác quản trị rủi ro là vô cùng quan trọng
trong bối cảnh của nền kinh tế hiện nay. Xuất phát từ những vấn đề trên, em quyết định
chọn đề tài “Giải pháp nâng cao năng lực quản trị rủi ro tại công ty cổ phần chứng
khoán Phố Wall” làm chuyên đề tốt nghiệp của mình.
Mục tiêu nghiên cứu
Bài chuyên đề đưa ra những lý luận chung nhất và cơ bản nhất về rủi ro và
Nguyễn Thị Hồng
Lớp: CKA – K12
1
Chuyên đề tốt nghiệp
phương thức quản trị rủi ro tại CTCK giúp cho người đọc nhìn nhận được tổng quát và
đầy đủ những rủi ro mà CTCK có thể gặp phải trong quá trình hoạt động kinh doanh.
Đồng thời bài chuyên đề cũng nêu rõ thực trạng công tác quản trị rủi ro tại CTCPCK
Phố Wall, những kết quả đạt được cũng như những tồn tại gặp phải, từ đó đề xuất các
biện pháp nhằm nâng cao năng lực quản trị rủi ro tại CTCPCK Phố Wall.
Phạm vi nghiên cứu
Quản trị rủi ro về phía tác nghiệp tại CTCP chứng khoán Phố Wall.
Đối tượng nghiên cứu
Quản trị rủi ro tại CTCP chứng khoán Phố Wall trong thời gian 3 năm từ 2010 – 2012.
Kết cấu của chuyên đề
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung chính của chuyên đề được chia làm
ba chương:
Chương 1: Những nội dung cơ bản về công ty chứng khoán và quản trị
rủi ro tại công ty chứng khoán
Chương 2: Thực trạng quản trị rủi ro tại CTCP chứng khoán Phố Wall.
Chương 3: Giải pháp nâng cao năng lực quản trị rủi ro tại CTCP chứng
khoán Phố Wall.
Nguyễn Thị Hồng
Lớp: CKA – K12

Lớp: CKA – K12
3
Chuyên đề tốt nghiệp
24/04/2007 của Bộ Tài chính có quy định: “Công ty chứng khoán là tổ chức có
tư cách pháp nhân hoạt động kinh doanh chứng khoán, bao gồm một, một số
hoặc toàn bộ các hoạt động: môi giới chứng khoán, tự doanh chứng khoán, bảo
lãnh phát hành chứng khoán, tư vấn đầu tư chứng khoán.”
Về hình thức pháp lý, theo quy định tại khoản 1 điều 59 Luật Chứng khoán
có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2007, CTCK chỉ được tổ chức dưới hai hình
thức là công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc công ty cổ phần theo quy định của
Luật doanh nghiệp.
Về nghiệp vụ kinh doanh, Luật Chứng khoán 2006 có quy định cụ thể tại
điều 60 và điểm 14 khoản 1 điều 1 Luật chứng khoán sửa đổi 2010 như sau: “
CTCK được thực hiện một, một số hoặc toàn bộ nghiệp vụ kinh doanh sau đây:
môi giới chứng khoán, tự doanh chứng khoán, bảo lãnh phát hành chứng khoán,
tư vấn đầu tư chứng khoán. CTCK chỉ được phép thực hiện nghiệp vụ bảo lãnh
phát hành chứng khoán khi thực hiện nghiệp vụ tự doanh chứng khoán. Ngoài
những nghiệp vụ trên, CTCK được nhận ủy thác quản lý tài khoản giao dịch
chứng khoán của nhà đầu tư cá nhân, cung cấp dịch vụ tư vấn tài chính và các
dịch vụ tài chính khác theo quy định của Bộ tài chính”.
Hoạt động của các CTCK rất đa dạng và phức tạp, khác hẳn với các doanh
nghiệp sản xuất hay thương mại thông thường vì môi trường hoạt động của các
CTCK chính là TTCK – thị trường tài chính bậc cao của nền kinh tế thị trường.
Chính hoạt động đa dạng và phức tạp như vậy nên vấn đề xác định mô hình tổ
chức kinh doanh của CTCK ở mỗi quốc gia lại có những điểm khác biệt nhất
định. Nhìn chung, có hai mô hình được áp dụng hiện nay là mô hình công ty đa
năng và mô hình công ty chuyên doanh chứng khoán, trong đó mô hình công ty
chuyên doanh được áp dụng phổ biến hơn.
1.1.2. Vai trò của CTCK
Đối với tổ chức phát hành:

Đối với Nhà quản lý
Ngành công nghiệp chứng khoán nói chung và các công ty chứng khoán
nói riêng thông qua các Sở giao dịch chứng khoán và thị trường OTC, có chức
năng cung cấp một cơ chế giá cả nhằm giúp nhà đầu tư có sự đánh giá đúng đắn
thực tế và chính xác giá trị khoản đầu tư của mình. Các sở giao dịch chứng
Nguyễn Thị Hồng
Lớp: CKA – K12
5
Chuyên đề tốt nghiệp
khoán niêm yết giá cổ phiếu của các công ty từng ngày một trên các báo cáo tài
chính, ngoài ra chứng khoán của nhiều công ty lớn không được niêm yết ở Sở
giao dịch cũng có thể được công bố trên các tờ báo tài chính.
Công ty chứng khoán còn có một chức năng quan trọng là can thiệp trên
thị trường, góp phần điều tiết giá chứng khoán. Theo quy định của Nhà nước
công ty chứng khoán bắt buộc phải giành ra một tỷ lệ nhất định giao dịch của
mình để mua chứng khoán vào khi giá chứng khoán trên thị trường đang giảm và
bán ra khi giá chứng khoán trên thị trường tăng cao.
Đối với nhà đầu tư
Thông qua các hoạt động như môi giới, tư vấn đầu tư và quản lý danh
mục đầu tư, CTCK có vai trò làm giảm chi phí và thời gian giao dịch, từ đó giúp
nâng cao hiệu quả các khoản đầu tư. Đối với hàng hoá thông thường, mua bán
qua trung gian sẽ làm tăng chi phí cho người mua và người bán. Tuy nhiên trên
TTCK sự biến động thường xuyên của giá cả chứng khoán cũng như mức độ rủi
ro cao sẽ làm cho những nhà đầu tư tốn kém chi phí, công sức và thời gian tìm
hiểu thông tin trước khi quyết định đầu tư. Nhưng thông qua các CTCK, với
trình độ chuyên môn cao và uy tín nghề nghiệp sẽ giúp các nhà đầu tư thực hiện
các khoản đầu tư một cách hiệu quả.
1.1.3. Các nghiệp vụ cơ bản của CTCK
Nghiệp vụ môi giới
“Môi giới chứng khoán là việc làm trung gian thực hiện mua, bán chứng

“ Bảo lãnh phát hành chứng khoán là việc cam kết với tổ chức phát hành
thực hiện các thủ tục trước khi chào bán chứng khoán, nhận mua một phần hay
toàn bộ chứng khoán của tổ chức phát hành để bán lại hoặc mua số chứng khoán
còn lại chưa được phân phối hết của tổ chức phát hành hoặc hỗ trợ tổ chức phát
hành phân phối chứng khoán ra công chúng” (Khoản 3 Điều 1 Luật Chứng
khoán sửa đổi 2010)
Nghiệp vụ tư vấn đầu tư chứng khoán
“ Tư vấn đầu tư chứng khoán là việc cung cấp cho các nhà đầu tư kết quả
phân tích, công bố báo cáo phân tích và khuyến nghị liên quan đến chứng
khoán” ( Khoản 3 Điều 2 Luật Chứng khoán sửa đổi 2010)
Do hoạt động tư vấn có thể đem lại lợi nhuận rất cao cho khách hàng nhưng
Nguyễn Thị Hồng
Lớp: CKA – K12
7
Chuyên đề tốt nghiệp
cũng có thể làm cho họ thua lỗ rất lớn nên các chuyên viên tư vấn khi thực hiện
hoạt động này cần đảm bảo các nguyên tắc sau:
 Không được đảm bảo chắc chắn về giá trị chứng khoán vì giá trị chứng
khoán không phải là một số cố định, nó phụ thuộc rất lớn vào diễn biến thực tế
của thị trường, tâm lý nhà đầu tư cũng như các điều kiện kinh tế vĩ mô khác.
 Luôn nhắc nhở khách hàng là các ý kiến tư vấn của mình chỉ có giá trị
tham khảo, mọi quyết định đầu tư cuối cùng đều thuộc về họ và CTCK sẽ không
chịu trách nhiệm về các thiệt hại của khách hàng do hoạt động tư vấn gây ra.
 Không được mời chào hay dụ dỗ khách hàng mua bán một loại chứng
khoán nào đó vì mục đích riêng.
 Bảo đảm tính trung thực và khách quan của hoạt động tư vấn, ý kiến tư
vấn là kết quả của quá trình phân tích, tổng hợp một cách khoa học, logic các
vấn đề nghiên cứu.
 Không được tiến hành bất cứ hoạt động gì làm cho khách hàng hiểu lầm
về giá trị, giá cả của bất kỳ loại chứng khoán nào.

khoán và số lượng chứng khoán mua bán, rủi ro do áp dụng sai biểu phí cho
khách hàng.
Rủi ro trong hoạt động tự doanh
Hoạt động tự doanh của tổ chức kinh doanh chứng khoán có thể được thực
hiện trên thị trường giao dịch tập trung hoặc trên thị trường OTC. Hoạt động này
mang lại khả năng sinh lời cao cho CTCK nhưng khả năng gặp phải rủi ro do
mất giá chứng khoán cũng rất lớn. Hoạt động tự doanh có thể mang lại cho
CTCK rủi ro như sau:
Đầu tư vượt quá hạn mức thẩm quyền đầu tư mua bán chứng khoán cho
chính công ty.
Nhân viên hoặc người không đủ thẩm quyền tiến hành hoặc tham gia tiến
hành vào xúc tiến các thủ tục mua bán chứng khoán cho công ty bằng nguồn vốn
của công ty.
Xung đột quyền lợi với khách hàng, ưu tiên thực hiện tự doanh của công ty
trước lệnh của khách hàng.
Thực hiện giao dịch chứng khoán vượt quá hạn mức mua bán chứng khoán
Nguyễn Thị Hồng
Lớp: CKA – K12
9
Chuyên đề tốt nghiệp
mà luật pháp đã quy định.
Lỗi sau giao dịch chuyển sang tài khoản tự doanh của công ty.
Rủi ro trong hoạt động bảo lãnh phát hành
Bảo lãnh phát hành là hoạt động hỗ trợ cho các tổ chức phát hành trong
việc phân phối chứng khoán thông qua tư vấn phát hành và thỏa thuận mua bán
chứng khoán để bán lại.
Bản chất của hoạt động bảo lãnh phát hành là hoạt động theo đó, CTCK là
trung gian kết nối giữa nhà phát hành và nhà đầu tư. Qua hoạt động bảo lãnh
phát hành, các CTCK thu về phí bảo lãnh phát hành.
Ứng với mỗi hình thức bảo lãnh phát hành khác nhau thì mức độ rủi ro có

triển của thị trường cũng như nền kinh tế.
Rủi ro phát sinh trong hoạt động này xuất phát từ việc tư vấn sai ảnh hưởng
đến uy tín của CTCK hoặc việc ký kết hợp đồng tư vấn không đúng với nội dung
quyền hạn của công ty hoặc không đúng với yêu cầu, gây ra hâu quả bất lợi cho
công ty.
Một số nguyên nhân gây ra rủi ro này như sau:
CTCK thu thập thông tin của khách hàng không đầy đủ khiến việc tư vấn
đầu tư không phù hợp với mục tiêu đầu tư và tình hình tài chính của khách hàng.
Nhân viên tư vấn không thực hiện đúng chức năng và nhiệm vụ của mình,
không dành ưu tiên cho lợi ích khách hàng và đối xử không cân bằng giữa các
khách hàng với nhau.
Công bố thông tin của khách hàng cho bên thứ ba mà không được khách
hàng đồng ý.
Rủi ro trong hoạt động lưu ký chứng khoán
Rủi ro phát sinh trong hoạt động lưu ký chứng khoán có thể kể đến là khả
năng phát hiện tính giả mạo của chứng khoán lưu ký kém, dẫn đến ghi nhận chứng
khoán khách hàng sở hữu không thật hoặc rủi ro trong quá trình xử lý hồ sơ lưu ký
chậm, ảnh hưởng đến quyết định bán chứng khoán của khách hàng. Bên cạnh đó,
quá trình ghi nhận tăng giảm chứng khoán của khách hàng không đúng với thực tế,
cũng như việc lập danh sách thực hiện quyền của khách hàng không chuẩn xác gây
ảnh hưởng đến quyền lợi của khách hàng và uy tín của CTCK.
Căn cứ vào nguyên nhân gây rủi ro
Nguyễn Thị Hồng
Lớp: CKA – K12
11
Chuyên đề tốt nghiệp
Rủi ro thị trường
Rủi ro thị trường là một trong các loại rủi ro cơ bản mà CTCK gặp phải
trong quá trình kinh doanh. Rủi ro thị trường được hiểu là rủi ro xảy ra do sự
thay đổi của các yếu tố thị trường như lãi suất, tỷ giá hối đoái, giá chứng khoán

nghĩa vụ đã cam kết trong hợp đồng tín dụng. Rủi ro này thường phát sinh trong
hoạt động môi giới chứng khoán, hoạt động tự doanh và các nghiệp vụ phụ trợ
của CTCK.
CTCK đối mặt với rủi ro tín dụng khi khách hàng không thực hiện thanh
toán tiền mua bán chứng khoán đúng thời hạn quy định hoặc công ty thực hiện
hợp đồng mua bán chứng khoán trên thị trường OTC nhưng khách hàng không
có khả năng thanh toán.
Trong giao dịch ký quỹ, CTCK gặp phải rủi ro khi chứng khoán thế chấp
giảm tới mức giá trị của chúng thấp hơn giá trị khoản vay ký quỹ. Vì thế, khi cấp
khoản vay ký quỹ, CTCK phải có nguyên tắc riêng về đảm bảo thu hồi vốn và
tránh tập trung quá mức vào cho vay một khách hàng hay một loại chứng khoán.
Rủi ro hoạt động
Rủi ro hoạt động là những rủi ro phát sinh do yếu tố con người (cẩu thả,
gian lận…) hoặc do sự sơ hở trong các quy trình tác nghiệp, sự yếu kém trong hệ
thống công nghệ thông tin, hệ thống kiểm soát nội bộ, hoặc từ những thay đổi
bất thường các yếu tố bên ngoài (cơ chế, chính sách của nhà nước, thiên tai, dịch
bệnh…) ảnh hưởng trực tiếp đến công ty.
Những nguyên nhân cơ bản của rủi ro hoạt động:
Nguyên nhân khách quan
Những thay đổi bất thường trong cơ chế, chính sách của Nhà nước, của
UBCKNN, Bộ tài chính.
Những biến động của thị trường, của môi trường bên ngoài như thiên tai,
khủng bố.
Nguyên nhân thuộc về CTCK:
Do chính sách, quy chế, quy trình tác nghiệp không được ban hành đầy đủ,
đồng bộ, kịp thời.
Sự yếu kém trong hệ thống công nghệ thông tin.
Sự cẩu thả, gian lận…của con người trong thực hiện tác nghiệp. Như vậy,
Nguyễn Thị Hồng
Lớp: CKA – K12

còn có tác dụng bảo vệ, tăng cường tài sản, nâng cao hình ảnh của công ty cũng
Nguyễn Thị Hồng
Lớp: CKA – K12
14
Chuyên đề tốt nghiệp
như phát triển, hỗ trợ nguồn nhân lực và nền tảng tri thức của công ty, tối ưu hóa
hiệu quả hoạt động của công ty.
Do đó mục tiêu quản trị rủi ro cần đảm bảo là:
Bảo vệ CTCK khỏi các rủi ro về thị trường, tín dụng, thanh khoản, hoạt
động, pháp lý. Bảo vệ ngành tài chính trước các rủi ro hệ thống là các rủi ro từ
nền kinh tế, chính sách tài khóa, tỷ giá…
Bảo vệ khách hàng của CTCK khỏi các thiệt hại trước các rủi ro phi hệ
thống như gian lận, biển thủ…
Bảo vệ CTCK và các đại diện giao dịch trước các rủi ro về danh tiếng.
Những mục tiêu trên nhằm giúp CTCK quản trị và kiểm soát rủi ro hiệu
quả, mang lại ổn định cho doanh nghiệp và niềm tin cho nhà đầu tư. Mục tiêu
quản trị rủi ro không phải là hạn chế toàn bộ các rủi ro mà nhằm xác định mức
rủi ro phù hợp cho CTCK, đảm bảo CTCK kiểm soát được rủi ro.
Nguyên tắc của quản trị rủi ro
Một trong những nguyên tắc mà quản trị rủi ro cần quan tâm nhất đó là
không chấp nhận các rủi ro không cần thiết. Ngoài ra, trong công tác quản trị rủi
ro thì phải phân cấp thích hợp để ra các quyết định quản trị, chấp nhận rủi ro khi
lợi ích đạt được nhiều hơn chi phí phải bỏ ra. Đồng thời phải kết hợp quản trị rủi
ro vào vận hành và hoạch định ở mọi cấp độ.
Quy trình quản trị rủi ro
Bước 1: Xây dựng và kiểm soát tuân thủ các quy định về quản lý rủi ro
Phòng kiểm soát nội bộ (hoặc bộ phận quản lý rủi ro) xây dựng và kiểm
soát việc tuân thủ các quy định về quản lý rủi ro từ Hội sở chính đến chi nhánh.
Đồng thời, thực hiện báo cáo về việc tuân thủ các quy định về quản lý rủi ro cho
Tổng giám đốc và Hội đồng quản trị.

Căn cứ vào báo cáo rủi ro đã được Ban lãnh đạo phê duyệt, phòng kiểm
soát nội bộ có thông báo gửi các đơn vị kinh doanh, các chi nhánh về thực trạng
và các biện pháp cần thiết để quản lý rủi ro. Đồng thời, định kỳ hoặc đột xuất
(theo ý kiến chỉ đạo của Ban lãnh đạo) tiến hành kiểm tra việc tuân thủ các quy
định về quản lý rủi ro và đề xuất các biện pháp cần thiết trình Ban lãnh đạo.
Bước 7: Lưu hồ sơ
Trách nhiệm thực hiện: phòng kiểm soát nội bộ.
Điều kiện quản trị rủi ro thành công tại CTCK
CTCK phải có chiến lược quản trị rủi ro nghiêm túc.
CTCK phải thiết lập được một hệ thống kiểm soát nội bộ đủ mạnh và xây
dựng được các quy trình, quy chế nội bộ về quản trị rủi ro.
CTCK phải tổ chức thực hiện quản trị rủi ro rõ ràng. Cụ thể từ việc xây
dựng cơ cấu các phòng ban, sự phân tách trách nhiệm giữa các phòng ban, giữa
bộ phận kinh doanh và các bộ phận quản trị rủi ro cũng như bộ phận xử lý rủi ro.
Ngoài ra, còn có thể xây dựng hạn mức rủi ro có thể áp dụng cho từng loại rủi ro,
từng dòng sản phẩm, từng sản phẩm, từng nhóm nhân viên đầu tư, từng nhân
viên đầu tư và từng địa bàn hoạt động (chi nhánh).
CTCK phải có đội ngũ nhân viên trình độ chuyên môn cao, đạo đức nghề
nghiệp tốt.
CTCK phải có hệ thống cơ sở vật chất, máy móc, kỹ thuật hiện đại nhằm
nâng cao chất lượng dịch vụ và giảm thiểu rủi ro.
TÓM TẮT CHƯƠNG 1
Chương 1 trình bày tổng quan về CTCK, qua đó tìm hiểu được đặc điểm,
Nguyễn Thị Hồng
Lớp: CKA – K12
17
Chuyên đề tốt nghiệp
các nghiệp vụ cơ bản và vai trò của một CTCK. Bên cạnh đó, chương 1 cũng
đưa ra khái niệm cơ bản về quản trị rủi ro, khái niệm, mục tiêu và các nguyên tắc
của quản trị rủi ro. Đây là cơ sở quan trọng cho việc đánh giá thực trạng quản trị

thị trường truyền thống cũng như các lĩnh vực kinh doanh khác mà các bên cùng
quan tâm.
- Tháng 11/2009, WSS thực hiện chào bán 19,8 triệu cổ phiếu ra công
chúng tăng, tăng vốn Điều lệ từ 168 tỷ đồng lên 366 tỷ đồng.
Nguyễn Thị Hồng
Lớp: CKA – K12
19
Chuyên đề tốt nghiệp
- Ngày 15/12/2009, WSS chính thức niêm yết 16,8 triệu cổ phiếu trên
SGDCK Hà Nội.
- Ngày 1/6/2010, chinh nhánh Sài Gòn của chứng khoán phố Wall chính
thức khai trương tại địa chỉ số 255 Trần Hưng Đạo, Quận 1, TP. HCM.
- Ngày 9/7/2010 công ty cổ phần chứng khoán phố Wall ( WSS ) ký kết
thỏa thuận hợp tác toàn diện với công ty chứng khoán Alba-ace ( Nhật Bản ).
- Ngày 8/8/2010, chứng khoán phố Wall khai trương phòng Giao dịch Hoàn
Kiếm tại địa chỉ 46 Ngô Quyền, Hà Nội.
- Ngày 25/01/2011, WSS được ủy ban chứng khoán Nhà nước cấp Giấy
phép điều chính – Giấy phép thành lập và hoạt động công ty chứng khoán số
07/GPĐC – UBCKNN với số vốn điều lệ là 503.000.000.000 đồng.
2.1.2. Triết lý kinh doanh
Bằng sức mạnh trí tuệ, công nghệ thông tin hiện đại, vốn và tinh thần đoàn
kết cuả tập thể cán bộ công nhân viên, WSS sẽ không ngừng phấn đấu để mang
lại cho khách hàng những giá trị nổi trội thông qua các dịch vụ hoàn hảo nhất với
phương châm thành công của khách hàng là sự thành công của WSS.
2.1.3. Mô hình tổ chức
Nguyễn Thị Hồng
Lớp: CKA – K12
20
Chuyên đề tốt nghiệp
Sơ đồ 2.1: Cơ cấu tổ chức WSS


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status