Khảo sát tương tác bất lợi trong kê đơn điều trị tại các khoa tim mạch, tiêu hóa, tiết niệu bệnh viện hữu nghị - Pdf 30

BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Dược HÀ NỘI
ĐỖ THỊ HỒNG GAM
KHẢO SÁT TƯƠNG TÁC BẤT LỢI TRONG KÊ ĐƠN
ĐIỂU TRỊ TẠI CÁC KHOA TIM MẠCH - TIÊU HOÁ -
TIẾT NIỆU BỆNH VIỆN HỮU NGHỊ
( KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP Dược SỸ KHOÁ 1999 - 2004)
Người hướng dẫn : Th.s Nguyễn Thị Liên Hương
Th.s Hoàng Thị Minh Hiên
Nơi thực hiện : Bênh viên Hữu Nghị
Thời gian thực hiện : 01/2004 - 05/2ÓỚ4
V. v \Ể V ị* Ị
Hà Nội 05/2004
b ẻ ữ c A m m
Tôi xin trân trọng1 gử i lờ i cảm ơn chan thành và sâu sắc
tớ i:
Th.s N gu yễn Thị L iên H ương - Bộ m ôn Dược lâm sáng'
trường" đại học Dược Hà nội
Th.s H oàn g Thị M inh H iền - Trưởng khoa Dược bệnh
viện Hữu N ghị Hà nội
Là những' người đẫ trực tiếp hương’ dẩn tôi trong quả trình
thực hiện khoá luận n ày
Tôi cũng1 xin gử i lờ i cảm ơn tới:
- Ban giam hiệu, phòng đào tạo, bộ môn Dược lâm sáng’,
các th ầy cô và cấc bạn .
- Ban giấm đốc, phòn g kê'hoạch tổng1 hợp, tập th ể cán bộ
khoa Dược bệnh viện Hữu N ghị
đã tạo điều kiện và n hiệt tình giú p đỡ tôi hoàn thành khoấ
luận này.
Hà n ộ i, tháng 5 nầm 2004
sv. Đ ỗ Thị Hồng Gấm

CHÚ GIẢI CHỮ VIẾT TẮT
BN
Bệnh nhân
CYP
CytocromP450
ĐTĐ
Đái tháo đường
ĐTN
Đau thắt ngực
NSAID
Thuốc giảm đau chống viêm phi steroid
TB
Trung bình
TBMMN
Tai biến mạch máu não
THA
Tăng huyết áp
TMCBCT
Thiếu máu cục bộ cơ tim
TT
Thứ tự
TÍT
Tương tác thuốc
SỐTT
Số tương tác
UCMC
ức chế men chuyển
WHO
Tổ chức y tế thế giới
YTNC

- Khảo sát tương tác bất lợi trong đơn thuốc có dùng kháng sinh trên 332 bệnh nhân
tại các khoa: Tiết niệu, Chấn thương, Tiêu hoá - bệnh viện Hai Bà Trưng Hà Nội
(năm 1995) thấy tỉ lệ đơn có tương tác chiếm trên 50%, nghĩa là cứ 2 đơn thuốc
được kê thì có một đơn có ít nhất một tương tác trở lên. Kiểu tương tác thường gặp
phần lớn là của kháng sinh (88,84%), trong đó tương tác giữa kháng sinh với kháng
sinh chiếm 79,43%. Các tương tác phát hiện dựa trên phần mềm Incompatex của
Pháp(1998)[13]
- Phân tích đơn điều trị viêm loét dạ dày tá tràng tại một bệnh viện tuyến trung ương
năm 1999 thấy tỉ lệ đơn thuốc có tương tác bất lợi là 35,21%, tương tác gây ra bởi
các Antacid rất cao (92,86%), tương tác do các nhóm thuốc điều trị bệnh mắc kèm
chiếm 9,24%. Tác giả sử dụng phần mềm duyệt tương tác thuốc MIMS
interactive(1998) [8]
1.2. TƯƠNG TÁC DƯỢC Lực HỌC
Tương tác dược lực học là tương tác xảy ra tại các Receptor, các đích tác dụng
dẫn đến sự thay đổi về cường độ tác dụng hoặc độc tính của thuốc.
Tương tác dược lực học gồm: tương tác hiệp đồng và tương tác đối kháng.
1.2.1. Tương tác hiệp đồng
Tương tác hiệp đồng là các tương tác xảy ra tại các Receptor khác nhau
nhưng có cùng đích tác dụng. Kết quả này thường được lợi dụng nhằm tăng tác
dụng điều trị và giảm tác dụng phụ không mong muốn của thuốc.
Ví dụ: Phối hợp thuốc lợi tiểu với các thuốc chống tăng huyết áp để điều trị bệnh
tăng huyết áp. Phối hợp các kháng sinh có cơ chế tác dụng khác nhau trong điều trị
lao
Tuy nhiên có nhiều phối hợp thuốc gây tương tác bất lợi để lại hậu quả
nghiêm trọng:
- Tương tác bất lợi làm tăng độc tính của thuốc do phối hợp các thuốc có cùng cơ
chê tác dụng hoặc có cùng kiểu độc tính dẫn tới hiệp đổng về tác dụng phụ và độc
tính trên cùng một cơ quan.
3
Ví dự: Phối hợp Gentamicin với Cephalothin là 2 kháng sinh có cùng kiểu độc tính

thu, do tạo lớp ngăn sự tiếp xúc của thuốc với niêm mạc đường tiêu hoá gây cản trở
cơ học, và một số cơ chế khác.
Do thay đổi đô ion hoá của thuốc
- Cơ chế: Sự vận chuyển thuốc qua màng sinh học chủ yếu theo cơ chế khuyếch tán
thụ động, do đó phụ thuộc vào hệ số phân bố lipid/nước của thuốc. Những thuốc tồn
tại dưới dạng không ion hoá mới phân tán tốt trong lipid nên dễ dàng qua màng theo
cơ chế này.
Độ phân li của thuốc có bản chất là acid hay base yếu tuân theo phương trình
HENDERSON_HASSELBACH: pKa = pH + lg[ HA ]/[ H+ ]
pKb = pH + lg [H+ ]/[ HA ]
Như vậy những thuốc có bản chất acid yếu có xu hướng hoà tan và hấp thu
tốt hơn trong môi trường acid và ngược lại với thuốc có bản chất là base yếu. Do đó
việc thay đổi môi trường của một thuốc do thuốc phối hợp gây ra sẽ làm thay đổi
hấp thu của thuốc.
- Ví dụ: Ketoconazol là thuốc điều trị nấm có hoạt phổ rộng, hấp thu tốt nhất ở pH
acid, pH tăng sẽ làm giảm hấp thu thuốc, nếu uống cùng một lúc 2 thuốc Antacid và
Ketoconazol sẽ kéo dài thời gian rã của Ketoconazol, vì vậy trong trường hợp phải
uống cả 2 thuốc nên uống Ketoconazol trước Antacid ít nhất 2 giờ dể tránh tương tác
- Ý nghĩa lâm sàng: Trên thực tế, các tương tác có ý nghĩa lâm sàng do cơ chê này
rất hiếm khi xảy ra, có thể hạn chế tương tác bằng cách điều chỉnh thời gian uống
thuốc, thường uống 2 thuốc cách nhau ít nhất 2 giờ.
Do thay đổi nhu đông đường tiêu hoá
- Cơ chế: Sự hấp thu thuốc xảy ra phần lớn ở ruột non nên các thuốc làm thay đổi sự
tháo rỗng của dạ dày đều ảnh hưởng đến hấp thu của thuốc phối hợp. Thuốc có tác
dụng làm tăng nhu động đường tiêu hoá sẽ tống nhanh thuốc phối hợp với nó ra khỏi
dạ dày, có lợi cho việc hấp thu thuốc ở ruột, ngược lại, thuốc bị tống nhanh ra khỏi
ruột sẽ bị giảm hấp thu. Vì lí do này, cần lưu ý khi phối hợp những thuốc kích thích
5
hoặc phong bê thần kinh thực vật với các thuốc khác, đặc biệt là các thuốc tác dụng
kéo dài, thuốc bao tan ở ruột.

kháng sinh 6 giờ hoặc sau 2 giờ.[18]
Do tao lớp ngăn tiếp xúc với niêm mac đường tiêu hoá gãy cản trở cơ hoc.
- Cơ chế: Loại tương tác này thường xảy ra do phối hợp với các thuốc bao che niêm
mạc đường tiêu hoá như: Kaolin, Smecta, Sulcrafat Tương tự như trường hợp trên
có thể tránh tương tác này bằng cách uống 2 thuốc cách nhau 2 giờ.
- Ví dụ: phối hợp Sulcrafat cùng với Ciprofloxacin hoặc Norfloxacin sẽ làm giảm
hấp thu kháng sinh, dẫn đến giảm trên 50% sinh khả dụng của thuốc, vì vậy nên
uống kháng sinh trước Sulcrafat 2 giờ. [20]
Các cơ chế khác.
* Do thay đổi hệ vỉ khuẩn đường ruột
- Cơ chế: Trong trường hợp dùng kháng sinh dài ngày có thể tiêu diệt vi khuẩn cộng
sinh sống trong ruột già, điều này có ảnh hưởng tới dược động học của một số thuốc.
- Ví dụ: Dùng kháng sinh Macrolid (Clarithromycin) kết hợp với Digoxin thấy có
hiện tượng tăng hấp thu Digoxin, nguyên nhân do kháng sinh đã làm thay đổi hệ vi
khuẩn chí trong ruột, tương tác này có thể kéo dài vài tuần đến vài tháng sau khi
ngừng dùng kháng sinh.
- Ý nghĩa lâm sàng: Tương tác này rất hiếm khi xảy ra trên lâm sàng, nếu có thường
xảy ra với những thuốc không hấp thu hoàn toàn ở dạ dày hoặc những thuốc chuyển
hoá qua gan lần đầu, do đó thời gian để xảy ra tương tác thường rất lâu, có khi kéo
dài tới vài tuần
* Do thuốc làm tổn thương niêm mạc dường tiêu hoá
- Cơ chế: Những thuốc làm tổn thương niêm mạc đường tiêu hoá có thể làm giảm
hấp thu một số thuốc.
- Ví clụ: Trong liệu pháp điều trị ung thư bởi một số thuốc như: Cyclophosphamid,
vincristin mà phối hợp thêm với viên nén Digoxin thì Digoxin bị giảm hấp thu,
7
khắc phục tương tác này bằng cách dùng dạng bào chế có sinh khả dụng cao khác
như: viên nang, elixir.
1.3.2. Tương tác trong quá trình phân bô
- Cơ chế: Sau khi được hấp thu, thuốc nhanh chóng phân bô vào cơ thể thông qua

Thuốc có thể chuyển hoá ở thận, ruột hay huyết tương nhưng gan là nơi chủ yếu xảy
ra quá trình chuyển hoá.
Chuyển hoá thuốc ở gan có 2 pha, pha I bao gồm các phản ứng oxy hoá khử,
hydroxyl hoá. Pha II gồm các phản ứng liên hợp với glucuronic, glycin, sulfat.
Thuốc sau khi được chuyển hoá ở pha I sẽ phân cực hơn do đã được gắn một
nguyên tử oxy vừa được hoạt hoá nên chất chuyển hoá tăng tính ưa nước hơn, khó
khuyếch tán qua màng, dễ thải trừ. ở pha II thuốc liên hợp với acid glucoronic của
cơ thể dể tạo thành chất chuyển hoá có tính acid rõ rệt, rất tan trong nước.
Khi phối hợp các thuốc chuyển hoá ở pha I với các thuốc có khả năng cảm
ứng hoặc kìm hãm men gan sẽ gây ra tương tác thuốc, thuốc cảm ứng men gan làm
tãng chuyển hoá của thuốc chuyển hoá ở pha I dẫn tới hậu quả làm giảm nồng độ
trong huyết tương, giảm tác dụng của thuốc. Ngược lại, nếu phối hợp với thuốc kìm
hãm men gan sẽ làm tăng nồng độ và độc tính của thuốc.
* Hiên tương cảm ứng men gan: là hiện tượng tăng sinh tổng hợp protein làm
tăng chuyển hoá thuốc. Do có liên quan đến việc tăng sinh tổng hợp protein nên
tương tác thuốc thường xảy ra chậm có khi tới 3 tuần sau khi dùng thuốc phối hợp
mới xuất hiện tương tác. Khi ngừng dùng thuốc có khả năng kích thích enzym. nồng
độ của thuốc bị chuyển hoá bởi enzym đó tăng lên, nếu không điều chỉnh lại liều sẽ
có nguy cơ gây ngộ độc thuốc do quá liều.
* Hiên tương ức chế men gan: là kết quả của sự cạnh tranh giữa 2 thuốc trên vị
trí liên kết của enzym. Vì cạnh tranh trực tiếp nên thời gian xuất hiện tương tác khá
nhanh, chỉ trong vòng vài giờ (trừ những thuốc có thời gian bán thải dài). Tương tác
này thường làm tăng nồng độ của thuốc trong huyết tương, tăng tác dụng dược lí và
tác dụng không mong muốn.
9
Trong cơ thể con người, hệ CytP450 (chất màu hấp thu ánh sáng ở bước sóng
450 nm) đóng vai trò chính trong các phản ứng của pha I, nó có nhiều trong các tê
bào, trong microsom gan, ngoài ra còn có ở ruột, thận, phổi, não với số lượng ít hơn.
Theo ước tính, trong cơ thể con người có từ 20 đến 200 CYP khác nhau. Các
isoenzym chính đóng vai trò quan trọng trong chuyển hoá thuốc là: CYP3A, CYP

CYP1A2: là enzym chuyển hoá quan trọng ở gan mà nhiều thuốc như Theophylin,
Imipramin, Propranolol và Clozapin cần nó xúc tác để chuyển hoá. Thuốc lá là một
nhân tố có khả năng kích thích enzym CYP1A2 do đó làm tăng độ thanh thải của
các thuốc trên. Vì vậy với những người hút thuốc lá cần dùng liều cao hơn, nhưng
nếu những người này ngừng hút thuốc thì phải dùng liều thấp hơn. Các chất ức chê
CYPlA2gồm: Fluoroquinolon.
Nếu một thuốc được chuyển hoá bởi một enzym đặc hiệu và phối hợp thêm
với một thuốc khác có khả năng ức chế hay kích thích enzym đó thì rất dễ xảy ra
tương tác. Ngoài ra, phối hợp 2 thuốc cùng được chuyển hoá bởi một isoenzym có
thể cạnh tranh dẫn tới tăng nồng độ của một hoặc cả 2 thuốc đó
Sự chuyển hoá của một thuốc thường liên quan tới nhiều isozym, một thuốc
là chất ức chê enzym này nhưng lại bị chuyển hoá bởi enzym khác. Ví dụ như
Quinidin bị chuyển hoá bởi CYP3A4 nhưng có khả năng ức chê CYP2D6. Tuy
nhiên tương tác chỉ xảy ra khi cả 2 thuốc cùng liên kết với một isozym. Các thuốc
kích thích, kìm hãm và chuyển hoá qua các isozym cụ thể được trình bày trong phụ
lục 2.
1.3.4. Tương tác trong quá trình thải trừ thuốc.
Phối hợp thuốc có thể làm tăng hoặc giảm thải trừ của một trong số các thuốc
đó qua thận. Các cơ chế liên quan tới tương tác thuốc ảnh hưởng tới thải trừ thuốc ở
thận bao gồm: do thay đổi pH nước tiểu, do ảnh hưởng đến cơ chế trao đổi chất ở
ống thận.
• Do thay đổi pH nước tiểu.
- Cơ chê: Cùng với sự hấp thu trong ruột, việc tái hấp thu thụ động của thuốc phụ
thuộc vào dạng ion hoá của thuốc, điều này phụ thuộc vào pKa và pH của nước tiếu.
Chỉ những dạng không ion hoá (tan trong lipid) mới có khả năng khuyếch tán trở lại
11
tế bào ống thận. Vì vậy ở pH kiềm, các thuốc có bản chất là acid yếu tồn tại dưới
dạng các ion (không tan trong lipid) không có khả năng khuyếch tán trở lại nên bị
thải trừ vào nước tiểu, và ngược lại, ở pH acid các thuốc có bản chất là base yếu dễ
bị thải trừ.

- Khuynh hướng chung của người cao tuổi là giảm hấp thu thuốc do diện tích hầp
thu giảm, giảm tốc độ tháo sạch của dạ dày, pH dạ dày tăng
- Lượng protein huyết tương (chủ yếu là các Albumin) giảm làm cho các thuốc có
bản chất acid ở dạng tự do tăng, có nguy cơ gây độc.
- Ở người cao tuổi, khối lượng gan, lưu lượng máu tới gan và một số enzym chuyển
hoá thuốc đều giảm kéo theo sự giảm thải các thuốc như: NSAID, ức chê men
chuyển
- Trong quá trình lão hoá, hình thái và chức năng thận có những biến đổi rõ rệt Khôi
lượng thận giảm, lun lượng máu qua thận giảm, ở cơ chế thải trừ thuốc là: Lọc qua
tiểu cầu thận, thải qua tế bào của biểu mồ ống thận, tái hấp thu qua tê bào biểu mô
ống thận đều giảm làm cho thời gian bán thải Tị/ 2 của nhiều thuốc ở huyết tương kéo
dài gây tăng tác dụng và độc tính của thuốc.
Tóm lại, những đặc điểm về dược lực học và dược động học ở người cao tuổi
cộng với những tổn thương lưu cũn của quá trình bệnh lí kéo dài trong suốt cuộc đời
làm giảm sút các nhu mô và các tế bào có hoạt tính khiến cho người già dễ nhạy
cảm hơn với độc tính của thuốc.
Ngoài ra, người cao tuổi là đối tượng đa bệnh lí, phải sử dụng nhiều loại
thuốc khác nhau trong thời gian dài cũng là yếu tố thúc đẩy cho tương tác bất lợi
của thuốc - thuốc.
Ở các nước phát triển, người già trên 60 tuổi tiêu thụ hơn một nửa sô thuốc
trên thị trường, 80% người già trên 65 tuổi dùng ít nhất một loại thuốc trong ngày và
khoảng 40% trong số đó phải dùng ít nhất 5 loại thuốc một ngày. Theo thống kê thì
cứ 4 người già thì có một người gặp tai biến do dùng thuốc.
Tất cả những lí do trên đòi hỏi chúng ta cần quan tâm hơn nữa tới việc dùng
thuốc cho lứa tuổi thứ ba này.
13
1.5. ĐÔI NÉT GIỚI THIỆU VỂ PHAN MEM MIMS INTERACTIVE VÀ
CÁC TÀI LIỆU TRA CỨU TƯƠNG TÁC THUỐC
1.5.1. Phần mềm MIMS interactive.
Đây là phần mềm tham khảo có giá trị và đáng tin cậy về các thuốc đang lưu

: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN cứu
2.1. Đối tượng nghiên cứu
Bệnh án của các bệnh nhân được điều trị nội trú tại 3 khoa: Tim mạch, Tiêu
hoá, Tiết niệu của bệnh viện Hữu Nghị từ 01/1/2003 - 31/12/2003
2.2 . Phương pháp nghiên cứu
- Khảo sát hồi cứu trên các bệnh án của bệnh nhân điều trị nội trú ở 3 khoa Tim
mạch, Tiêu hoá, Tiết niệu lưu trữ tại phòng Lưu trữ hổ sơ của bệnh viện
- Số liệu mỗi bệnh án được ghi vào Phiếu khảo sát tương tác bất lợi trong kê dơn
điều trị tại bệnh viện Hữu Nghị năm 2003 (Phụ lục sốl)
2.2.1 Phương pháp lấy mẫu
- Lấy mẫu theo công thức sau:
Trong đó
n : cỡ mẫu cần cho nghiên cún
Z(| a/2 ) : phụ thuộc vào hệ số tin cậy (1- a ) tra trong bảng tính sẵn
p : tỉ lệ ước tính dựa trên nghiên cứu trước đó hoặc nghiên cứu thử. Trong
trường hợp thông tin này không được biết ta gán cho p = 0.5 khi đó P( 1-P) là
lớn nhất
d: khoảng cách sai lệch cho phép giữa tỉ lệ thu được từ mẫu và tỉ lệ của quần
thể , d có thể là tương đối hoặc tuyệt đối
Với d = 5%, a = 95% —>Z(I_ 0 /2 ) = 1-96, gán cho p = 0.5—> áp dụng công
thức trên có:
—> n =390 ( bệnh án)
- Chia đều số bệnh án cho 3 khoa, mỗi khoa chúng tôi rút 130 bệnh án theo phương
pháp lấy mẫu hệ thống
15
2.2.2 Đánh giá kết quả nghiên cứu
- Phát hiện tương tác: Mỗi bệnh án chúng tôi chọn ra một đơn điều trị dài ngày nhất,
các đơn thuốc này được nhập vào phần mềm MIMS interactive để duyệt tương tác
thuốc.
- Phân loại tương tác: các cặp tương tác sẽ được phân loại dựa trên cơ chế và mức ý

SỐBN
Tỷ lệ
SỐBN
Tỷ lệ
tu ổ i\
(n=130)
(%)
(n=130)
(%)
(n=130)
(%)
(n=390)
(%)
45-59
14 10,8 29
22,3 23
17,7
66
16,9
60-74 74
57,0 76
58,5 72
55,4
56,9
75-89 41 31,5
25
19,2 34 26,2
100
25,6
>90 1

(%)
SỐBN
(n=130)
Tỷ lệ
(%)
SỐBN
(n=390)
Tỷ lệ
(%)
Nam 118
90,8 115 88,4
127
97,7
360
92,3
Nữ 12
9,2 15
11,6 3 2,3
30
7,7
92.3% nam
^

7.7% nữ
Hình 2 - Tỉ lệ (%) bệnh nhân theo giói tính
Nhân xét chunẹ:
- Mẫu nghiên cứu có tổng số bệnh nhân là 390 phân bô ở 3 khoa, trong đó bệnh
nhân ở lứa tuổi 60->74 (người cao tuổi) là đông nhất (trung bình 56,97%), lứa tuổi
người cao tuổi (75->89) chiếm 25,56%.
- Đặc điểm về giới: nam giới chiếm đa số trong mẫu nghiên cứu với tỉ lệ trung bình

8,6
5 Bệnh khác
11
8,6 Ị
Nhân xét:
- Số lượng bệnh nhân nhập viện vì bệnh tăng huyết áp có tí lệ cao nhất trong mẫu
nghiên cứu (50,71%), tiếp theo tai biến mạch máu não (17,14%).
- Trên thực tê có tới 90% đến95% các trường hợp THA vô căn [2] và Nam > 65 tuổi.
Nữ > 55 tuổi là một trong những YTNC. Tuổi cao là nguyên nhân gây xơ cứng
thành động mạch, làm tăng sức cản ngoại vi chính là tác nhân gây THA
3.1.2.2. Khoa Tiêu hoá
Cắc bệnh hay gặp trong khoa tiêu hoá được tóm tắt trong bảng 4.
Nhân xét:
Các bệnh lí trong khoa tiêu hoá rất đa dạng, trong đó viêm loét dạ dày tá
tràng và xuất huyết tiêu hoá là 2 bệnh chủ yếu gặp ở mẫu nghiên cứu. Loét dạ dày -
tá tràng là bệnh phổ biến trên thế giới và Việt Nam, hiện nay có khoảng 10% dân
chúng trên thế giới bị loét dạ dày tá tràng và ở Việt Nam chiếm 3% - 4% dân số.
Xuất huyết tiêu hoá là một trong những biến chứng của loét cỉạ dày tá tràng.
19
Bảng 4 - Tỉ lệ (%) bệnh nhân theo nhóm bệnh ỏ'khoa Tiêu hoá
TT
Tên bệnh
Sô BN
(n=130)
Ti Iệ(%) 1
i
1 Viêm loét dạ dày tá tràng
22
17,0 1
2 Xuất huyết tiêu hoá

24,8
4 Suy thận
14
10,6
!!
Bệnh khác
18

.

.
-

1
14,2
20
Nhãn x é t:
Bệnh về tuyến tiền liệt rất phổ biến ở nam giới cao tuổi đặc biệt là bệnh phì
đại tiền liệt tuyến. Có khoảng 50% nam giới trên 50 tuổi và 75% số đàn ông trên 80
tuổi mắc bệnh này [2], Kết quả khảo sát trình bày trong bảng 5 cho thấy bệnh có
liên quan đến tuyến tiền liệt chiếm tỉ lệ lớn nhất (39.72%) sau đó là bệnh nhiễm
khuẩn tiết niệu ( 10,64%).
Nhân xét chung về mô hình bênh tât:
- So sánh kết quả khảo sát ở trên và nghiên cứu của nhóm bác sĩ bệnh viện Hữu
Nghị năm 1998-2001 [12,460] chúng tôi thấy: trong những năm gần đây mô hình
bệnh tật của bệnh viện tương đối ổn định. Khoa Tim mạch tập trung chủ yếu bệnh
tăng huyết áp, tai biến mạch máu não. Viêm loét dạ dày tá tràng và xuất huyết tiêu
hoá vẫn là các bệnh điển hình ở khoa tiêu hoá. Khoa tiết niệu chủ yếu hay gặp các
bệnh về tuyến tiền liệt, nhiễm khuẩn tiết niệu.
- Vì người cao tuổi là đối tượng đa bệnh lí nên ngoài các bệnh chính họ còn mắc

Imdur
20
30
69
50
53,0
38.5
4
ức chế men
chuyển
Captopril
Perindopril
Capoten
Coversyl
25
4
69
53,1
5
Chống co thắt
mạch não và ngoại
vi
Piracetam
Cinnarizin
Piracetam
Stugeron
400
25
30
50

Nifedipin
Felodipin
Adalat
Plendil
20; 10
5
20

15,
í
li

9
ịi
í
1
___
Kháng Histamin
Promethazin Phenergan 10
13 10,0 ỉ
22


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status