BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ðẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
NGUYỄN THỊ THƠM
SO SÁNH MỘT SỐ ðẶC ðIỂM BỆNH LÝ CỦA BỆNH PHÂN
TRẮNG LỢN CON Ở LỢN RỪNG NUÔI, LỢN ðỊA PHƯƠNG
(LỢN MÁN), LỢN HƯỚNG NẠC TẠI TỈNH HÀ GIANG
LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP
MÃ SỐ : 60.64.01.01 NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
:
PGS.TS. NGUYỄN HỮU NAM
HÀ NỘI - 2013
Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp
i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu và
kết quả trình bày trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong
bất kỳ công trình nào khác.
Tôi xin cam đoan rằng mọi việc sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này
đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ
nguồn gốc. Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Thơm
Nhân dịp này, tôi gửi lời cảm ơn tới các thầy cô giáo giảng dạy chương trình
cao học, các bạn bè đồng nghiệp, gia đình đã giúp đỡ tạo điều kiện để tôi hoàn
thành bản luận văn.
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Thơm
Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp
iii
MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục bảng v
Danh mục hình vi
Daanh mục chữ viết tắt vii
MỞ ðẦU 1
CHƯƠNG I : TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1. CÁC GIỐNG LỢN VÀ TÌNH HÌNH CHĂN NUÔI LỢN Ở HÀ
GIANG 4
1.1.1. Giống lợn địa phương (lợn Mán) 4
1.1.2. Giống lợn rừng 4
1.2. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ VI KHUẨN E.COLI GÂY
Mán) mắc bệnh PTLC 45
3.3.4. Kết quả khảo sát chỉ tiêu bạch cầu ở lợn địa phương mắc bệnh PTLC 46
3.3.5 Kết quả khảo sát một số chỉ tiêu huyết học của lợn hướng nạc 2
tuần tuổi mắc bệnh PTLC 49
3.3.6. Kết quả so sánh số lượng hồng cầu và bạch cầu của 3 nhóm lợn
mắc bệnh PTLC 52
3.4. KẾT QUẢ XÁC ĐỊNH TRIỆU CHỨNG, BỆNH TÍCH CHỦ
YẾU CỦA LỢN MẮC BỆNH PHÂN TRẮNG LỢN CON 53
3.4.1 Kết quả xác định triệu chứng lâm sàng chủ yếu của lợn mắc bệnh
PTLC 53
3.4.2 Kết quả xác định bệnh tích đại thể chủ yếu của lợn mắc bệnh
sPTLC 55
3.5. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU BỆNH TÍCH VI THỂ CỦA RUỘT VÀ 56
KẾT LUẬN VÀ ðỀ NGHỊ 62
TÀI LIỆU THAM KHẢO 63
Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp
v
DANH MỤC BẢNG
STT TÊN BẢNG TRANG
Bảng 3.1 .Kết quả theo dõi tỷ lệ mắc bệnh phân trắng lợn con ở lợn rừng
nuôi năm 2012 (%) 28
Bảng 3.2. Kết quả theo dõi tỷ lệ mắc bệnh phân trắng lợn con ở lợn địa
phương (lợn Mán) năm 2012(%) 30
Bảng 3.3: Kết quả theo dõi tỷ lệ mắc bệnh phân trắng lợn con ở lợn hướng
nạc tại tỉnh Hà Giang 32
Bảng 3.4 . Kết quả so sánh tỷ lệ mắc bệnh phân trắng lợn con ở 3 nhóm lợn 36
Bảng 3.5. Kết quả xác định một số chỉ tiêu hệ hồng cầu của lợn rừng nuôi
mắc bệnh PTLC 40
lợn địa phương (lợn Mán) năm 2012 31
Hình 3.3a: Biểu diễn tỷ lệ mắc bệnh phân trắng lợn con theo ngày tuổi ở
trại nuôi lợn hướng nạc năm 2012 (%) 32
Hình 3.3b: Biểu diễn tỷ lệ mắc bệnh phân trắng lợn con theo ngày tuổi ở
lợn hướng nạc năm 2012 (%) 33
Hình 3.4.a: Biểu diễn tỷ lệ mắc bệnh phân trắng lợn con ở 3 nhóm lợn 36
Hình 3.4b: Biểu diễn tỷ lệ mắc bệnh phân trắng lợn con ở 3 nhóm lợn 37
Hình 3.5a: Công thức bạch cầu lợn đối chứng 43
Hình 3.5b: Công thức bạch cầu lợn bệnh 44
Hình 3.6a: Công thức bạch cầu lợn mắc bệnh 48
Hình 3.6b: Công thức bạch cầu lợn đối chứng 48
Hình 3.7a Công thức bạch cầu của lợn hướng nạc mắc PTLC 51
Hình 3.7b Công thức bạch cầu của lợn hướng nạc đối chứng 51
Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp
vii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
AEEC : Adhrica Enterophathogenic E.coli
Colv : Colicin V phasmid
EPEC : Enteropathogenic E.coli
ETEP : Enterotoxigenic E.coli
ED : Edema Disease
EDP : Edema Disease Producing
Ent : Enterotoxin
Hly : Haemolysin
Ig : Immunoglobulin
LT : Liable Heat Toxin
VTEC : Verotoxigenic E.coli
nhỏ đến hiệu quả chăn nuôi. Một trong những bệnh gây thiệt hại kinh tế cao cho
các cơ sở chăn nuôi lợn sinh sản là bệnh phân trắng lợn con ở giai đoạn từ sơ sinh
đến 21 ngày tuổi. Bệnh sảy ra khắp nơi trên thế giới. Ở các nước đang phát triển
như ở Việt Nam bệnh sảy ra hầu như quanh năm, đặc biệt là khi thời tiết có sự
thay đổi đột ngột (gió lùa, lạnh, ẩm) kết hợp với điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng
không đảm bảo hợp vệ sinh; lợn bị ảnh hưởng các yếu tố tress, lợn con sinh ra
không được bú sữa kịp thời hoặc do sữa đầu của mẹ thiếu không đảm bảo chất
dinh dưỡng. Khi lợn con mắc bệnh nếu điều trị kém hậu quả sẽ gây còi cọc và
chậm lớn ảnh hưởng đến giống cũng như khả năng tăng trọng của chúng, gây tổn
thất về kinh tế. Do đó, phòng tiêu chảy cho lợn con góp phần làm tăng hiệu quả
chăn nuôi lợn sinh sản, đảm bảo cung cấp con giống có chất lượng tốt.
Cùng với sự phát triển chung của cả nước, ngành chăn nuôi của tỉnh Hà
Giang cũng đã có những bước phát triển cả về chất lượng, số lượng, nhiều tiến bộ
khoa học kỹ thuật mới đã được áp dụng vào sản xuất. Để đạt được các mục tiêu
nghị quyết đề ra tỉnh đã có các chủ trương đầu tư con giống, thức ăn công nghiệp,
phát triển mạng lưới thú y đến cấp xã, phường. Trong chăn nuôi lợn, cùng với
việc đưa các giống lợn ngoại có năng suất cao vào nuôi, người dân bản địa vẫn
Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp
2
giữ được truyền thống nuôi giống lợn địa phương (lợn Mán). Ngoài ra ở Hà
Giang hiện nay đã có nhiều trang trại đưa giống lợn rừng vào chăn nuôi. Hiện
nay ở Hà Giang đã hạn chế được một số loại bệnh truyền nhiễm, như các bệnh
“đỏ”, bằng kế hoạch tiêm phòng vacxin định kỳ hàng năm, bệnh xoắn khuẩn, một
số bệnh ký sinh trùng đường máu.
Song song với sự phát triển chăn nuôi thì tình hình dịch bệnh cũng đang
diễn biến hết sức phức tạp gây thiệt hại lớn về kinh tế cho các hộ chăn nuôi.
Trong đó có bệnh phân trắng lợn con là một vấn đề cần được quan tâm, gây ảnh
lớn tới năng suất chất lượng đàn lợn con theo mẹ.
Đã có nhiều công trình nghiên cứu trong nước về hội chứng tiêu chảy ở
trong chăn nuôi.
- Làm cơ sở khoa học cho việc nghiên cứu tiếp theo về đặc điểm bệnh lý nói
chung trong bệnh phân trắng lợn con và hội chứng tiêu chảy của gia súc, đồng
thời góp thêm nguồn tài liệu tham khảo trong việc nghiên cứu và giảng dạy bệnh
ở lợn trong các trường Cao đằng và Đại học đào tạo chuyên ngành Chăn nuôi –
Thú y và Thú y.
NHỮNG ðÓNG GÓP MỚI CỦA ðỀ TÀI
Đây là công trình nghiên cứu đầu tiên, tương đối đầy đủ về đặc điểm bệnh
lý của lợn địa phương (lợn Mán) và lợn rừng nuôi ở Hà Giang.
Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp
4
CHƯƠNG I : TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. CÁC GIỐNG LỢN VÀ TÌNH HÌNH CHĂN NUÔI LỢN Ở HÀ GIANG
Ngành chăn nuôi lợn ở Hà Giang ngày càng chiếm một vị trí quan trọng trong
sản xuất nông nghiệp của tỉnh và nhanh chóng chuyển đổi thành sản xuất hàng hoá.
phân loại động vật thì lợn rừng thuộc giới động vật (Amimalia), ngành dây sống
(Chordata), phân ngành có xương sống (Vertebarata), nhóm động vật có hàm
(Gnathosomata), lớp có vú (Mamalia), phân lớp thú cao hay thú có nhau
(Eutheria), bộ guốc chẵn (Artiodactyla), họ lợn (Sus), loài lợn rừng (Sus Serofa).
Theo nghiên cứu của Trung tâm hợp tác nghiên cứu và phát triển nông
nghiệp quốc tế thì lợn rừng có tới 36 giống. Phổ biến nhất là các giống: Lợn rừng
thần, lợn rừng lông nhím, lợn rừng hươu, lợn rừng sông, lợn rừng lông dài, lợn
rừng Ấn Độ, lợn rừng ria trắng châu phi, lợn rừng Nam Mỹ… được phân bố rất
rộng, hầu như trên khắp thế giới từ châu Âu, châu Á đến châu Mỹ và châu Phi.
Lợn rừng hiện nay được tạp giao với nhiều giống lợn địa phương cho ra nhiều
dòng con lai khác biệt nên hệ thống phân loại còn khá phức tạp.
+ Ngoại hình:
Lợn rừng có dáng thon, cao khoảng 65 – 70cm, một số giống lợn châu Âu
có thể cao tới eo người ( 90- 120cm). Thân hình chắc khỏe, mình mỏng. phần vai
trước thường cao hơn chân sau làm cho hình dáng của lợn rừng vai cao mông
thấp. Mông, bụng gọn, đuôi dài và không bao giờ uốn cong laị như lợn nhà và
luôn ve vẩy. Hai vai và bên trên của hai chân phía trước đều có u hoặc tấm mỡ
sụn lồi ra thành trai cứng. Độ lớn và độ dày của u chai cứng hoặc tấm mỡ sụn này
tăng theo tuổi (3 – 5cm). Mặt lợn rừng dài, tai nhỏ dựng ép sát đầu. Mắt to, lồi,
màu đen, híp phần cuối đuôi mắt, tia nhìn dữ tợn. Mũi lợn rừng mềm nhưng
mạnh khỏe phù hợp với phương thức kiếm ăn trong cuộc sống hoang dã của
chúng là đào bới đất, dũi mô đất để đào bới củ, gốc cây, côn trùng….
Răng nanh là đặc điểm nổi bật của lợn rừng. Răng nanh mọc dài ra khỏi
mõm khi lợn 2- 4 năm tuổi. Lợn rừng có 4 nanh dài, mỗi bên mọc 2 cái, mỗi cái
mọc ở ¼ hàm. Mỗi nanh dài khoảng 10 – 12cm, thậm chí có con sở hữu bộ nanh
cong, to, dài tới 22,8cm. Mỗi bên hàm có một đôi nanh, nanh trên và nanh dưới
khép kín và xếp khít nhau, 2 đầu nah trên khớp với nhau tạo thành đầu nhọn. Mút
đầu răng trên và mút đâu răng dưới thường miết sát lẫn nhau nên 2 nanh giống
như được mài sắc mỗi ngày nên nanh của lợn rừng rất sắc và nhọn, đặc biệt là ở
lợn rừng đực.
nặng tới 200 -350 kg. Con đực thường to hơn con cái 30 – 30 kg. Lợn sơ sinh rất
bé nhỏ, nặng 0,2 – 0,5 kg, dài 15 – 20 cm. Tuổi cai sữa: 55 – 60 ngày tuổi. Trọng
lượng lợn con khi cai sữa là 4 – 5 kg: Tuổi giết thịt có thể tính từ 6 tháng tuổi.
Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp
7
Trọng lượng lúc xuất chuồng thường dao động từ 25 – 50 kg tùy theo nhu cầu
của thị trường.
Tháng tuổi Trọng lượng (kg) Tốc ñộ sinh trưởng (g/ ngày)
0 -2 0,5 - 5 8,33 – 83,3
2 – 4 10 -12 166,66 – 200,00
4 – 6 15 - 20 250, 00 – 416,66
6 – 8 25 - 35 300,00 - 583,33
8 – 10 40 - 50 666, 66 – 833, 33
10 -12 50 70 1000,00 – 1166,66
Tốc độ sinh trưởng (đối với lợn rừng đã và đang nuôi tại Thái Lan và Việt
Nam) chậm (trung bình chỉ đạt khoảng 0,13 – 0,2 kg/ngày).
` Tuổi thọ sinh lý của lợn rừng kéo dài từ 15 năm – 25 năm.
Các đặc điểm về khả năng sinh sản
STT Chỉ tiêu Mức thể hiện
1 Tuổi động dục 6 – 7 tháng tuổi
2 Trọng lượng tuổi động dục lần đầu 18 – 20 kg
3 Tuổi phối giống 7 – 8 tháng tuổi
4 Trọng lượng lúc phối giống 30 – 35 kg
5 Thời gian mang thai 110- 130 ngày
6
Thời gian động dục
2 – 3 ngày (đối với nái tơ)
3 – 4 ngày (đối với nái rạ)
7 Chu kỳ động dục 20 – 22 ngày
đực rừng Việt Nam phối giống với lợn cái F1 (bố lợn rừng Việt Nam, mẹ lợn
Mán) hoặc cái là lợn rừng Thái Lan.
- Lợn rừng Thái Lan: có thân hình thon, mình mỏng, dáng cao, mặt nhọn hình
tam giác, mõm dài, tai dựng đứng, nhỏ, mắt lồi, trông dữ tợn, ở má có vệt lông màu
trắng chạy vắt qua mũi. Mũi rất thính, linh hoạt, mềm nhưng rất khoẻ. Lợn thường
dùng mũi để đào bới tìm thức ăn (Võ Văn Sự, 2005 và Hoà Bình, 2006).
- Lợn rừng Việt Nam: dáng cân đối, nhanh nhẹn, di chuyển linh hoạt, hơi
gầy, dài đòn. Lưng thẳng, bụng thon, chân dài, nhỏ và móng nhọn, cổ dài, đầu nhỏ,
mõm dài và nhọn, tai nhỏ, vểnh và thính, mũi rất thính và khoẻ. Da lông màu hung
nâu, hung đen hay xám đen, một gốc chân lông có 3 ngọn, lông chạy dọc theo sống
lưng và cổ dày, dài và cứng hơn… Vai thường cao hơn mông, đuôi nhỏ, ngắn, chỉ
dài đến kheo. Con đực có răng nanh phát triển, con cái có 2 dãy vú, mỗi dãy 5 núm
vú phát triển và nổi rõ (Đặng Tình, 2007).
Trng i Hc Nụng Nghip H Ni Lun vn thc s khoa hc nụng nghip
9
Ln rng l ng vt hoang dó, khi sng trong iu kin t nhiờn cú sc
khỏng cao, ớt bnh. Tuy nhiờn khi mi c thun hoỏ, c chm súc trong
iu kin khỏc, s lm gim sc khỏng, nờn ln d b bnh. Ln rng cng
thng mc mt s bnh, nh: dch t, t huyt trựng, l mm long múng, bnh
sỏn lỏ, ngoi ký sinh, y hi, tiờu chy, tỏo bún, viờm phi (Kvisna Keo Sa
Um, Phira Krai Xeng Xri, 2005, ng Tỡnh, 2007).
1.2. TèNH HèNH NGHIấN CU V VI KHUN E.COLI GY BNH PHN
TRNG LN CON
1.2.1. Tỡnh hỡnh nghiờn cu trong nc
Vi khuẩn Escherichia coli (E.coli) gây bệnh tiêu chảy và phù đầu ở lợn
con đ có từ rất lâu và ngày càng phổ biến ở các trại chăn nuôi tập trung và trong
nông hộ. Ngày nay, với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, bệnh tiêu chảy và phù
đầu ở lợn con đ đợc khống chế phần nào, nhng việc loại trừ nó trong chăn nuôi
thì hầu hết các nhà nghiên cứu đều cho rằng còn rất nhiều khó khăn không những
chăn nuôi. Nguyễn Thị Nội và cs (1990) đ nghiên cứu chế tạo vacxin Salsco
bằng xác vi khuẩn Salmonella cholerae suis, Streptococcus spp và E.coli để
phòng bệnh tiêu chảy cho lợn, làm giảm tỷ lệ mắc tiêu chảy và chết ở lợn con. Lê
Văn Tạo và cs (1995) đ chế tạo vacxin E.coli cho uống phòng bệnh phân trắng
lợn con, giảm đợc tỷ lệ lợn con mắc bệnh phân trắng từ 31,0 đến 34,6% và tỷ lệ
chết do bệnh này từ 3,6 đến 6,8%.
2.2.2. Tỡnh hỡnh nghiờn cu nc ngoi
Sokol và cs (1979) cho rằng, vi khuẩn E.coli cộng sinh có mặt thờng
trực trong đờng ruột của ngời và động vật, trong quá trình sống vi khuẩn có khả
năng tiếp nhận các yếu tố gây bệnh nh: yếu tố bám dính (K88, K99), yếu tố
dung huyết (Hly), yếu tố cạnh tranh (Colv), yếu tố kháng kháng sinh và độc tố
đờng ruột. Các yếu tố gây bệnh này không đợc di truyền qua DNA của
chromosome mà đợc di truyền bằng DNA nằm ngoài chromosome, gọi là
plasmid. Những yếu tố gây bệnh này đ giúp cho vi khuẩn E.coli bám dính vào tế
bào nhung mao ruột non, xâm nhập vào thành ruột, phát triển với số lợng lớn.
Sau đó vi khuẩn thực hiện quá trình gây bệnh của mình bằng sản sinh độc tố, gây
triệu chứng tiêu chảy, phá hủy tế bào niêm mạc ruột, tế bào nhung mao ruột non.
Fairbrother và cs (1992) đ nghiên cứu các yếu tố gây bệnh ở từng chủng vi
khuẩn E.coli phân lập từ các thể bệnh khác nhau, tác giả đ đặt tên các chủng vi khuẩn
E.coli theo những yếu tố gây bệnh mà chúng có khả năng sản sinh ra nh:
Enterotoxigenic Escherichia coli (ETEC), Enteropathogenic Escherichia coli (EPEC),
Trng i Hc Nụng Nghip H Ni Lun vn thc s khoa hc nụng nghip
11
Verotoxigenic Escherichia coli (VTEC), Adherencia Enteropathogenic Escherichia
coli (AEEC).
Smith (1963), Smith (1967) thông báo có hai loại độc tố là thành phần
chính của Enterotoxin đợc tìm thấy ở các vi khuẩn E.coli gây bệnh tiêu chảy. Sự
khác biệt của hai loại độc tố này là khả năng chịu nhiệt. Độc tố chịu nhiệt (Heat
stable toxin -ST) chịu đợc nhiệt độ 100
12
đường ruột luôn ở thế cân bằng. Sự cân bằng này biểu hiện sự ổn định của môi
trường đường tiêu hoá của con vật và quan hệ cân bằng giữa các nhóm vi sinh vật
với nhau trong hệ vi sinh vật đường ruột. Dưới tác động của các yếu tố, tác nhân
bất lợi nào đó, trạng thái cân bằng này bị phá vỡ, tất cả hoặc một loài nào đó sinh
sản quá nhiều, sẽ gây hiện tượng bội nhiễm dẫn đến sự biến động của họ vi khuẩn
và nhóm vi khuẩn vãng lai. Vi khuẩn gây bệnh nhân cơ hội sẽ tăng mạnh cả về số
lượng lẫn độc lực. Những vi khuẩn có lợi cho quá trình tiêu hoá do không cạnh
tranh nổi sẽ giảm đi. Cuối cùng loạn khuẩn xảy ra, hấp thu rối loạn và hậu quả là
lợn bị tiêu chảy. Vi khuẩn đường ruột có vai trò không thể thiếu được trong hội
chứng tiêu chảy (Hồ Văn Nam và cs, 1997; Archie. H, 2001).
Christian L.L. Lundstom K., 1992; Nelssen J.L và cs, 1992; Hồ Văn Nam
và cs, 1994; Đào Trọng Đạt và cs, 1995; Hồ Văn Nam và cs, 1997 khi nghiên cứu
về hội chứng tiêu chảy ở gia súc, các tác giả thống nhất một quan điểm cho rằng
dù bất cứ nguyên nhân nào dẫn đến tiêu chảy, thì hậu quả của nó bao giờ cũng là
gây viêm nhiễm, tổn thương thực thể đường tiêu hoá và cuối cùng là một “quá
trình nhiễm trùng”. Nói đến vai trò của vi khuẩn gây tiêu chảy ở gia súc là nói đến
hiện tượng “Loạn khuẩn ñường ruột”.
Trong một điều kiện nào đó, dưới tác động của các yếu tố ngoại cảnh như chế độ
chăm sóc nuôi dưỡng, thời tiết khí hậu thay đổi làm cho cơ thể gia súc không thích
ứng được, trạng thái cân bằng khu hệ vi sinh vật đường ruột bị phá vỡ và biến đổi, tất
cả các loại vi khuẩn hay chỉ một loại nào đó sinh sản quá nhiều, sẽ gây ra hiện tượng
“Loạn khuẩn ñường ruột” (Nguyễn Thị Khanh, 1994).
Loạn khuẩn xảy ra khi có thay đổi, biến động của nhóm vi khuẩn bắt buộc
cũng như ở nhóm vi khuẩn tuỳ tiện. Sự thay đổi hoặc biến động này thể hiện về
cả số lượng cũng như chất lượng tăng lên, hoặc có loại vi khuẩn nào đó tăng độc
lực, cũng có thể có sự đột biến hay bội nhiễm (Nguyễn Thị Khanh, 1994).
Nhiều tác giả nghiên cứu về hội chứng tiêu chảy đã chỉ ra rằng bệnh diễn biến
theo hai quá trình, đầu tiên là rối loạn tiêu hoá và sau đó là quá trình nhiễm trùng:
Clostridium perfringen là một trong những tác nhân quan trọng gây ra hội chứng
tiêu chảy ở lợn 1 đến 120 ngày tuổi.
Trong phân ở lợn khoẻ và lợn bị tiêu chảy thường xuyên có các loại vi
khuẩn hiếu khí: E.coli, Salmonella, Streptococcus, Klebsiella, Bacillus subtilis.
Khi lợn bị tiêu chảy, E.coli và Salmonella tăng lên một cách bội nhiễm (Hồ Văn
Nam và cs, 1997).
Trng i Hc Nụng Nghip H Ni Lun vn thc s khoa hc nụng nghip
14
bnh phõn trng ln con, tỏc nhõn gõy bnh ch yu l E.coli, ngoi ra
cú s tham gia ca Salmonella v vai trũ th yu ca Proteus, Streptococcus
(Nguyn Nh Thanh v cs, 2001).
Nguyn Bỏ Hiờn, 2001 nghiờn cu v ln tiờu chy ó cú kt lun: Ln b
tiờu chy cú s lng v t l xut hin ca Clostridium perfringen th hin s
bi nhim rừ.
on Th Kim Dung, 2004 cho bit cỏc vi khun úng vai trũ quan trng
trong hi chng tiờu chy ln, nh E.coli, Salmonella v Streptococcus tng lờn.
* Bệnh tiêu chảy do E.coli ở lợn từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi
Bệnh tiêu chảy ở lợn con đ trở thành một bệnh gây thiệt hại lớn về mặt kinh
tế. Nó có thể chia làm ba loại bệnh viêm ruột chính nh: Tiêu chảy ở lợn sơ sinh
(một vài ngày đầu sau khi sinh), tiêu chảy ở lợn con theo mẹ (từ tuần đầu cho đến
lúc cai sữa) và tiêu chảy ở lợn sau cai sữa. Có nhiều nguyên nhân gây bệnh tiêu
chảy ở lợn con bao gồm: Virut gây viêm dạ dày ruột (Transmissible
gastroenteritis virut-PTLC), Rotavirut, Coccidia Trong đó vi khuẩn E.coli là
nguyên nhân quan trọng nhất trong bệnh tiêu chảy của lợn mới sinh và sau cai sữa
(Biehl và cs, 1986) E.coli là vi khuẩn c trú thờng xuyên trong đờng tiêu hóa
của lợn nhng cũng là vi khuẩn gây bệnh. Vi khuẩn E.coli gây bệnh thờng có
khả năng sản sinh một hay nhiều yếu tố gây bệnh, ở những chủng vi khuẩn E.coli
không gây bệnh không tìm thấy những yếu tố này. Trong những năm gần đây,
những hiểu biết về các yếu tố gây bệnh và vai trò của chúng trong quá trình gây
vật trong phân lợn mẹ. Do vậy, trong điều kiện vệ sinh kém hay trong chuồng đẻ
dùng liên tục không có thời gian sát trùng và để trống chuồng thì sự ô nhiễm vi
khuẩn E.coli gây bệnh ở môi trờng cao, khả năng bội nhiễm cao dẫn đến xuất
hiện dịch tiêu chảy do vi khuẩn E.coli ở lợn con. Sữa đầu có chứa kháng thể đặc
hiệu IgA có thể ngăn ngừa sự bám dính của vi khuẩn E.coli trong đờng ruột
của lợn con. Nếu lợn mẹ không tiếp xúc với vi khuẩn E.coli gây bệnh trong môi
trờng của lợn con, kháng thể đặc hiệu không có trong sữa đầu, lợn con sẽ rất
mẫn cảm với mầm bệnh. Khi lợn con không đợc bú sữa đầu do bị thơng,
không có khả năng tranh vú vì quá yếu, không đủ vú cho số con, những lợn con
này dễ bị nhiễm bệnh. Nhiệt độ trong chuồng đẻ cũng rất quan trọng. Lợn đẻ
đợc nuôi trong môi trờng có nhiệt độ thấp hơn 25
0
C, các hoạt động của ruột
giảm rất nhiều, quá trình nhu động để vận chuyển vi khuẩn và các kháng thể bảo
vệ qua ruột non bị trì hon, số lợng vi khuẩn E.coli gây bệnh gia tăng trong
ruột của những lợn này gây ra tiêu chảy nặng hơn những lợn đợc nuôi ở nhiệt
độ 30
0
C (Sarmiento, 1983).
Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp
16
* Vi khuẩn E.coli và vai trò của chúng trong hội chứng tiêu chảy ở lợn
Trực khuẩn E.coli còn có tên là Bacterium coli commune hay Bacillus coli
commune được Escherich phân lập vào năm 1885 từ phân trẻ em bị tiêu chảy
(Nguyễn Như Thanh và cs, 2001). Từ đó vi khuẩn được đặt theo tên người phát
hiện ra và là nơi cư trú thường xuyên của chúng ở kết tràng (colon). Coli là danh
pháp khoa học được sử dụng rộng rãi từ trước đến nay. Vi khuẩn thuộc họ
Enterobacteriaceae, chiếm 80% số lượng của các vi khuẩn hiếu khí đường ruột.