Đánh giá thực trạng tài chính và các giải pháp cải thiện tình hình tài chính tại công ty TNHH XNK chế biến LHS Sơn Hải - Pdf 30

Học viện tài chính Chuyên đề tốt nghiệp
MỤC LỤC
M C L CỤ Ụ 1
DANH M C S , B NG BI UỤ ƠĐỒ Ả Ể 2
L I M UỜ ỞĐẦ 1
SV : Bùi Thị Lan Anh Lớp: LC1511.04
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa Tài chính doanh nghiệp
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU
SƠ ĐỒ:
M C L CỤ Ụ 1
DANH M C S , B NG BI UỤ ƠĐỒ Ả Ể 2
L I M UỜ ỞĐẦ 1
SV : Bùi Thị Lan Anh Lớp: LC1511.04
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa Tài chính doanh nghiệp
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu :
Quản trị tài chính luôn giữ một vị trí quan trọng trong hoạt động quản
lý của doanh nghiệp, nó quyết định tính độc lập, sự thành bại của doanh
nghiệp trong quá trình kinh doanh. Đặc biệt trong xu thế hội nhập khu vực và
quốc tế, trong điều kiện cạnh tranh đang diễn ra khốc liệt trên phạm vi toàn
thế giới, quản trị tài chính trở nên quan trọng hơn bao giờ hết. Do đó, để phục
vụ cho công tác quản lý tài chính có hiệu quả các nhà quản trị cần phải
thường xuyên tổ chức phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp. Qua đó
các nhà quản lý tài chính có thể xác định được nguyên nhân gây ra và đề xuất
các giải pháp nhằm cải thiện tình hình tài chính cũng như tình hình hoạt động
kinh doanh của đơn vị mình trong thời gian tới.
2. Đối tượng và mục đích của đề tài nghiên cứu :
• Về đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu là thực trạng công tác tài chính doanh nghiệp tại
công ty TNHH XNK chế biến LHS Sơn Hải.
• Về mục đích nghiên cứu:

Do thời gian thực tập, điều kiện nghiên cứu và trình độ kiến thức còn
hạn chế nên trong chuyên đề khó tránh khỏi những thiếu sót. Em rất mong
được sự đóng góp ý kiến của Công ty và các Thầy, Cô giáo trong bộ môn Tài
Chính Doanh nghiệp để đề tài của em được hoàn thiện hơn. Em xin chân
thành cảm ơn sự hướng dẫn nhiệt tình của thầy giáo - Nguyễn Trường
Giang, các thầy cô trong khoa Tài Chính Doanh Nghiệp cùng các cô chú, anh
chị trong phòng Tài chính Kế toán của Công ty TNHH XNK Chế biến LHS
Sơn Hải đã tạo điều kiện cho em hoàn thành bài chuyên đề này.
SV : Bùi Thị Lan Anh Lớp: LC1511.04
2
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa Tài chính doanh nghiệp
CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG TÀI
CHÍNH CỦA DOANH NGHIỆP
1.1 Tài chính doanh nghiệp và quản trị tài chính doanh nghiệp .
1.1.1. Tài chính doanh nghiệp và các quyết định TCDN.
1.1.1.1 Khái niệm tài chính doanh nghiệp.
Tài chính doanh nghiệp là khâu cơ sở của hệ thống tài chính trong nền
kinh tế, là một phạm trù kinh tế khách quan gắn liền với sự ra đời sự ra đời
của nền kinh tế hàng hóa tiền tệ.
Xét về hình thức tài chính doanh nghiệp là quỹ tiền tệ trong quá trình
tạo lập, phân phối, sử dụng và vận động gắn liền với hoạt động của doanh
nghiệp. Xét về bản chất tài chính doanh nghiệp là các quan hệ kinh tế dưới
hình thức giá trị nảy sinh gắn liền với việc tạo lập, sử dụng quỹ tiền tệ của
doanh nghiệp trong quá trình hoạt động của doang nghiệp.
Hoạt động tài chính là một mặt hoạt động của doanh nghiệp nhằm đạt
tới các mục tiêu của doanh nghiệp đề ra. Các hoạt động gắn liền với việc tạo
lập phân phối sử dụng và vận động chuyển hóa của quỹ tiền tệ thuộc hoạt
động tài chính của doanh nghiệp.
1.1.1.2 Các quyết định của tài chính doanh nghiệp.

hạn ngân hàng hay sự dụng tín phiếu công ty.
Quyết định huy động nguồn vốn vay dài hạn, bao gồm: Quyết định nợ
dài hạn hay vốn cổ phần, quyết định vay dài hạn ngân hàng hay phát hành trái
phiếu công ty, quyết định sử dụng vốn cổ phần thông hay vốn cổ phần ưu đãi.
 Quyết định phân chia lợi nhuận:
Quyết định về phân chia lợi nhuận hay còn gọi là chính sách cổ tức của
công ty. Trong loại quyết định này giám đốc tài chính sẽ phải lựa chọn giữa
SV : Bùi Thị Lan Anh Lớp: LC1511.04
4
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa Tài chính doanh nghiệp
việc sử dụng lợi nhuận sau thuế để chia cổ tức hay là giữ lại để tái đầu tư.
Ngoài ra giám đốc tài chính cần phải quyết định xem doanh nghiệp nên theo
chính sách cổ tức nào và liệu chính sách cổ tức có tác động gì đến giá trị của
doanh nghiệp hay giá cổ phiếu trên thị trường của doanh nghiệp hay không.
Ngoài ba loại quyết định trên còn có nhiều quyết định khác liên quan
đến hoạt động của doanh nghiệp như quyết định về hình thức chuyển tiền,
quyết định về phòng ngừa rủi ro trong hoạt động kinh doanh, quyết định về
tiền lương, quyết định tiền thưởng bằng quyền chọn, quyết định mua bán, sát
nhập doanh nghiệp, quyết định phòng ngừa rủi ro tài chính trong hoạt động
sản xuất kinh doanh, quyết định tiền lương hiệu quả…
1.1.2 Quản trị tài chính doanh nghiệp.
1.1.2.1 Khái niệm.
Quản trị tài chính doanh nghiệp là việc lựa chọn và đưa ra các quyết
định tài chính, tổ chức thực hiện các quyết định đó nhằm đạt được mục tiêu
hoạt động tài chính của doanh nghiệp, đó là tối đa hoá giá trị cho chủ doanh
nghiệp hay là tối đa hóa lợi nhuận, không ngừng làm tăng giá trị doanh
nghiệp và khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường.
Quản trị tài chính là một trong các chức năng cơ bản của quản trị doanh
nghiệp. Chức năng quản trị tài chính có mối liên hệ mật thiết với các chức
năng khác trong doanh nghiệp như: chức năng quản trị sản xuất, chức năng

Các công ty thực hiện tốt quá trình phân tích tài chính phải lập đầy đủ
và chính xác các báo cáo tài chính. Nếu chính sách của nhà nước nói chung và
chính sách kinh tế tài chính nói riêng chưa hoàn thiện thì sẽ có sự ảnh hưởng
tới công tác phân tích tài chính doanh nghiệp.
- Đặc điểm của doanh nghiệp.
Đặc điểm của công ty ảnh hưởng không nhỏ tới quản trị tài chính công
ty. Mỗi ngành kinh doanh có đặc điểm về mặt kinh tế và kỹ thuật ngành khác
SV : Bùi Thị Lan Anh Lớp: LC1511.04
6
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa Tài chính doanh nghiệp
nhau. Tính chất ngành kinh doanh ảnh hưởng tới quy mô của vốn sản xuất
kinh doanh, do đó có ảnh hưởng tới phương pháp phân tích tài chính công ty.
Tính thời vụ và chu kỳ sản xuất kinh doanh có ảnh hưởng trước hết đến
nhu cầu sử dụng vốn và doanh thu tiêu thụ sản phẩm. Những công ty sản xuất
có chu kỳ ngắn thì nhu cầu vốn ngắn hạn giữa các thời kỳ trong năm thường
không có biến động lớn, công ty cũng thường xuyên thu được tiền bán hàng,
điều đó giúp cho công ty dễ dàng đảm bảo sự cân đối giữa thu và chi bằng
tiền, cũng như cho công ty trong quá trình tổ chức nguồn vốn cho nhu cầu
kinh doanh. Những công ty sản xuất sản phẩm có chu kỳ sản xuất kinh doanh
dài, phải ứng ra một lượng vốn ngắn hạn tương đối lớn, công ty hoạt động
trong ngành sản xuất có tính thời vụ, thì nhu cầu vốn ngắn hạn giữa các quý
trong năm thường có sự biến động, tiền thu về bán hàng cũng không được
đều, tình hình thanh toán chi trả cũng thường gặp khó khăn hơn.
Ngoài ra, môi trường kinh doanh bao gồm tất cả những điều kiện bên
ngoài có ảnh hưởng đến mọi hoạt động của doanh nghiệp.
* Nhân tố chủ quan.
- Quyết định của nhà quản trị doanh nghiệp.
Điều này cũng có ảnh hưởng đến chính sách tài chính của công ty, bởi
mục đích của nhà quản trị công ty là lợi nhuận. Nếu những người lãnh đạo
của công ty quan tâm đến các chỉ tiêu trong quá trình phân tích tài chính, có

được nhà quản trị tài chính quan tâm giải quyết không chỉ là lợi ích của cổ
đông và nhà quản lý mà còn cả lợi ích của nhân viên, khách hàng, nhà cung
cấp và Chính phủ. Đó là nhóm người có nhu cầu tiềm năng về các dòng tiền
của doanh nghiệp. Do vậy, nhà quản trị tài chính, mặc dù có trách nhiệm nặng
nề về hoạt động nội bộ của doanh nghiệp vẫn phải lưu ý đến sự nhìn nhận,
đánh giá của người ngoài doanh nghiệp như cổ đông, chủ nợ, khách hàng,
Nhà nước…
SV : Bùi Thị Lan Anh Lớp: LC1511.04
8
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa Tài chính doanh nghiệp
Quản trị tài chính là một hoạt động có mối liên hệ chặt chẽ với các hoạt
động khác của doanh nghiệp. Quản trị tài chính tốt có thể khắc phục những
khiếm khuyết trong các lĩnh vực khác. Một quyết định tài chính không được
cân nhắc, hoạch định kĩ lưỡng có thể gây nên những tổn thất lớn cho doanh
nghiệp và cho nền kinh tế. Hơn nữa, do doanh nghiệp hoạt động trong một
môi trường nhất định nên các doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả sẽ góp
phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Bởi vậy, quản trị tài chính doanh
nghiệp tốt có vai trò quan trọng đối với việc nâng cao hiệu quả quản lý tài
chính quốc gia.
Quản trị tài chính luôn giữ một vai trò trọng yếu trong hoạt động quản lý
doanh nghiệp. Quản trị tài chính quyết định tính độc lập, sự thành bại của
doanh nghiệp trong quá trình kinh doanh. Trong hoạt động kinh doanh hiện
nay, quản trị tài chính doanh nghiệp giữ những vai trò chủ yếu sau:
- Huy động đảm bảo đầy đủ và kịp thời vốn cho hoạt động kinh doanh
của doanh nghiệp: Trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp thường nảy
sinh các nhu cầu vốn ngắn hạn và dài hạn cho hoạt động kinh doanh thường
xuyên của doanh nghiệp cũng như cho đầu tư phát triển. Vai trò của tài chính
doanh nghiệp trước hết thể hiện ở chỗ xác định đúng đắn các nhu cầu về vốn
cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trong thời kỳ và tiếp đó phải lựa
chọn các phương pháp và hình thức thích hợp huy động nguồn vốn từ bên

Đánh giá thực trạng tài chính doanh nghiệp là việc nhận định, xem xét và
phân tích một cách toàn diện trên tất cả các mặt hoạt động của tài chính doanh
nghiệp để thấy được thực trạng tài chính là tốt hay xấu. xác định rõ nguyên
nhân và mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến tình hình tài chính. Từ đó
giúp nhà quản lý doanh nghiệp có những quyết định kịp thời để nâng cao hiệu
quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
SV : Bùi Thị Lan Anh Lớp: LC1511.04
10
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa Tài chính doanh nghiệp
1.1.2.2. Mục tiêu của phân tích tài chính doanh nghiệp.
Phân tích tài chính doanh nghiệp nhằm cung cấp thông tin cho việc ra
quyết định kinh doanh. Vì vậy, phân tích tài chính doanh nghiệp phải đạt
được các mục tiêu chủ yếu sau:
- Thứ nhất: Phân tích tài chính doanh nghiệp cung cấp đầy đủ thông tin
hữu ích cho nhà quản lý, nhà đầu tư và những đối tượng sử dụng thông tin tài
chính khác trong việc đánh giá khả năng và tính chắc chắn của các dòng tiền
mặt vào ra, tình hình sử dụng vốn kinh doanh, khả năng thanh toán của doanh
nghiệp… để giúp họ có được những quyết định đúng đắn.
- Thứ hai: Phân tích tài chính doanh nghiệp phải cung cấp các thông tin
về nguồn vốn chủ sở hữu, các khoản nợ, kết quả của quá trình sự kiện và các
tình huống làm biến đồi nguồn vốn và các khoản nợ của doanh nghiệp.
- Thứ ba: Phân tích tài chính doanh nghiệp phải cung cấp thông tin để
người sử dụng có khả năng dự đoán được khả năng phát triển trong tương lai
của doanh nghiệp.
Ngoài ra phân tích tài chính doanh nghiệp cũng cần phải cung cấp
thông tin về việc thực hiện chức năng cương vị quản lý của người quản lý như
thế nào đối với doanh nghiệp trong việc sử dụng nguồn tiềm năng của doanh
nghiệp đã được giao phó cho họ.
1.2.1 Nội dung đánh giá thực trạng tài chính của doanh nghiệp.
1.2.2.1. Tình hình huy động vốn của doanh nghiệp.

Hệ số vốn chủ sở hữu
Tổng nguồn vốn
Hoặc Hệ số vốn chủ sở hữu = 1 – Hệ số nợ
Hệ số này phản ánh vốn chủ sở hữu chiếm bao nhiêu phần trăm trong
toontr nguồn vốn của doanh nghiệp. Hệ số này phản ánh mức độ tự tài trợ của
doanh nghiệp đối với nguồn vốn kinh doanh của mình.
SV : Bùi Thị Lan Anh Lớp: LC1511.04
12
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa Tài chính doanh nghiệp
Hệ số này càng cao chứng tỏ doanh nghiệp có nhiều vốn chủ sở hữu,
mức độ độc lập tự chủ về mặt tài chính cao, ít bị ràng buộc, chịu sức ép của
các khoản vay. Mặt khác, tỷ suất tự tài trợ càng cao thì càng đảm bảo cho các
khoản nợ được thanh toán đúng hạn, làm cho uy tín của chủ doanh nghiệp
được nâng cao, việc huy động vốn vay nhờ vậy cũng dễ dàng hơn. Tuy nhiên,
nếu sử dụng quá nhiều vốn tự có thì khó có thể khuếch đại được tỷ suất lợi
nhuận vốn chủ sở hữu để gia tăng lợi nhuận của chủ sở hữu doanh nghiệp.
Tỷ suất đảm bảo nợ.
Vốn chủ sở hữu
Tỷ suất đảm bảo nợ
Nợ phải trả
Chỉ tiêu này phản ánh một đồng vốn vay được đảm bảo bởi bao nhiêu
đồng vốn chủ sở hữu.Thông qua hệ số này cho phép nhà quản lý đánh giá
được mức độ rủi ro tài chính của doanh nghiệp từ đó định hướng chính sách
tài chính cho kỳ tiếp theo. Đối với các chủ nợ thì thông qua chỉ tiêu này đánh
giá mức độ an toàn của các khoản vốn cho vay và mức độ rủi ro của các
khoản vay từ đó ra quyết định thích hợp.
Tình hình nguồn vốn của doanh nghiệp thể hiện qua cơ cấu và sự biến
động của nguồn vốn. Ta có thể xác định như sau: so sánh số liệu cuối kỳ với
đầu kì để tìm ra sự thay đổi của mỗi khoản mục trên Bảng cân đối kế toán.
Mỗi sự thay đổi của từng khoản mục sẽ được xem xét và phản ánh vào một

nghiệp trong kinh doanh, về cơ bản, nguồn vốn lưu động thường xuyên đảm
bảo cho vốn lưu động thường xuyên còn nguồn vốn lưu động tạm thời sẽ đảm
bảo cho nhu cầu vốn lưu động tạm thời, song không nhất thiết phải hoàn toàn
như vậy, để tạo điều kiện cho việc sử dụng linh hoạt nguồn tài chính, ta sẽ
xem xét một số mô hình tài trợ vốn sau:
- Mô hình tài trợ thứ nhất.
SV : Bùi Thị Lan Anh Lớp: LC1511.04
14
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa Tài chính doanh nghiệp
Toàn bộ TSCĐ và TSLĐ thường xuyên được đảm bảo bằng nguồn vốn
thường xuyên, toàn bộ TSLĐ tạm thời được đảm bảo bằng nguồn vốn tạm
thời.
TSLĐ thường xuyên
TSCĐ
Mô hình này có ưu điểm là giúp cho doanh nghiệp hạn chế được rủi ro
trong thanh toán, mức độ an toàn cao hơn. Giảm bớt được chi phí trong sử
dụng vốn. Hạn chế của việc sử dụng mô hình này: Chưa tạo ra sự linh hoạt
trong việc tổ chức sử dụng vốn.
- Mô hình tài trợ thứ hai.
Toàn bộ TSCĐ, TSLĐ thường xuyên và một phần của TSLĐ tạm thời
được đảm bảo bằng nguồn vốn thường xuyên, và một phần TSLĐ tạm thời
còn lại được đảm bảo bằng nguồn vốn tạm thời.
TSLĐ tạm thời Nguồn vốn tạm thời
Nguồn vốn thường xuyên
TSLĐ thường xuyên
TSCĐ
Sử dụng mô hình này, khả năng thanh toán và độ an toàn ở mức cao. Tuy
nhiên, doanh nghiệp phải sử dụng nhiều khoản vay dài hạn và trung hạn nên
doanh nghiệp phải trả chi phí nhiều hơn cho việc sử dụng vốn
- Mô hình tài trợ thứ ba:

việc huy động vốn và sử dụng vốn của doanh nghiệp trong tương lai.
• Hệ số cơ cấu tài sản.
- Tỷ suất đầu tư vào tài sản dài hạn.
Tài sản dài hạn
Tỷ suất đầu tư vào tài sản dài hạn
Tổng tài sản
Tỷ lệ đầu tư vào TSDH phản ánh trong một đồng vốn kinh daonh mà
doanh nghiệp bỏ ra thì có bao nhiêu đồng được dùng để hình thành nên tài sản
dài hạn. Đồng thời, phản ánh tình trạng cơ sở vật chất kỹ thuật, tình hình
trang thiết bị cơ sở vật chất, năng lực sản xuất hiện có và xu hướng phát triển
lâu dài của doanh nghiệp trong tương lai. Nếu số cuối năm lớn hơn số đầu
năm chứng tỏ doanh nghiệp đã quan tâm đầu tư đổi mới tài sản cố định, tăng
năng lực sản xuất.
- Tỷ suất đầu tư vào TSLĐ.
Tài sản lưu động
Tỷ suất đầu tư vào TSLĐ
Tổng tài sản
Tỷ suất đầu tư vào TSLĐ phản ánh trong một đồng vốn kinh doanh mà
doanh nghiệp bỏ ra thì có bao nhiêu đồng được dùng để hình thành nên tài
sản ngắn hạn. Qua đó cho thấy mức độ đầu tư vào tài sản ngắn hạn như tiền
và các khoản tương đương tiền, hàng tồn kho, các khoản phải thu…
Tuy nhiên cần căn cứ vào ngành nghề kinh doanh và tình hình kinh
doanh cụ thể để đánh giá mức độ hợp lý trong việc đầu tư vào các loại tài sản
của doanh nghiệp.
- Tỷ suất tự tài trợ tài sản cố định.
Vốn chủ sở hữu
SV : Bùi Thị Lan Anh Lớp: LC1511.04
17
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa Tài chính doanh nghiệp
Tỷ suất tự tài trợ tài sản cố định

hay giảm tiền. Trên cơ sở phân tích có thể định hướng huy động vốn cho kỳ
tiếp theo.
1.2.2.4 Tình hình công nợ và khả năng thanh toán của doanh nghiệp.
* Phân tích tình hình công nợ.
Thông qua phân tích tình hình công nợ của doanh nghiệp sẽ đánh giá
được vốn của doanh nghiệp bị chiếm dụng như thế nào và doanh nghiệp đã đi
chiếm dụng vốn ra sao. Các nhà quản lý doanh nghiệp luôn quan tâm đến các
khoản nợ đến hạn, sắp đến hạn phải trả để chuẩn bị những nguồn thanh toán
các khoản nợ này khi đến hạn.
Các chỉ tiêu phản ánh tình hình công nợ của doanh nghiệp bao gồm:
+ Hệ số các khoản phải thu.
Hệ số các khoản phải thu = Các khoản phải thu
Tổng tài sản
Chỉ tiêu này thể hiện mức độ bị chiếm dụng vốn của doanh nghiệp. Chỉ
tiêu này cho biết trong tổng tài sản của doanh nghiệp có bao nhiêu phần vốn
bị chiếm dụng.
+ Hệ số các khoản phải trả.
Hệ số các khoản phải trả = Các khoản phải trả
Tổng tài sản
Chỉ tiêu này phản ánh mức độ đi chiếm dụng vốn của doanh nghiệp. Chỉ
tiêu này cho biết trong tổng tài sản của doanh nghiệp có bao nhiêu phần được
tài trợ bằng nguồn vốn đi chiếm dụng.
+ Hệ số thu hồi nợ.
Hệ số thu hồi nợ = Doanh thu thuần từ bán hàng và cung cấp dịch vụ
Các khoản phải thu bình quân
Hệ số thu hồi nợ phản ánh tốc độ luân chuyển các khoản phải thu của
SV : Bùi Thị Lan Anh Lớp: LC1511.04
19
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa Tài chính doanh nghiệp
doanh nghiệp trong kỳ. Nó cho biết khả năng thu hồi nợ của doanh nghiệp.

Chuyên đề tốt nghiệp Khoa Tài chính doanh nghiệp
Hệ số này phản ánh khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn bằng
số tiền hiện có và tài sản có thể chuyển đổi nhanh thành tiền trong doanh
nghiệp.
Trong đó, tiền bao gồm: tiền mặt, tiền gửi ngân hàng, tiền đang chuyển.
Các khoản tương đương tiền là các khoản đầu tư ngắn hạn khác có thể dễ
dàng chuyển đổi thành tiền trong thời gian 3 tháng như chứng khoán ngắn
hạn, thương phiếu, nợ phải thu ngắn hạn và các khoản đầu tư ngắn hạn
khác… Đây là các tài sản có tính thanh khoản cao, độ rủi ro thấp.
Hệ số khả năng thanh toán tức thời =
Tiền+ Tương đương tiền
Nợ ngắn hạn
Đây là tiêu chuẩn đánh giá khắt khe hơn đối với khả năng chi trả các
khoản nợ ngắn hạn so với hệ số thanh toán ngắn hạn.
Chỉ số này đặc biệt quan trọng đối với các bạn hàng mà hoạt động khan
hiếm tiền mặt (quay vòng vốn nhanh), các doanh nghiệp này cần phải được
thanh toán nhanh chóng để hoạt động được bình thường. Thực tế cho thấy, hệ
số này ≥0,5 thì tình hình thanh toán tương đối khả quan còn nếu < 0,5 thì
doanh nghiệp có thể gặp khó khăn trong việc thanh toán.
Đây là chỉ tiêu được các chủ nợ ngắn hạn quan tâm để đánh giá tại thời
điểm phân tích doanh nghiệp có khả năng thanh toán ngay các khoản nợ ngắn
hạn hay không. Tuy nhiên cần lưu ý rằng nếu hệ số này quá cao cho thấy
doanh nghiệp đang có một lượng lớn bằng tiền nhàn rỗi, gây lãng phí, ứ đọng
vốn, giảm vòng quay của vốn và cũng không phải khoản nợ ngắn hạn nào
cũng cần thanh toán ngay tại thời điểm phân tích. Nhưng nếu có những khoản
nợ đến hạn và quá hạn thì cần xem tại sao doanh nghiệp để phát sinh những
khoản nợ quá hạn nhất là khi doanh nghiệp thừa khả năng thanh toán nhanh.
Hệ số khả năng thanh toán lãi vay.
Hệ số này cho biết khả năng thanh toán các khoản lãi vay trong kỳ bằng
SV : Bùi Thị Lan Anh Lớp: LC1511.04

Thông thường, chỉ tiêu này cao so với các doanh nghiệp trong ngành
SV : Bùi Thị Lan Anh Lớp: LC1511.04
22
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa Tài chính doanh nghiệp
cho thấy việc tổ chức và quản lý dự trữ của doanh nghiệp tốt, doanh nghiệp
có thể rút ngắn được chu kỳ kinh doanh và giảm được lượng vốn bỏ vào hàng
tồn kho. Nếu hệ số này thấp, có thể do doanh nghiệp dự trữ vật tư quá mức,
dẫn đến tình trạng bị ứ đọng hoặc sản phẩm bị tiêu thụ chậm. Từ đó có thể
dẫn đến dòng tiền vào của doanh nghiệp bị giảm đi và có thể đặt doanh
nghiệp vào tình thế khó khăn về tài chính trong tương lai. Để đánh giá chính
xác hơn về tình hình tài chính doanh nghiệp cần xem xét cụ thể và sâu hơn
tình thế của doanh nghiệp.
- Số ngày một vòng quay hàng tồn kho: Chỉ tiêu này phản ánh số ngày
bình quân cần thiết để hàng tồn kho thực hiện được một lần luân chuyển hay
độ dài thời gian một vòng quay hàng tồn kho trong kỳ. Chỉ tiêu này càng nhỏ
thì chứng tỏ hàng tồn kho quay vòng nhanh, giảm ứ đọng vốn, hiệu quả kinh
doanh của doanh nghiệp được đánh giá là tốt và ngược lại.
Số ngày một vòng quay
hàng tồn kho
= Số ngày trong kỳ
Số vòng quay hàng tồn kho
- Vòng quay các khoản phải thu:
Phản ánh tốc độ chuyển đổi các khoản phải thu thành tiền mặt của doanh
nghiệp, nó cho biết trong kỳ doanh nghiệp có bao nhiêu lần thu được các
khoản phải thu. Chỉ tiêu này được xác định theo công thức:
Vòng quay các khoản phải thu = Doanh thu
Số dư bình quân các khoản phải thu
Vòng quay càng lớn chứng tỏ tốc độ thu hồi các khoản phải thu nhanh
được đánh giá là tốt vì doanh nghiệp không phải đầu tư nhiều vào các khoản
phải thu. Còn ngược lại, vòng quay các khoản phải thu càng nhỏ chứng tỏ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status