Đánh giá thực trạng tài chính và các giải pháp cải thiện tình hình tài chính tại doanh nghiệp tư nhân thương mại ô tô hoàng anh - Pdf 34

1

Luận văn tốt nghiệp

Học viện tài chính

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số
liệu, kết quả nêu trong luận văn tốt nghiệp là trung thực xuất phát từ tình
hình thực tế của đơn vị thực tập.

Tác giả luận văn tốt nghiệp
(Ký, ghi rõ họ tên)

Đoàn Huy Tùng

SV: Đoàn Huy Tùng

Lớp CQ48/11.05


2

Luận văn tốt nghiệp

Học viện tài chính

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

:
:
:
:
:
:
:
:
:
:
:
:

Cán bộ công nhân viên.
Chi phí bán hàng.
Doanh thu thuần.
Hàng tồn kho.
Khoản phải thu.
Kết quả hoạt động kinh doanh.
Ngân sách Nhà Nước.
Nguồn vốn.
Quản lý doanh nghiệp.
Thương mại dịch vụ.
Thu nhập doanh nghiệp.
Tài sản cố định.
Tài sản dài hạn.
Tài sản lưu động.
Tỷ suất lợi nhuận.
Tài sản ngắn hạn.
Vốn cố định.



3

Luận văn tốt nghiệp

Học viện tài chính

Bảng 2.7: Hệ số tạo tiền và dòng tiền vào từ hoạt động kinh doanh
Bảng 2.8: Quy mô công nợ
Bảng 2.9: Tình hình công nợ 2012- 2013
Bảng 2.10: Chỉ tiêu phản ánh khả năng thanh toán năm 2013
Bảng 2.11: Thời gian chuyển hóa thành tiền
Bảng 2.12: Các chỉ tiêu về vốn cố định, vốn lưu động và vốn kinh doanh
Bảng 2.13: Hiệu suất sử dụng vốn
Bảng 2.14: Chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lời
Bảng 2.15: Phân tích DUPONT
Bảng 3.1: Một số chỉ tiêu kế hoạch 2014

SV: Đoàn Huy Tùng

Lớp CQ48/11.05


4

Luận văn tốt nghiệp

Học viện tài chính


đẩy tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội . Mặt khác, quá trình hội nhập tạo ra
không ít những thách thức trong sự phát triển kinh tế xã hội nếu không biết tận
dụng những cơ hội và lợi thế trong quá trình này.
Trải qua nhiều biến động kinh tế trong nước và quốc tế, không ít các
doanh nghiệp đã thất bại trong sản xuất kinh doanh, làm ăn thua lỗ và dẫn đến
phá sản ngừng hoạt động nhưng bên cạnh đó vẫn có rất nhiều doanh nghiệp đã
và đang khẳng định được vị thế và tiềm năng tài chính của mình.
Trước sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế thị trường, cùng với xu
hướng toàn cầu hóa, đặc biệt Việt Nam đã gia nhập tổ chức thương mại thế giới
(WTO) được gần 10 năm đang mở ra những cơ hội và thách thức cho các doanh
nghiệp. Do đó, để có thể tồn tại và phát triển trong môi trường rộng lớn và đầy
tiềm năng những cũng đầy rủi ro, mạo hiểm này, các doanh nghiệp luôn phải
nhạy bén nắm bắt được những biến động trên thị trường và có kế hoạch kinh
doanh kịp thời. Câu hỏi đặt ra cho các nhà quản trị doanh nghiệp là làm thế nào
để giải quyết được vẫn đề trên, trong khi đó vẫn phải tiếp tục duy trì hoạt động
sản xuất kinh doanh có hiệu quả. Nhờ có phân tích, đánh giá tình hình tài chính
SV: Đoàn Huy Tùng

Lớp CQ48/11.05


6

Luận văn tốt nghiệp

Học viện tài chính

của doanh nghiệp, chúng ta sẽ có cái nhìn chung nhất về thực trạng tài chính
doanh nghiệp, giúp các nhà quản trị tài chính doanh nghiệp xác đinh được trọng
điểm trong công tác quản lý tài chính, tìm ra các giải pháp cải thiện tình hình tài

1)

trạng tài chính doanh nghiệp.
Tìm hiểu thực trạng tài chính của doanh nghiệp, từ đó:
Xem xét và đánh giá tình hình tài chính của doanh nghiệp năm 2013 trên cơ sở
so sánh với năm 2012 thông qua những kết quả đạt được trong 2 năm.

SV: Đoàn Huy Tùng

Lớp CQ48/11.05


7

Luận văn tốt nghiệp

Học viện tài chính

2)

Đề xuất một số giải pháp tài chính nhằm góp phần nâng cao, cải thiện tình hình

4.


tài chính và hiệu quả kinh doanh tại đơn vị trong thời gian tới.
Phạm vi nghiên cứu
Về không gian: Nghiên cứu về tình hình tài chính và giải pháp tài chính nhằm
cải thiện, nâng cao tình hình tài chính và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp tư
nhân thương mại ô tô Hoàng Anh tại địa chỉ thị trấn Thanh Thủy, huyện Thanh

nhiên, do trình độ nhận thức còn hạn chế nên luận văn không tránh khỏi những

SV: Đoàn Huy Tùng

Lớp CQ48/11.05


8

Luận văn tốt nghiệp

Học viện tài chính

sai sót. Vì vậy, em rất mong nhận được sự góp ý của các thầy cô để bài luận văn
của em hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn giáo viên hướng dẫn T.S Đoàn Hương Quỳnh
và các cán bộ phòng tài chính kế toán doanh nghiệp tư nhân thương mại ô tô
Hoàng Anh đã hết sức giúp đỡ và tạo điều kiện để em hoàn thành luận văn này.
Hà Nội, ngày 20/05/2014
Sinh viên thực tập
Đoàn Huy Tùng

Chương 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG TÀI CHÍNH
CỦA DOANH NGHIỆP
1.1. Tài chính doanh nghiệp và quản trị tài chính doanh nghiệp.
1.1.1.
Tài chính doanh nghiệp và các quyết định tài chính doanh
 Khái niệm tài chính doanh nghiệp.


sản xuất. Sản phẩm của quá trình sản xuất được tung ra thị trường nhờ quá trình
tiêu thụ, đây chính là giai đoạn mà doanh nghiệp bán sản phẩm và thu tiền từ bán
hàng. Doanh thu bán hàng sau khi bù đắp các chi phí, doanh nghiệp sẽ thu được
một khoản lợi nhuận, với số lợi nhuận đó doanh nghiệp sẽ tiếp tục phân phối một
cách hợp lý. Như vậy, quá trình hoạt động của doanh nghiệp cũng là quá trình
tạo lập, phân phối và sử dụng quỹ tiền tệ hợp thành hoạt động tài chính của
doanh nghiệp. Trong quá trình đó làm phát sinh và tạo ra sự vận động của dòng
tiền vào, dòng tiền ra gắn liền với hoạt động sản xuất kinh doanh, hoạt động đầu
tư của doanh nghiệp.
Tài chính doanh nghiệp là khâu cơ sở và quan trọng của hệ thống tài chính
trong nền kinh tế. Tài chính doanh nghiệp là những quan hệ kinh tế biểu hiện
dưới hình thức giá trị (quan hệ tiền tệ) phát sinh trong quá trình hình thành và sử
dụng các quỹ tiền tệ nhằm phục vụ cho quá trình tái sản xuất trong mỗi doanh
nghiệp và góp phần tích lũy vốn cho Nhà nước.
Xét về mặt hình thức, tài chính doanh nghiệp là quỹ tiền tệ trong quá trình
tạo lập, phân phối, sử dụng và vận động gắn liền với hoạt động của doanh
nghiệp. Còn xét về mặt bản chất, tài chính doanh nghiệp được hiểu là các quan
SV: Đoàn Huy Tùng

Lớp CQ48/11.05


10

Luận văn tốt nghiệp

Học viện tài chính

hệ kinh tế dưới hình thức giá trị nảy sinh gắn liền với việc tạo lập, sử dụng quỹ
tiền tệ của doanh nghiệp trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp.

pháp lý có các loại hình doanh nghiệp chủ yếu sau:

Doanh nghiệp tư nhân

Công ty hợp danh

Công ty cổ phần

Công ty trách nhiệm hữu hạn
Ngoài các loại hình trên còn có hợp tác xã.
Các quyết định tài chính doanh nghiệp.
Nhà quản trị tài chính phải đưa ra các quyết định tài chính nhằm tối đa hóa
giá trị doanh nghiệp. Với mỗi quyết định tài chính, nhà quản trị phải luôn luôn
đối mặt với sự mâu thuẫn giữa rủi ro và sinh lời. Một quyết đinh tài chính khôn

SV: Đoàn Huy Tùng

Lớp CQ48/11.05


11

Luận văn tốt nghiệp

Học viện tài chính

ngoan là quyết định có thể tối đa hóa được giá trị doanh nghiệp, muốn vậy quyết
định tài chính phải đảm bảo tối thiểu hóa được rủi ro và tối đa hóa được tỷ suất
sinh lời cho chủ sở hữu. Đây là điều rất khó cho các nhà quản trị tài chính trong
quá trình phân tích và ra quyết định lựa chọn các quyết định tài chính phù hợp.

Quyết định huy động vốn ngắn hạn
Quyết định huy động vốn dài hạn
Quyết định phân chia lợi nhuận: Gắn liền với quyết định về phân chia cổ tức
hay chính sách cổ tức của doanh nghiệp. Các nhà quản trị tài chính sẽ phải lựa
chọn giữa việc sử dụng phần lớn lợi nhuận sau thuế để chia cổ tức, hay là giữ lại
để tái đầu tư. Những quyết định này liên quan đến việc doanh nghiệp nên theo
đuổi một chính sách cổ tức như thế nào và liệu chính sách cổ tức có tác động như
thế nào đến giá trị doanh nghiệp hay giá cổ phiếu của công ty trên thị trường hay
không.
SV: Đoàn Huy Tùng

Lớp CQ48/11.05


12

Luận văn tốt nghiệp

Học viện tài chính

Ngoài ba loại quyết định chủ yếu trong tài chính doanh nghiệp như trên đã
đưa ra còn có rất nhiều loại quyết định khác có liên quan đến hoạt động kinh
doanh của doanh nghiệp như quyết định mua bán, sáp nhập doanh nghiệp, quyết
định phòng ngừa rủi ro tài chính trong hoạt động sản xuất kinh doanh.
1.1.2. Quản trị tài chính doanh nghiệp.
 Khái niệm quản trị tài chính doanh nghiệp.
Quản trị tài chính doanh nghiệp là việc lựa chọn, đưa ra quyết định và tổ
chức thực hiện các quyết định tài chính nhằm đạt được các mục tiêu hoạt động
của doanh nghiệp. Do các quyết định tài chính của doanh nghiệp đều gắn liền
với việc tạo lập, phân phối và sử dụng các quỹ tiền tệ trong quá trình hoạt động

Học viện tài chính

Quản trị tài chính doanh nghiệp bao hàm các nội dung chủ yếu sau:
Tham gia việc đánh giá, lựa chọn quyết định đầu tư.
Triển vọng của một doanh nghiệp trong tương lai phụ thuộc rất lớn vào
quyết định đầu tư dài hạn với quy mô lớn như quyết định đầu tư đổi mới công
nghệ, mở rộng sản xuất kinh doanh, sản xuất sản phẩm mới… Để đi đến quyết
định đầu tư đòi hỏi doanh nghiệp phải xem xét cân nhắc trên nhiều mặt về kinh
tế, kỹ thuật và tài chính. Trong đó, về mặt tài chính phải xem xét các khoản chi
tiêu vốn cho đầu tư và dự tính thu nhập do đầu tư đưa lại; nói cách khác là xem
xét dòng tiền ra và dòng tiền vào liên quan đến khoản đầu tư để đánh giá cơ hội
đầu tư về mặt tài chính. Đó là quá trình hoạch định dự toán vốn đầu tư và đánh



giá hiệu quả tài chính của việc đầu tư.
Xác định nhu cầu vốn và tổ chức huy động vốn đáp ứng kịp thời, đủ nhu
cầu vốn do các hoạt động của doanh nghiệp.
Tất cả các hoạt động của doanh nghiệp đều đòi hỏi phải có vốn. Nhà quản
trị tài chính phải xác định các nhu cầu vốn cần thiết cho các hoạt động của doanh
nghiệp ở trong kỳ (bao gồm vốn dài hạn và vốn ngắn hạn); tiếp theo, phải tổ
chức huy động các nguồn vốn đáp ứng kịp thời, đầy đủ và có lợi cho các hoạt
động của doanh nghiệp. Để đi đến quyết định lựa chọn hình thức và phương
pháp huy động vốn thích hợp, cần xem xét cân nhắc trên nhiều mặt như: Kết cấu
nguồn vốn, những điểm lợi của từng hình thức huy động vốn, chi phí cho việc sử



dụng mỗi nguồn vốn…
Sử dụng có hiệu quả số vốn hiện có, quản lý chặt chẽ các khoản phải thu,

ích lâu dài – sự phát triển của doanh nghiệp.
Kiểm soát thường xuyên tình hình hoạt động của doanh nghiệp.
Thông qua tình hình thu, chi tiền tệ hàng ngày, các báo cáo tài chính, tình
hình thực hiện các chỉ tiêu tài chính cho phép kiểm soát được tình hình hoạt
động của doanh nghiệp. Mặt khác, thông qua việc định kỳ tiến hành phân tích
tình hình tài chính của doanh nghiệp để đánh giá được hiệu quả sử dụng vốn,
những điểm mạnh và điểm yếu trong quản lý, dự báo trước tình hình tài chính
của doanh nghiệp, từ đó giúp cho các nhà lãnh đạo, quản lý doanh nghiệp kịp
thời đưa ra các quyết định thích hợp điều chỉnh hoạt động kinh doanh và tài



chính của doanh nghiệp trong thời kỳ tới.
Thực hiện kế hoạch hóa tài chính.
Các hoạt động tài chính của doanh nghiệp cần được dự kiến trước thông
qua việc lập kế hoạch tài chính, có kế hoạch tài chính tốt thì doanh nghiệp mới
có thể đưa ra các quyết định tài chính thích hợp nhằm đạt tới các mục tiêu của
doanh nghiệp. Quá trình thực hiện kế hoạch tài chính cũng là quá trình chủ động



đưa ra các giải pháp hữu hiệu khi thị trường có sự biến động.
Các nhân tố ảnh hưởng tới quản trị tài chính doanh nghiệp.
Quản trị tài chính doanh nghiệp trong các doanh nghiệp là không giống
nhau. Sự khác biệt đó chịu sự chi phối của các nhân tố cơ bản là hình thức pháp
SV: Đoàn Huy Tùng

Lớp CQ48/11.05



động chiếm tỷ trọng cao hơn, tốc độ chu chuyển của vốn lưu động cũng nhanh
hơn so với các ngành nông nghiệp, công nghiệp, đặc biệt là công nghiệp nặng. Ở
các ngành này, vốn cố định thường chiếm tỷ lệ cao hơn vốn lưu động, thời gian



thu hồi vốn cũng chậm hơn.
Những doanh nghiệp sản xuất ra những loại sản phẩm có chu kỳ sản xuất ngắn
thì nhu cầu vốn lưu động giữa các thời kỳ trong năm thường không có biến động
lớn, doanh nghiệp cũng thường xuyên thu được tiền bán hàng, nhờ đó có thể dễ
dàng bảo đảm cân đối giữa thu và chi bằng tiền, cũng như bảo đảm nguồn vốn
cho nhu cầu kinh doanh. Ngược lại, những doanh nghiệp sản xuất ra những loại
sản phẩm có chu kỳ sản xuất dài, phải ứng ra lượng vốn lưu động lớn hơn.
Những doanh nghiệp hoạt động trong những ngành sản xuất có tính thời vụ thì

SV: Đoàn Huy Tùng

Lớp CQ48/11.05


16

Luận văn tốt nghiệp

Học viện tài chính

nhu cầu về vốn lưu động giữa các thời kỳ trong năm chênh lệch nhau rất lớn,


giữa thu và chi bằng tiền thường có sự không ăn khớp nhau về thời gian.


SV: Đoàn Huy Tùng

Lớp CQ48/11.05


17

Luận văn tốt nghiệp

Học viện tài chính

doanh nghiệp phải được đặt trên cơ sở công tác hoạch định cả về chiến lược (dài
hạn) và chiến thuật (ngắn hạn).
Tất cả các quyết định chiến lược và chiến thuật của doanh nghiệp đều
được lựa chọn chủ yếu dựa trên sự phân tích, đánh giá về mặt tài chính. Tóm lại,
ngày nay vai trò của quản trị tài chính doanh nghiệp ngày càng trở nên hết sức


quan trọng hơn đối với hoạt động của doanh nghiệp, bởi vì:
Tình hình tài chính của doanh nghiệp liên quan và ảnh hưởng tới tất cả các hoạt



động của doanh nghiệp.
Quy mô kinh doanh và nhu cầu vốn cho hoạt động của doanh nghiệp ngày càng
lớn. Cùng với sự phát triển của thị trường tài chính thì các công cụ tài chính để
huy động vốn ngày càng phong phú và đa dạng hơn. Vì vậy các quyết định huy
động vốn, quyết định đầu tư… của nhà quản trị tài chính ảnh hưởng lớn đến tình


Học viện tài chính

trong việc tổ chức huy động các nguồn vốn (bên trong, bên ngoài) đáp ứng như
cầu cho các hoạt động của DN. Một chính sách tài trợ đúng đắn không những
giúp DN giảm thiểu rủi ro tài chính mà còn tác động rất lớn đến việc thực hiện


mục tiêu tối đa hóa giá trị doanh nghiệp.
Tổ chức sử dụng vốn tiết kiệm, hiệu quả, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động
kinh doanh của doanh nghiệp.
Với việc lựa chọn các dự án đầu tư vốn tối ưu trên cơ sở cân nhắc, so sánh
giữa tỷ suất sinh lời, chi phí huy động vốn và mức độ rủi ro của dự án đầu tư v.v.
nhà quản trị tài chính đã tạo tiền đề cho việc sử dụng vốn tiết kiệm và đạt hiểu
quả cao.
Việc tổ chức huy động vốn kịp thời, đầy đủ sẽ giúp cho DN chớp được cơ
hội kinh doanh, tăng doanh thu và lợi nhuận DN. Việc lựa chọn các hình thức và
phương pháp huy động vốn thích hợp, đảm bảo cơ cấu vốn tối ưu có thể giúp DN
giảm bớt được chi phí sử dụng vốn, góp phần tăng lợi nhuận và tỷ suất lợi nhuận
VCSH của DN.
Mặt khác, với việc huy động tối đa số vốn hiện có vào hoạt động kinh
doanh có thể giúp DN tránh được thiệt hại do ứ đọng vốn, tăng vòng quay tài
sản, giảm được số vốn vay từ đó giảm được tiền trả lãi vay góp phần tăng LNST



của DN.
Kiểm tra, giám sát một cách toàn diện các mặt hoạt động sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp.
Quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp cũng là quá trình vận
động, chuyển hóa hình thái của vốn tiền tệ. Vì vậy, thông qua việc xem xét tình

được thực trạng tài chính là tốt hay xấu, xác định rõ nguyên nhân và mức độ ảnh
hưởng của các nhân tố đến tình hình tài chính, từ đó giúp nhà quản lý doanh
nghiệp có những quyết định kịp thời để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp.
1.2.1.2. Mục tiêu đánh giá thực trạng tài chính doanh nghiệp.
Trong hoạt động kinh doanh theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà
nước, các doanh nghiệp thuộc các loại hình sở hữu khác nhau, đều bình đẳng với
nhau trước pháp luật trong việc lựa chọn ngành nghề và các lĩnh vực kinh doanh.
Do vậy sẽ có nhiều đối tượng quan tâm đến tình hình tài chính của doanh nghiệp
như: chủ doanh nghiệp, nhà tài trợ, nhà cung cấp khách hàng... kể cả các cơ quan
nhà nước và người lao động, mỗi đối tượng quan tâm đến tình hình tài chính trên


một góc độ khác nhau.
Đối với người quản lý doanh nghiệp.
SV: Đoàn Huy Tùng

Lớp CQ48/11.05


20

Luận văn tốt nghiệp

Học viện tài chính

Nhà quản trị đánh giá thực trạng tài chính nhằm đánh giá hoạt động kinh
doanh chủ yếu của doanh nghiệp. Đó là cơ sở để định hướng các quyết định của
Ban giám đốc, Giám đốc tài chính, dự báo tài chính, kế hoạch đầu tư, ngân quỹ


Đối với các khoản cho vay dài hạn: người cho vay phải tin chắc khả năng hoàn
trả và khả năng sinh lời của doanh nghiệp bởi vì việc hoàn trả cả vốn lẫn lãi tuỳ



thuộc vào khả năng sinh lời này của doanh nghiệp.
Đối với những người lao động trong doanh nghiệp.

SV: Đoàn Huy Tùng

Lớp CQ48/11.05


21

Luận văn tốt nghiệp

Học viện tài chính

Đây là những người có thu nhập duy nhất từ tiền lương được trả, nhưng
nếu người lao động có một số cổ phần nhất định trong doanh nghiệp thì ngoài
tiền lương họ sẽ có thêm tiền lời được chia. Tuy nhiên hai khoản thu nhập này
đều phụ thuộc vào kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Do
vậy đánh giá thực trạng tài chính giúp họ định hướng được việc làm ổn định của
mình, trên cơ sở đó yên tâm dốc sức vào hoạt động sản xuất kinh doanh của


doanh nghiệp tuỳ thuộc vị trí đảm nhiệm và công việc được phân công.
Đối với các cơ quan quản lý Nhà nước.
Các cơ quan quản lý bao gồm các cơ quan quản lý cấp Bộ, Ngành như: cơ


tăng hay giảm? Cơ cấu nguồn vốn của doanh nghiệp tự chủ hay phụ thuộc, thay
đổi theo chiều hướng nào? Xác định các trọng điểm cần chú ý trong chính sách
huy động vốn của doanh nghiệp nhằm đạt được mục tiêu chủ yếu trong chính


sách huy động vốn ở mỗi thời kỳ.
Chỉ tiêu sử dụng để đánh giá: Nguồn vốn doanh nghiệp huy động để tài trợ cho
nhu cầu vốn bao gồm vốn chủ sở hữu, vay và nợ. Vốn chủ sở hữu chủ yếu gồm:
vốn đầu tư của chủ sở hữu, lợi nhuận giữ lại để tái đầu tư. Vay và nợ gồm: vay
tín dụng, phát hành trái phiếu, thuê tài chính, tín dụng thương mại và nguồn vốn
chiếm dụng khác. Mỗi nguồn vốn huy động có ưu thế và hạn chế nhất định tác
động đến khả năng huy động và sử dụng của doanh nghiệp. Để đánh giá thực
trạng và tình hình biến động nguồn vốn của doanh nghiệp cần sử dụng 2 nhóm

+

chỉ tiêu:
Các chỉ tiêu phản ánh quy mô vốn gồm giá trị tổng nguồn vốn và từng loại trong

+

B01-DN.
Các chỉ tiêu phản ánh cơ cấu nguồn vốn của doanh nghiệp:

Tỷ
trọ
ng
từ
ng

23

Luận văn tốt nghiệp

Học viện tài chính

Đánh giá tình hình nguồn vốn cần phân tích sự biến động và cơ cấu nguồn
vốn của doanh nghiệp.


Phương pháp đánh giá: Để đánh giá sự biến động nguồn vốn, ta so sánh cả
tổng số và từng loại, từng chỉ tiêu nguồn vốn giữa cuối kỳ với đầu kỳ (giữa kỳ
phân tích với kỳ gốc) để xác định chênh lệch tuyệt đối và tương đối của tổng số
cũng như từng loại, từng chỉ tiêu nguồn vốn.
Để đánh giá cơ cấu nguồn vốn ta xác định tỷ trọng từng loại, từng chỉ tiêu
nguồn vốn chiếm trong tổng của nó ở đầu kỳ và cuối kỳ (kỳ gốc và kỳ phân
tích); so sánh tỷ trọng từng loại, từng chỉ tiêu giữa cuối kỳ với đầu kỳ; căn cứ
vào kết quả xác định và kết quả so sánh để đánh giá cơ cấu nguồn vốn và sự thay



đổi cơ cấu.
Đánh giá tình hình huy động vốn của doanh nghiệp.
Để huy động vốn cho sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp có thể sử dụng
nhiều nguồn khác nhau. Điều quan trọng là doanh nghiệp cần phối hợp sử dụng
các nguồn vốn để tạo ra một cơ cấu nguồn vốn hợp lý đưa lại lợi ích tối đa cho
doanh nghiệp. Để đánh giá tình hình huy động vốn của doanh nghiệp, ta xem xét
cơ cấu nguồn vốn, chú trọng đến mối quan hệ giữa nợ phải trả và vốn chủ sở hữu
trong nguồn vốn của doanh nghiệp. Cơ cấu nguồn vốn của doanh nghiệp được


doanh nghiệp. Mặt khác, lãi vay được coi như một khoản chi phí hợp lý và được
tính trừ vào thu nhập chịu thuế. Do đó, việc sử dụng nợ vay được xem như một

*

phương thức tạo ra “lá chắn thuế” cho doanh nghiệp.
Tác động tiêu cực: Nếu hệ số nợ quá cao sẽ làm gia tăng nguy cơ mất khả năng
thanh toán. Hơn nữa, trong trường hợp tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản nhỏ hơn
lãi tiền vay thì việc sử dụng đòn bẩy tài chính sẽ có tác động ngược chiều. Điều
đó có nghĩa là doanh nghiệp càng sử dụng nhiều nợ vay sẽ càng làm giảm sút tỷ



suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu.
Hệ số vốn chủ sở hữu: Hệ số vốn chủ sở hữu được xác định theo công thức sau:
Vốn chủ sở hữu
Tổng nguồn vốn
Hệ số vốn chủ sở hữu phản ánh vốn chủ sở hữu chiếm bao nhiêu phần
trăm trong tổng nguồn vốn doanh nghiệp. Hệ số này phản ánh mức độ tự tài trợ
của doanh nghiệp đối với nguồn vốn kinh doanh của mình. Hệ số này càng lớn
càng chứng tỏ doanh nghiệp có nhiều vốn chủ sở hữu, tính độc lập về mặt tài
chính cao, doanh nghiệp ít bị ràng buộc hay chịu sức ép từ nợ vay. Mặt khác, tỷ
suất tự tài trợ càng cao thì càng đảm bảo cho các khoản nợ được thanh toán đúng
hạn, làm cho uy tín của chủ doanh nghiệp được nâng cao, việc huy động vốn vay
nhờ vậy cũng dễ dàng hơn. Tuy nhiên, nếu sử dụng quá nhiều vốn tự có thì khó
có thế khuếch đại được tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu để gia tăng lợi nhuận
của chủ sở hữu doanh nghiệp.
SV: Đoàn Huy Tùng

Lớp CQ48/11.05

giá thông qua 4 chỉ tiêu: Nguồn vốn lưu động thường xuyên (NWC), nhu cầu
vốn lưu động (NCVLĐ), chi phí sử dụng vốn bình quân và tình hình sử dụng



nguồn tài trợ.
Xét tổng thể về thời gian thì hoạt động tài trợ của doanh nghiệp ở trạng thái ổn
định khi một phần tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp được tài trợ bằng nguồn
vốn dài hạn hay doanh nghiệp đã sử dụng một phần nguồn vốn dài hạn để tài trợ
cho tài sản ngắn hạn và phần nguồn vốn đó được gọi là nguồn vốn lưu động
thường xuyên (NWC). NWC được xác định theo công thức:
NWC

SV: Đoàn Huy Tùng

=

Lớp CQ48/11.05


Trích đoạn Vòng quay các khoản phả Số ngày một vòng quay hàng tồn kho ngày 360 /(14) 222,26 280,02 57,76 20, Tỷ suất lợi nhuận trước thuế trên 5 Tỷ suất LNST/doanh Nguyên nhân ảnh hưởng đến thực trạng tài chính của doanh nghiệp.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status