Hc vin Ti chớnh
Lun vn tt nghip
SV: Nguyn Xuõn Trng
Lp: CQ48/11.07
i
Bộ tài chính
Học viện tài chính
a ũ b
NGUYN XUN TRNG
Lớp : CQ4/11.07
Luận văn tốt nghiệp
Đề tài:
đánh giá tình hình tài chính và các biện pháp CI
THIN TèNH HèNH TI CHNH TI công ty cổ phần prime
tiền phong
Chuyên ngành :Tài chính doanh nghiệpMã số:11Giáo viên h ớng
dẫn:PGS.TS V CễNG TY
Hà nội 2014
Hà Nội - 2008
Hà Nội, tháng 06 năm 2008
Hc vin Ti chớnh
Lun vn tt nghip
LI CAM OAN
Tụi xin cam oan õy l cụng trỡnh nghiờn cu ca tụi.
Cỏc s liu, kt qu nờu trong lun vn l trung thc v xut phỏt t tỡnh
hỡnh thc t ti n v thc tp.
Tỏc gi lun vn
Sinh viờn: Nguyn Xuõn Trng
SV: Nguyn Xuõn Trng
Lp: CQ48/11.07
ii
ROS: Tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên doanh thu
TCTK: Tổng cục thống kê
TSCĐ: Tài sản cố định
VCĐ: Vốn cố định
VKD: Vốn kinh doanh
VLĐ: Vốn lưu động
SV: Nguyễn Xuân Trường
Lớp: CQ48/11.07
iii
Học viện Tài chính
Luận văn tốt nghiệp
DANH MỤC SƠ ĐỒ BẢNG BIỂU
Sơ đồ 03: Quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm Error: Reference source
not found
Bảng 2.1 Tình hình huy động và sử dụng vốn của công ty . Error: Reference
source not found
Bảng 2.2 Tình hình đầu tư và sử dụng vốn của công ty Error: Reference
source not found
Biểu đồ 2.1: Sự biến động về cơ cấu tài sản cảu công ty Error: Reference
source not found
Bảng 2.3 Đánh giá tính cân bằng tài chính của công ty Error: Reference
source not found
Bảng 2.4 Đánh giá diễn biến nguồn vốn và sử dụng vốn của công ty năm
2013 Error: Reference source not found
Bảng 2.5 Đánhgiá khả năng thanh toán của công tyError: Reference source
not found
Bảng 2.6 Đánh giá hiệu suất hoạt động của công ty . Error: Reference source
not found
Bảng 2.7 Đánh giá khái quát khả năng sinh lời của công ty Error:
Reference source not found
nhân tố thông tin có thể đánh giá được tiềm năng, hiệu quả sản xuất kinh
doanh cũng như rủi ro và triển vọng trong tương lai của doanh nghiệp, từ đó
đề xuất những giải pháp hữu hiệu để ổn định và tăng cường tình hình tài chính
giúp nâng cao chất lượng doanh nghiệp.
Trong điều kiện nền kinh tế thị trường hiện nay, công tác phân tích tài
chính ngày càng trở nên quan trọng và không thể thiếu đối với mỗi doanh
nghiệp tham gia thị trường. Xuất phát từ ý nghĩa của việc đánh giá tình hình
tài chính doanh nghiệp và thực trạng tài chính của công ty, em đã thực hiện đề
tài sau:
“Đánh giá thực trạng tài chính và các giải pháp cải thiện tình hình tài
chính tại công ty của công ty Cổ phần Prime Tiền Phong”
2. Đối tượng nghiên cứu
SV: Nguyễn Xuân Trường
Lớp: CQ48/11.07
1
Học viện Tài chính
Luận văn tốt nghiệp
Đề tài đi sâu và tìm hiểu các vấn đề liên quan đến tình hình tài chính của
doanh nghiệp như lý luận chung về tài chính doanh nghiệp, các chỉ tiêu đánh
giá thực trạng tài chính của doanh nghiệp tại công ty Cổ phần Prime Tiền
Phong huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc.
3. Phạm vi nghiên cứu
-Về không gian: Nghiên cứu về tình hình tài chính và biện pháp tài chính
nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của công ty Cổ phần Prime Tiền Phong
huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc.
-Về nguồn số liệu: Các số liệu được lấy từ sổ sách kế toán, báo cáo tài
chính các năm 2012 và 2013 của công ty Cổ phần Prime Tiền Phong
4. Mục đích nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu thực trạng tài chính và các giải pháp tài chính thực
hiện tại công ty Cổ phần Prime Tiền Phong nhằm những mục đích sau :
CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG TÀI CHÍNH
CỦA DOANH NGHIỆP
1.1 Tài chính doanh nghiệp và quản trị tài chính doanh nghiệp
1.1.1 Tài chính doanh nghiệp và các quyết định tài chính doanh nghiệp
1.1.1.1 Khái niệm tài chính doanh nghiệp
Doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế thực hiện các hoạt động sản xuất,
cung ứng hàng hóa cho người tiêu dùng qua thị trường nhằm mục đích sinh lời.
Để tiến hành sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp cần có các yếu tố
đầu vào cơ bản của quá trình sản xuất như:
- Tư liệu lao động
- Đối tượng lao động
- Sức lao động
Quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp là quá trình kết hợp
các yếu tố đầu vào để tạo ra yếu tố đầu ra là hàng hóa và tiêu thụ hàng hóa,
đem về lợi nhuận cho doanh nghiệp.
Trong nền kinh tế thị trường, mọi vận hành kinh tế đều được tiền tệ hóa
vì vậy các yếu tố trên đều được biểu hiện bằng tiền. Hay nói cách khác, để có
các yếu tố đầu vào cần thiết, doanh nghiệp cần phải có một lượng vốn tiền tệ
nhất định, và tùy theo loại hình doanh nghiệp mà có các phương thức huy
động vốn khác nhau.
Vốn vận động rất đa dạng, liên tục và không ngừng chuyển đổi hình thái
biểu hiện. Từ hình thái vốn tiền tệ ban đầu sang hình thái vốn vật tư, hàng
hóa và cuối cùng lại trở về hình thái vốn tiền tệ.
Từ số vốn tiền tệ ban đầu đó, doanh nghiệp mua sắm tài sản, trang thiết
bị, nguyên vật liệu phục vụ cho quá trình sản xuất. Sản phẩm của quá trình
sản xuất được tung ra thị trường nhờ quá trình tiêu thụ, đây chính là giai đoạn
mà doanh nghiệp bán sản phẩm và thu tiền từ bán hàng. Doanh thu bán hàng
SV: Nguyễn Xuân Trường
Lớp: CQ48/11.07
doanh nghiệp và các chủ thể kinh tế khác cung cấp hàng hóa, dịch vụ cho nhau.
SV: Nguyễn Xuân Trường
Lớp: CQ48/11.07
5
Học viện Tài chính
Luận văn tốt nghiệp
Ngoài ra, doanh nghiệp có thể cso quan hệ tài chính với các tổ chức xã
hội khác như doanh nghiệp thực hiện tài trợ cho các tổ chức xã hội…
•Quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp với người lao động.
Quan hệ này được thể hiện thông qua việc doanh nghiệp thanh toán tiền
lương, tiền công, thực hiện thưởng phạt vật chất đối với người lao động.
•Quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp với các chủ sở hữu của doanh nghiệp.
Mối quan hệ này thể hiện trong việc các chủ sở hữu thực hiện góp vốn
đầu tư hay rút vốn ra khỏi doanh nghiệp và trong việc phân chia lợi nhuận sau
thuế của doanh nghiệp.
•Quan hệ tài chính trong nội bộ doanh nghiệp.
Đây là mối quan hệ thanh toán giữa các bộ phận nội bộ doanh nghiệp
trong hoạt động kinh doanh, trong việc hình thành và sử dụng các quỹ của
doanh nghiệp, cũng như khi phân phối kết quả kinh doanh và thực hiện hạch
toán nội bộ doanh nghiệp.
Như vậy, Xét về mặt hình thức, tài chính doanh nghiệp là các quỹ tiền tệ
trong quá trình tạo lập, phân phối, sử dụng và vận động gắn liền với các hoạt
động của doanh nghiệp.
Xét về bản chất, tài chính doanh nghiệp là các quan hệ kinh tế dưới hình
thức giá trị nảy sinh gắn liền với việc tạo lập, sử dụng quỹ tiền tệ của doanh
nghiệp trong quá trình hoạt động của mình.
1.1.1.2 Các quyết định tài chính của doanh nghiệp
Trong doanh nghiệp, có rất nhiều vấn đề nảy sinh đòi hỏi các nhà quản
trị phải đưa ra những quyết định tài chính đúng đắn cho doanh nghiệp, đó là
các vấn đề liên quan đến việc tìm nguồn vốn cần thiết cho mua sắm tài sảnvà
cung cấp cho việc mua sắm tài sản, nên sử dụng vốn chủ sở hữu hay vốn vay,
nên dùng vốn vay ngắn hạn hay dài hạn. Các quyết định nguồn vốn bao gồm:
- Quyết định huy động nguồn vốn ngắn hạn, bao gồm: Quyết định vay
ngắn hạn hay quyết định sử dụng tín dụng thương mại, quyết định vay ngắn
hạn ngân hàng hay sử dụng tín phiếu công ty.
- Quyết định huy động nguồn vốn dài hạn, bao gồm: Quyết định nợ dài
hạn hay vốn cổ phần, quyết định vay dài hạn ngân hàng hay phát hành trái
phiếu công ty, quyết định sử dụng vốn cổ phần thông hay vốn cổ phần ưu đãi,
quyết định vay để mua hay thuê tài sản…
SV: Nguyễn Xuân Trường
Lớp: CQ48/11.07
7
Học viện Tài chính
Luận văn tốt nghiệp
Những quyết địnhvề nguồn vốn nêu trên đang là một thách thức không
nhỏ đối với các nhà quản trị tài chính của doanh nghiệp. Để có thể có các
quyết định nguồn vốn đúng đắn, các nhà quản trị tài chính phải nắm vững
những điểm lợi, bất lợi của việc sử dụng các công cụ huy động vốn, đồng thời
phải căn cứ vào tình hình hiện tại và dự báo tương lai để ra quyết định phù
hợp với từng thời điểm cụ thể.
•Quyết định phân chia lợi nhuận
Đây là quyết định gắn liền với chính sách cổ tức của doanh nghiệp.Trong
quyết định này, nhà quản trị tài chính sẽ phải lựa chọn giữa việc sử dụng phần
lớn lợi nhuận sau thuế để chia cổ tức hay là giữ lại để tái đầu tư. Những quyết
định này liên quan đến việc doanh nghiệp nên theo chính sách cổ tức nào và
liệu chính sách cổ tức có tác động gì đến giá trị của doanh nghiệp hay giá cổ
phiếu trên thị trường của doanh nghiệp hay không.
Như vậy, trong mỗi một quyết định tài chính, các nhà quản trị tài chính
luôn phải đối mặt với sự mâu thuẫn giữa rủi ro và tỷ suất sinh lời.Một quyết
định tài chính khôn ngoan là quyết định có thể tối đa hóa được giá trị doanh
phải xem xét các khoản chi tiêu vốn cho đầu tư và dự tính thu nhập trong
tương lai, hay nói cách khác đó là xem xét dòng tiền liên quan đến khoản đầu
tư, từ đó đánh giá và ra quyết định đầu tư.
Thứ hai, Xác định nhu cầu vốn và tổ chức huy động vốn đáp ứng kịp
thời, đủ nhu cầu vốn cho các hoạt động của doanh nghiệp
Vốn là yếu tố và là tiền đề cần thiết cho việc hình thành và phát triển
hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.Nhà quản trị cần phải xác định các
nhu cầu vốn cần thiết cho các hoạt động của doanh nghiệp trong kỳ, từ đó tổ
chức huy động các nguồn vốn đáp ứng kịp thời, đầy đủ, có lợi cho các hoạt
động doanh nghiệp.
Để đi đến quyết định lựa chọn hình thức và phương pháp huy động vốn
thích hợp, cần xem xét cân nhắc trên nhiều khía cạnh như: Kết cấu nguồn
vốn, những điểm lợi, bất lợi của từng hình thức huy động vốn, chi phí sử dụng
mỗi nguồn vốn…
Thứ ba, sử dụng có hiệu quả số vốn hiện có, quản lý chặt chẽ các khoản
thu, chi và đảm bảo khả năng thanh toán của doanh nghiệp
Nhà quản trị phải tìm mọi biện pháp huy động vốn tối đa số vốn hiện có
của doanh nghiệp vào hoạt động kinh doanh, giải phóng kịp thời số vốn ứ
SV: Nguyễn Xuân Trường
Lớp: CQ48/11.07
9
Học viện Tài chính
Luận văn tốt nghiệp
đọng, theo dõi chặt chẽ và thực hiện tốt việc thanh toán và thu hồi tiền bán
hàng cùng các khoản thu khác, đồng thời quản lý chặt chẽ mọi khoản chi phát
sinh trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp, thiết lập sự cân bằng giữa
thu và chi vốn bằng tiền đảm bảo khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn.
Thứ tư, thực hiện phân phối lợi nhuận, trích lập và sử dụng các quỹ của
doanh nghiệp
Sau khi thực hiện hoạt động sản xuất kinh doanh và thu được lợi nhuận,
vận hành theo cơ chế thị trường, các doanh nghiệp tự chủ hoàn toàn về sản
xuất kinh doanh và tài chính, đồng thời phải đương đầu với nhiều thách thức
do cạnh tranh khốc liệt và sự biến động khôn lường của thị trường thì vai trò
của quản trị tài chính doanh nghiệp lại trở nên quan trọng hơn bao giờ hết.
Vai trò của quản trị tài chính doanh nghiệp được thể hiện qua các mặt
chủ yếu sau:
Một là, huy động vốn đảm bảo cho các hoạt động của doanh nghiệp diễn
ra bình thường và liên tục.
Vốn tiền tệ là tiền đề cho các hoạt động của doanh nghiệp. Trong quá
trình hoạt động , doanh nghiệp thường xuyên nảy sinh các nhu cầu về vốn
ngắn hạn và dài hạn cho hoạt động động kinh doanh thường xuyên cũng như
cho đầu tư phát triển doanh nghiệp. Nếu không kịp thời huy động đủ vốn sẽ
làm gián đoạn hoạt động doanh nghiệp. Do vậy, việc đảm bảo cho hoạt động
của doanh nghiệp được tiến hành bình thường, liên tục phụ thuộc rất lớn vào
việc tổ chức huy động vốn của tài chính doanh nghiệp.
Hai là, tổ chức sử dụng vốn tiết kiệm, hiệu quả, góp phần nâng cao hiệu
quả kinh doanh của doanh nghiệp.
Với việc lựa chọn các dự án đầu tư tối ưu trên cơ sở cân nhắc so sánh
giữa rủi ro và tỷ suất sinh lời, chi phí huy động vốn và mức rủi ro của dự án
đầu tư… mà nhà quản trị tài chính đã tạo tiền đề cho việc sử dụng vốn tiết
kiệm và đạt hiệu quả cao.
Việc tổ chức huy động vốn kịp thời, đầy đủ sẽ giúp doanh nghiệp chớp
được cơ hội kinh doanh, tăng doanh thu và lợi nhuận doanh nghiệp. Việc lựa
chọn hình thức và các phương pháp huy động vốn thích hợp, đảm bảo cơ cấu
SV: Nguyễn Xuân Trường
Lớp: CQ48/11.07
11
Học viện Tài chính
Luận văn tốt nghiệp
vốn tối ưu có thể giúp doanh nghiệp giảm bớt chi phí sử dụng vốn, góp phần
12
Học viện Tài chính
Luận văn tốt nghiệp
với doanh nghiệp tư nhân thì vốn là do chủ doanh nghiệp tư nhân tự bỏ ra,
cũng có thể huy động thêm từ bên ngoài dưới hình thức đi vay. Loại doanh
nghiệp này không được phép phát hành một loại chứng khoán nào trên thị
trường để tăng vốn. Phần thu nhập sau thuế thuộc quyền sở hữu và sử dụng
của chủ doanh nghiệp. Còn đối với công ty trách nhiệm hữu hạn thì vốn điều
lệ của công ty là do các thành viên đóng góp. Trong quá trình hoạt động vốn
có thể tăng nên nhờ kết nạp thêm thành viên mới, trích từ quỹ dự trữ hoặc đi
vay bên ngoài nhưng không được phép phát hành chứng khoán. Việc phân
chia lợi nhuận sau thuế do các thành viên quyết định, mức lợi nhuận các thành
viên nhận được phụ thuộc vào vốn đóng góp…
Do vậy, khi phân tích đánh giá và lựa chọn các quyết định tài chính, nhà
quản trị không thể bỏ qua hình thức pháp lý của doanh nghiệp, bởi với mỗi
hình thức pháp lý khác nhau sẽ có sự khác nhau trong việc lựa chọn các quyết
định tài chính.
•Đặc điểm kinh tế - kỹ thuật của ngành kinh doanh
Tổ chức tài chính doanh nghiệp còn dựa vào đặc điểm kinh tế - kỹ thuật
của ngành kinh doanh.Mỗi ngành kinh doanh có đặc điểm về mặt kinh tế và
kỹ thuật riêng. Những đặc điểm đó đã ảnh hưởng đến cơ cấu vốn kinh doanh
của doanh nghiệp (ngành công nghiệp khai thác, công nghiệp chế biến vốn cố
định chiếm tỷ trọng khác nhau trong tổng số vốn kinh doanh); ảnh hưởng đến
tốc độ luân chuyển vốn (tốc độ luân chuyển vốn của doanh nghiệp sản xuất
chậm hơn tốc độ luân chuyển vốn của các doanh nghiệp thương mại dịch vụ,
doanh nghiệp sản xuất kinh doanh có tính chất thời vụ khác với doanh nghiệp
sản xuất kinh doanh liên tục…).
•Môi trường kinh doanh
Môi trường kinh doanh bao gồm tất cả các điều kiện bên ngoài ảnh
hưởng tới hoạt động của doanh nghiệp. Do đó, việc tổ chức tài chính doanh
các doanh nghiệp tích tụ vốn, sử dụng vốn tiết kiệm và có hiệu quả.
1.2 Đánh giá thực trạng tài chính của doanh nghiệp
1.2.1Tổng quan về đánh giá thực trạng tài chính doanh nghiệp
1.2.1.1 Khái niệm đánh giá thực trạng tài chính doanh nghiệp
SV: Nguyễn Xuân Trường
Lớp: CQ48/11.07
14
Học viện Tài chính
Luận văn tốt nghiệp
Đánh giá thực trạng tài chính doanh nghiệp là quá trình thu thập và phân
tích các thông tin tài chính, tính toán các chỉ số, để đối chiếu xem hoạt động
của doanh nghiệp có đạt được mục tiêu, kết quả tương xứng với nguồn lực
(chi phí) bỏ ra hay không. Thông thường, đáng giá nhằm phân tích sự phù
hợp, tính hiệu quả của tài chính doanh nghiệp.
Đánh giá là một khâu rất quan trọng, nó ảnh hưởng rất lớn đối với hiệu
quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.Từ những kết quả đánh giá, các
nhà quản trị sẽ căn cứ vào đó mà đưa ra các quyết định tài chính cho phù hợp.
Đánh giá càng tốt thì việc ra quyết định càng đúng đắn. Đánh giá cần được
phải tiến hành thường xuyên và có hệ thống.
1.2.1.2. Mục tiêu của đánh giá thực trạng tài chính doanh nghiệp
Trong nền kinh tế thị trường có sự quản lý vĩ mô của Nhà nước, ngoài
chủ doanh nghiệp, các nhà quản trị doanh nghiệp, người lao động, còn có
nhiều đối tượng bên ngoài quan tâm đến tài chính của doanh nghiệp như các
nhà đầu tư, các nhà cung cấp tín dụng… Mỗi đối tượng lại quan tâm đến tài
chính doanh nghiệp dưới những góc độ khác nhau. Do đó đối với mỗi đối
tượng thì đánh giá thực trạng tài chính doanh nghiêp cũng nhằm các mục tiêu
khác nhau. Cụ thể:
•Đối với nhà quản lý doanh nghiệp:
- Tạo ra những chu kỳ đều đặn để đánh giá hoạt động quản lý trong giai
đoạn đã qua, việc thực hiện cân bằng tài chính, khả năng sinh lời, khả năng
Tài liệu phục vụ công tác đánh giá tài chính doanh nghiệp rất đa dạng,
phong phú chủ yếu nhất là các báo cáo tài chính của đơn vị. Việc đọc, hiểu
các báo cáo tài chính cho phép các chủ thể phân tích xác định và hiểu rõ nội
dung kinh tế của các chỉ tiêu phân tích cũng như nguyên nhân khiến chúng
biến động.
- Bảng cân đối kế toán (CĐKT) là Báo cáo tài chính chủ yếu, phản ánh
tổng quát toàn bộ tình hình tài sản và nguồn hình thành tài sản của DN tại một
thời điểm nhất định.
Nội dung của Bảng CĐKT thể hiện qua hệ thống chỉ tiêu phản ánh tình hình
tài sản và nguồn hình thành tài sản. Các chỉ tiêu được phân loại, sắp xếp thành
từng loại, mục và chỉ tiêu cụ thể phù hợp với yêu cầu của công tác quản lý.
SV: Nguyễn Xuân Trường
Lớp: CQ48/11.07
16
Học viện Tài chính
Luận văn tốt nghiệp
- Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh: là báo cáo tài chính tổng hợp,
phản ánh tổng quát tình hình và kết quả hoạt động kinh doanh trong một kỳ
kế toán của doanh nghiệp chi tiết theo từng hoạt động sản xuất kinh doanh.
- Báo cáo lưu chuyển tiền tệ: là một bộ phận hợp thành hệ thống Báo cáo
tài chính doanh nghiệp, cung cấp thông tin giúp cho người sử dụng đánh giá
các thay đổi trong tài sản thuần, cơ cấu tài chính, khả năng chuyển đổi tài sản
thành tiền, khả năng thanh toán và khả năng tạo ra các luồng tiền trong quá
trình hoạt động của doanh nghiệp.
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ dùng để kiểm tra thực trạng lưu chuyển tiền
của doanh nghiệp, đánh giá các dự đoán trước đây về các luồng tiền; kiểm tra
mối quan hệ giữa khả năng sinh lời với lượng lưu chuyển tiền thuần và dự
đoán khả năng về độ lớn, thời gian và tốc độ lưu chuyển của các luồng tiền
trong tương lai qua đó cung cấp thông tin cho các chủ thể quản lý.
- Thuyết minh báo cáo tài chính: Là bản giải trình chi tiết một số chỉ tiêu
nghiệp tương lai. Từ đó giúp cho nhà quản lý đưa ra được các quyết định kinh
tế phù hợp với các nục tiêu mong muốn của họ. Để đáp ứng mục tiêu của
phân tích tài chính người ta thường sử dụng phương pháp sau:
- Phương pháp so sánh
- Phương pháp hệ số
- Phương pháp phân tích mối quan hệ tương tác giữa các hệ số tài chính
•Phương pháp so sánh
- Nguyên tắc: Đảm bảo điều kiện có thể so sánh được của các chỉ tiêu tài
chính (thống nhất về không gian, thời gian, nội dung, tính chất và đơn vị tính
toán…)
Gốc so sánh: Gốc về mặt thời gian hoặc không gian
Kỳ phân tích: Kỳ báo cáo hoặc kỳ kế hoạch.
Giá trị so sánh: Có thể là số tuyệt đối, số tương đối hoặc số bình quân.
So sánh giữa số thực hiện kỳ này với số thực hiện kỳ trước để thấy rõ
xu hướng thay đổi về tài chính của doanh nghiệp.
SV: Nguyễn Xuân Trường
Lớp: CQ48/11.07
18
Học viện Tài chính
Luận văn tốt nghiệp
So sánh giữa số thực hiện kỳ này với số kế hoạch để thấy mức độ phát
triển của doanh nghiệp.
So sánh giữa số liệu doanh nghiệp với số liệu trung bình ngành, doanh
nghiệp khác để đánh giá tình hình tài chính của doanh nghiệp mình.
So sánh theo chiều dọc để xem xét tỷ trọng của từng chỉ tiêu so với
tổng thể.
So sánh theo chiều ngang của nhiều kỳ để thấy được sự biến đổi cả về
số lượng tương đối và tuyệt đối của một chỉ tiêu nào đó qua các niên độ kế
toán liên tiếp.
•Phương pháp hệ số
vốn chủ sở hữu và các nguồn vốn vay.
Để đảm bảo cho hoạt động kinh doanh có hiệu quả cao, thông thường
doanh nghiệp phải phối hợp cả hai nguồn vốn: nguồn vốn chủ sở hữu và nợ
phải trả. Sự kết hợp giữa hai nguồn này phụ tuộc vào đặc điểm của ngành mà
doanh nghiệp hoạt động, tùy thuộc vào quyết định của người quản lý trên cơ
sở xem xét tình hình kinh doanh và tài chính của doanh nghiệp.
Mục tiêu của việc đánh giá tình hình huy động vốn của doanh nghiệp là
để thấy được doanh nghiệp đã huy động vốn từ những nguồn nào? Quy mô
nguồn vốn tăng hay giảm? Cơ cấu nguồn vốn tự chủ hay phụ thuộc? Từ đó
điều chỉnh chính sách huy động vốn phù hợp với từng thời kỳ cụ thể.
Sự biến động của nguồn vốn được thực hiện bằng cách so sánh cả tổng
số và từng loại, từng chỉ tiêu nguồn vốn giữa cuối kỳ và đầu kỳ để xác định
chênh lệch tuyệt đối và chênh lệch tương đối của tổng số cũng như từng loại,
từng chỉ tiêu nguồn vốn.
Đánh giá cơ cấu nguồn vốn bằng cách tiến hành xác định tỷ trọng từng
loại, từng chỉ tiêu nguồn vốn chiếm trong tổng của nó ở cuối kỳ và đầu kỳ.
Căn cứ vào kết quả so sánh, có thể đánh giá được cơ cấu nguồn vốn và sự
thay đổi cơ cấu nguồn vốn.
Chỉ tiêu phản ánh cơ cấu nguồn vốn được xác định theo công thức:
SV: Nguyễn Xuân Trường
Lớp: CQ48/11.07
20