BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
NGUYỄN THỊ PHƢƠNG PHONG CÁCH NGHỆ THUẬT
TIỂU THUYẾT MA VĂN KHÁNG
(QUA MÙA LÁ RỤNG TRONG VƯỜN,
ĐÁM CƯỚI KHÔNG CÓ GIẤY GIÁ THÖ, NGƯỢC DÕNG NƯỚC LŨ)
Chuyên ngành: Lí luận văn học
Mã số :60 22 01 20 LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS. TS Tôn Thảo Miên
HÀ NỘI, NĂM 2014
LỜI CẢM ƠN
2. Lịch sử vấn đề 3
4. Mục đích nghiên cứu 10
5. Phƣơng pháp nghiên cứu và bố cục luận văn 11
6. Đóng góp của luận văn 11
NỘI DUNG 12
CHƢƠNG 1 12
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT PHONG CÁCH NGHỆ THUẬT VÀ SỰ
HÌNH THÀNH PHONG CÁCH NGHỆ THUẬT TIỂU THUYẾT 12
MA VĂN KHÁNG 12
1.1. Khái quát về phong cách nghệ thuật 12
1.1.1. Một số quan niệm về phong cách nghệ thuật 12
1.1.1.1. Quan niệm của các nhà nghiên cứu nước ngoài 12
1.1.1.2. Quan niệm của các nhà nghiên cứu trong nước 14
1.1.1.3. Quan niệm về phong cách nghệ thuật của tác giả luận văn 19
1.1.2. Một số khuynh hướng nghiên cứu phong cách nghệ thuật 19
1.2. Những nhân tố tác động đến sự hình thành phong cách nghệ thuật
tiểu thuyết Ma Văn Kháng 20
1.2.1. Những nhân tố tác động đến sự hình thành phong cách nghệ
thuật nhà văn nói chung 20
1.2.2. Những nhân tố tác động đến sự hình thành phong cách nghệ
thuật nhà văn Ma Văn Kháng. 23 1.2.2.1. Tố chất thông minh sắc sảo và cá tính sáng tạo của nhà văn 23
1.2.2.2. Sự chuyển mình mạnh mẽ của một cơ chế xã hội mới 27
CHƢƠNG 2 30
THẾ GIỚI NHÂN VẬT TRONG TIỂU THUYẾT MA VĂN KHÁNG 30
2.1. Quan niệm nghệ thuật về con ngƣời trong văn học và trong tiểu thuyết
Ma Văn Kháng. 30
2.1.1. Quan niệm nghệ thuật về con người trong văn học 30
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 113
1
MỞ ĐẦU
1.Lý do chọn đề tài
Phong cách nghệ thuật là một vấn đề có tính lý luận và thực tiễn quan
trọng của ngành ngữ văn nói chung và chuyên ngành lý luận nói riêng. Việc
nghiên cứu phong cách nghệ thuật sẽ giúp người nghiên cứu có được một hệ
thống những luận điểm quan trọng để đánh giá giá trị của tác phẩm khám phá
những nét độc đáo trong sáng tác của nhà văn trong một trào lưu, một nền văn
học.
Tiểu thuyết là một thể loại lớn nằm trong phương thức tự sự có khả
năng phản ánh hiện thực đời sống một cách bao quát ở mọi giới hạn không
1984, Ma Văn Kháng còn vinh dự nhận giải thưởng văn học Đông Nam Á
(1998) và giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật (2001). Với những
thành tựu kể trên, Ma Văn Kháng đã tự khẳng định vị thế của mình trong nền
văn học Việt Nam đương đại.
Lâu nay, đã có khá nhiều bài viết, các công trình nghiên cứu về tác giả
Ma Văn Kháng và các tác phẩm của ông. Nhưng hầu hết là những đánh giá,
nhận định chung về từng tác phẩm cụ thể, về hình tượng nghệ thuật… Với các
công trình nghiên cứu công phu như các luận văn Thạc sĩ, luận án Tiến sĩ tuy
đã hướng vào những khía cạnh chuyên biệt như: kiểu nhân vật đặc trưng của
thể loại, cảm hứng nghệ thuật hoặc những dấu hiệu đổi mới văn học qua sáng
tác của ông và một số nhà văn tiêu biểu cùng thời, nhưng việc đi sâu tìm hiểu
nghiên cứu , khám phá phong cách nghệ thuật tiểu thuyết của Ma Văn Kháng
từ góc độ cái nhìn, giọng điệu và ngôn ngữ nghệ thuật để thấy sâu sắc hơn
quan niệm của nhà văn về hiện thực cuộc sống và con người trong một giai
đoạn phát triển đầy phức tạp của xã hội thì vẫn còn khoảng trống.
Với nhứng lý do trên chúng tôi mạnh dạn lựa chọn vấn đề Phong cách
nghệ thuật tiểu thuyết Ma Văn Kháng (qua - Mùa lá rụng trong vườn, Đám 3
cưới không có giấy giá thú, Ngược dòng nước lũ) làm đề tài nghiên cứu của
mình. Việc nghiên cứu một cách hệ thống vấn đề này sẽ giúp chúng ta thấy rõ
vị thế của các yếu tố phong cách nghệ thuật (cái nhìn, nghệ thuật xây dựng
nhân vật, giọng điệu và ngôn ngữ) trong việc thể hiện tư tưởng nghệ thuật của
nhà văn. Từ đó khẳng định đóng góp to lớn của Ma Văn Kháng về phương
diện sáng tạo nghệ thuật tiểu thuyết thời kỳ đổi mới, đồng thời đề tài cũng
góp phần làm tư liệu tham khảo cho các sinh viên, học viên và những người
yêu thích văn học Việt Nam hiện đại.
Hy vọng đây là một hướng tiếp cận có ý nghĩa góp phần vào việc
nghiên cứu, giảng dạy tác phẩm của Ma Văn Kháng Văn Kháng trong và
quan tâm lớn nhất và có nhiều kiến giải về văn xuôi Ma Văn Kháng Văn
Kháng. Theo ông, tiểu thuyết về miền núi của Ma Văn Kháng Văn Kháng
“làm sống lại bức tranh hiện thực mang tính sử thi về con đường của các dân
tộc miền núi phía Bắc làm cuộc đổi đời đi theo cách mạng” thông qua một thế
giới nhân vật đặc sắc gồm “những chân dung chân thực, đầy chất biếm họa về
loại nhân vật địch, nhân vật tiêu cực”, “những người con yêu quý của dân tộc
Hmông”. Tác giả cũng cho rằng “từ Đồng bạc trắng hoa xòe đến Gặp gỡ ở La
Pan Tẩn, Ma Văn Kháng đã có bước tiến dài về tư duy tiểu thuyết, bút lực
ngày càng uyển chuyển, tung hoành , lão thực” . Bên cạnh đó, bàn về thế giới
nhân vật trong văn xuôi thế sự, đời tư của Ma Văn Kháng, Nguyễn Ngọc
Thiện nhận thấy nhà văn “đã hướng ngòi bút chú mục đào sâu, soi lật cặn kẽ,
nghiêm ngặt vào khía cạnh hiện diện như thực thể khó nắm bắt trong đời sống
con người hiện đại hôm nay. Đó là sự thúc đẩy chi phối nhiều khi với sức
mạnh vô hình nhưng khắc nghiệt của những ham muốn tiềm ẩn nơi mỗi con
người hoặc là sự xung đột, va chạm gay gắt về lợi ích giữa những dục vọng
của những cá thể khác nhau”. Nhìn chung, theo nhà nghiên cứu này, văn xuôi
Ma Văn Kháng không xa lạ với cuộc sống con người, nó khơi dậy cho người 5
ta những cảm xúc phong phú về trạng thái nhân thế. Chất nhân văn, vẻ bi
tráng và nét trữ tình đằm thắm ngày càng ngời lên, phát lộ và đó là nét đặc sắc
riêng trong văn phẩm của ông. Đây là những gợi ý rất quan trọng của tác giả
luận văn khi xem xét sự thay đổi theo hướng hiện đại hóa của tư duy nghệ
thuật Ma Văn Kháng, kể từ những sáng tác sau này về đề tài đô thị gắn với
thế sự, đời tư.
Bên cạnh những nghiên cứu mang tính hệ thống khoa học của PGS. TS
Nguyễn Ngọc Thiện, còn là rất nhiều những công trình bài viết của nhiều nhà
nghiên cứu phê bình tên tuổi. Bởi tiểu thuyết Ma Văn Kháng đương đại đã
thực sự gây được sự chú ý,quan tâm đặc biệt của đông đảo độc giả cũng như
Nam hiện nay, đặt ra những vấn đề bức thiết,mỗi con người, mỗi gia đình
phải sống như thế nào và xã hội phải quan tâm lại như thế nào”. Năm 1999,
trong “Cuộc thảo luận tiểu thuyết Mùa lá rụng trong vườn) lá rụng trong
vườn của Ma Văn Kháng, Hồ Anh Thái đã có những nhận xét sắc sảo: “so với
Mưa mùa hạ, cuốn tiểu thuyết này vượt lên với cách nhìn đời, nhìn người lịch
lãm, không duy lý mà hợp tình, phải lẽ, với nghệ thuật xây dựng nhân vật tinh
túy, điêu luyện… Nó là tiểu thuyết đã đạt đến độ hoàn chỉnh”…
Sau Mùa lá rụng trong vườn, sự xuất hiện của cuốn tiểu thuyết Đám
cưới không có giấy giá thú) cưới không có giấy giá thú (1989) thực sự gây lên
một cơn sốt. Một loạt các bài viết bàn về tác phẩm này ra đời: “Nếu đời là
một vại dưa muối hỏng” (Vũ Dương Quỹ), “Nếu Đám cưới không có giấy giá
thú) cưới không có giấy giá thú”(Nguyễn Văn Lưu), “Đám cưới không có
giấy giá thú” (Mai Thục)…Ngày 11.1.1990, báo Văn nghệ đã tổ chức “Cuộc
thảo luận về tiểu thuyết Đám cưới không có giấy giá thú” với sự tham gia của
nhiều nhà văn nhà nghiên cứu phê bình văn học có tiếng. Trong cuộc thảo
luận, những người tham gia đã bàn về cả những mặt thành công và hạn chế
của tác phẩm cả trên phương diện nội dung và nghệ thuật. Theo GS Phan Cự 7
Đệ “tác phẩm có nhiều trang sinh động hấp dẫn trong đối thoại, tranh luận
hoặc dựng người dựng cảnh, nhưng cũng có nhiều trang chìm sâu một cách
nặng nề vào suy tư, những biện giải mảng màu sắc duy lý của tiểu thuyết luận
đề”
Đến năm 1999, Ma Văn Kháng tiếp tục gây chú ý đối với dư luận bởi
cuốn tiểu thuyết Ngược dòng nước lũ. Hồ Anh Thái nhận xét “cảm hứng phê
phán mỗi ngày mạnh hơn cảm hứng trữ tình…Dường nhưn tập hợp đầy đủ
mọi thói tật nhỏ nhen đố kỵ, mọi mưu chước công chức hành chính ở đây”.
Nguyễn Ngọc Thiện khi bàn về tác phẩm này trong cuốn sách “Tài năng và
bản lĩnh nghệ sĩ” (NXB Hội nhà văn Hà Nội, 2000) của Ma Văn Kháng ánh
viết luận văn hiểu thêm về văn chương Ma Văn Kháng.
Trong nghiệp cầm bút của mình bên cạch sự thành công về thể loại
tiểu thuyết, Ma Văn Kháng cũng gặt hái những thành công đáng kể ở thể loại
truyện ngắn. Thời kì 1975-1985 Ma Văn Kháng tập trung sáng tác tiểu thuyết
và ông đã đạt được nhiều thành công. Đồng bạc trắng hoa xòe (1979); Vùng
biên ải (1983) đã tái hiện được “cả một giải đoạn lịch sử ngắn ngủi những rắc
rối vào bậc nhất của CMVN, tiến hành trên một vùng núi phong kiến nghéo
nàn lạc hậu”[61-140]. Theo Hoàng Tiến, Đồng bạc trắng hoa xòe đã xác định
lên hàng loạt nhân vật nào cũng có đường dẫn riêng, phát triển tâm lý và tính
cách như là nhân vật chính và “tác giả thành công đặc biệt là nhân vật người
Mèo với lối sử dụng cách nói miền núi”[61-140]. Bên cạch việc đánh giá
thành công của tác phẩm ông cũng chỉ ra được những hạn chế của việc xử lý
nhân vật, ông cho rằng tác giả “ như một phù thủy non tay cướp gọi âm binh
lên dầy đặc nhưng không đủ sức sai phái chúng”[61-145], Vùng biên ải
(1983) ra đời thể hiện sự đấu tranh quyết liện căng thẳng giữa lực lượng cách
mạng và phản cách mạng, đặc biệt là sự hoành hành của hiện tượng quái gở
nhất trong giai đoạn lịch sử này mà ta gọi là thổ phỉ. Bài viết của Đỗ Ngọc
Thạch đã khẳng định Ma Văn Kháng đã đạt được những thành công nhất định 9
trong xây dụng nhân vật, phản ánh chiều sâu tâm lý nhân vật “sáng tạo nên
một hệ thống nhân vật có tính cách mạnh mẽ và sắc nét, mỗi nhân vật đều có
vị trí xứng đáng trong tác phẩm”[60-135], ta không còn thấy sự rạch ròi giữa
cái xấu cái tốt, cái ác , cái thiện như các tác phẩm ở thời kì trước mà cái xấu
,cái thấp hèn, cái ác nó chui lủi ở mọi nơi. Đám cưới không có giấy giá thú
(1989)…với những tác phẩm này Ma Văn Kháng đã chứng mình ông không
chỉ là nhà văn của vùng cao, mà ông đã tạo ra một sắc thái mới cho mảnh đất
đồng bằng này. Nhà văn đã đặt ra nhiều vấn đề về con người trong cuộc sống
ngày hôm nay. Nhân vật trong tác phẩm của ông trở nên phong phú đa dạng
nên phong cách tiểu thuyết Ma Văn Kháng; thế giới nhân vật, các kiểu nhân
vật, nghệ thuật xây dựng nhân vật; ngôn ngữ và giọng điệu trần thuật.
Trong quá trình nghiên cứu những sáng tác của Ma Văn Kháng , chúng
tôi tập trung vào một số tiểu thuyết tiêu biểu của nhà văn như Mùa lá rụng
trong vườn, Đám cưới không có giấy giá thú, Ngược dòng nước lũ. Tuy nhiên
để thấy rõ sự chuyển hướng trong phong cách nghệ thuật của nhà văn, chúng
tôi có đề cập đến sáng tác của nhà văn trước đổi mới và có so sánh với những
nhà văn khác.
4. Mục đích nghiên cứu
Chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: Phong cách nghệ thuật tiểu
thuyết Ma Văn Kháng (qua Mùa lá rụng trong vườn, Đám cưới không có giấy
giá thú, Ngược dòng nước lũ) nhằm hướng tới mục đích cụ thể như sau:
Luận văn chỉ ra được những nét đặc sắc riêng trong thế giới nghệ thuật
của nhà văn từ đó góp phần khẳng định phong cách nghệ thuật Ma Văn
Kháng.
Nâng cao khả năng cắt nghĩa, lý giải truyền thụ cho giáo viên - học
sinh trong quá trình giảng dạy và học tập về tác phẩm của Ma Văn Kháng
trong trường THPT. 11
Chỉ ra yếu tố chi phối nghệ thuật và phong cách nghệ thuật của Ma
Văn Kháng, qua đó khẳng định mối quan hệ thống nhất hữu cơ giữa các yếu
tố nổi trội: Vấn đề lý luận phong cách, các yếu tố hình thành nên phong cách
tiểu thuyết Ma Văn Kháng; thế giới nhân vật, các kiểu nhân vật, nghệ thuật
xây dựng nhân vật; ngôn ngữ và giọng điệu trần thuật. Khẳng định sự đóng
góp to lớn của Ma Văn Kháng trong văn học Việt Nam thời kì đổi mới
5. Phƣơng pháp nghiên cứu và bố cục luận văn
Để hoàn thành nhiệm vụ nghiên cứu mà đề tài đặt ra, trong quá trình
nghiên cứu chúng tôi sử dụng các phương pháp:
(La Mã), “style” (Pháp). Nó được coi như một thuật ngữ của ngôn ngữ học,
nghệ thuật và văn học (với nghĩa khởi đầu là “nét chữ, bút pháp”).
Có nhiều định nghĩa về phong cách - những định nghĩa này xòe ra
như cái quạt giữa sự thừa nhận phong cách là một phạm trù thẩm mỹ rộng
nhất, bao quát và sự thừa nhận nó như những đặc điểm của một tác phẩm văn
học riêng lẻ (theo M. B. Khravchenco).
Ở đây tạm thời chúng tôi chia làm hai khu vực:
1 - Quan niệm của các nhà nghiên cứu nước ngoài (chủ yếu là Liên
Xô cũ)
2 – Quan niệm của các nhà nghiên cứu trong nước.
Trong phần này, chúng tôi sẽ điểm qua một số quan niệm trong hai
khu vực đó
1.1.1.1. Quan niệm của các nhà nghiên cứu nƣớc ngoài
Ở Phương Tây ngay từ thời cổ đại với các đại biểu xuất sắc như
Platon, Aristotle, khái niệm phong cách đã được nghiên cứu và vận dụng. Thế
kỷ XIX - XX, khái niệm phong cách ngày càng được quan tâm sâu sắc. 13
Do điều kiện tài liệu có hạn, ở đây chúng tôi nghiên cứu chủ yếu dựa
trên các định nghĩa khác nhau về phong cách của các nhà nghiên cứu Liên Xô cũ.
Đ. Likhachev đặc biệt nhấn mạnh đến vai trò phong cách của nhà văn
trong việc tái tạo hiện thực đời sống bằng các phương tiện nghệ thuật, đồng
thời nhìn nhận phong cách với hai tư cách: “Phong cách như là hiện tượng
ngôn ngữ văn học và phong cách như là một hệ thống hình thức và nội dung
nhất định”. Còn Ar. Grigorian nêu lên mối quan hệ gắn bó giữa phong cách
và phương pháp, thế giới quan, bút pháp của cá nhân nghệ sĩ:“Phong cách là
sự thống nhất cao nhất của tất cả các phạm trù đó”.
V. Turbin nhấn mạnh tới yếu tố ngôn ngữ trong việc định hình một
phong cách. V. Jirmunxky chú ý tới thế giới quan và sự thể hiện thế giới quan
Như vậy, xung quanh khái niệm phong cách nghệ thuật có nhiều quan
điểm khác nhau nhưng tựu trung lại có hai nguồn ý kiến cơ bản: một nhấn
mạnh sự thống nhất của những yếu tố nội dung và yếu tố hình thức của tác
phẩm; một cho rằng phong cách được coi như là hình thức toàn vẹn có tính
nội dung.
Mặc dù vậy, vẫn có thể nhận ra sự thống nhất, bởi các tác giả đều
quan tâm đặc biệt đến hai yếu tố: thứ nhất là nội dung và hình thức nghệ thuật
của tác phẩm văn chương và thứ hai tài năng độc đáo của cá nhân nghệ sĩ.
1.1.1.2. Quan niệm của các nhà nghiên cứu trong nƣớc
Phong cách văn học, theo Trần Đình Sử, tuy khuynh hướng có khác
nhau, song về đại thể hầu hết các nghiên cứu đều có cách tiếp cận chung khá
thống nhất là xét tần xuất để xác định hiện tượng độc đáo, sau đó xây dựng
mô hình chỉnh thể, hệ thống, giải thích các hiện tượng tìm được về mặt quan
niệm của thời đại và của tác giả. Đó là cách tiếp cận khách quan.
Hoài Thanh có lần viết về phong cách trong phê bình văn học: “Chớ
vội đi tìm cái gọi là phong cách. Hãy cứ nghiên cứu thật sâu, thật kỹ, gắng 15
phát hiện những vấn đề ẩn khuất bằng cả tâm hồn và trí tuệ của mình, kỳ thật
chín. Sau đó hãy cầm bút. Và hãy cố biểu đạt sao cho chính xác nhất, gọn
nhất ý tưởng của mình. Lúc này, phong cách tự nó sẽ đến. Không phải mất
công tìm kiếm gì cả. Bởi vì phong cách chính là tổng thể quá trình sáng tác
đó”. Ý kiến đó phải chăng cũng là quan niệm phong cách văn chương nói
chung?
Một trong những người đầu tiên thực hành phê bình phong cách học ở
Việt Nam là Phan Ngọc với công trình Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du trong
Truyện Kiều. Công trình này là một tìm tòi về phong cách học trong khi bộ
môn này ở Việt Nam còn thiếu một lý luận nhất quán để khẳng định như một
khoa học thật sự. Ông phải tiến hành xây dựng lại các khái niệm của môn
giáo hóa nặng nề. Tiếng nói cá nhân mạnh mẽ của bà trong những bài thơ
“Thi trung hữu quỷ” ấy đã phá vỡ phong cách chung của thể loại thơ Đường
để tạo nên phong cách thơ Hồ Xuân Hương - Bà Chúa Thơ Nôm: Một phong
cách cà khịa trong hoài niệm phồn thực.
Nguyễn Đăng Mạnh lại coi tác giả là nhân tố quan trong nhất ảnh
hưởng đến tác phẩm. Thậm chí, tác phẩm chỉ là sản phẩm, là con đẻ của nhà
văn nên có thể xem cha để biết con, xem cây táo để biết quả táo… Hành trình
đi vào thế giới nghệ thuật của Nguyễn Đăng Mạnh có xuất phát điểm là Nhà
văn, đến điểm giữa là Tư tưởng nghệ thuật và điểm cuối cùng là Phong cách.
Rồi phong cách lại được ông giải thích bằng những tính cách cá biệt của nhà
văn, nên rút cục điểm đầu và điểm cuối gặp nhau.
Đỗ Đức Hiếu trong Suy nghĩ về phong cách lớn và phân kỳ lịch sử
văn học Việt Nam đã xem những phong cách lớn như là tiêu chí phân kỳ văn
học. Đó là tiêu chí dựa trên những biến động, những thay đổi của bản thân
văn học trong quy luật phát triển của nó. Khi một thời kỳ văn học có những 17
thay đổi, những phá vỡ, những sáng tạo, những bước ngoặt, chúng ta có thể
xác định bước chuyển mình của nó sang một thời kỳ mới. Theo đó, ông chủ
trương phân chia văn học sử Việt Nam thành hai thời đại lớn: thời đại thứ
nhất (thế kỷ X - XIX) với phong cách được đặc trưng bởi các sang tác tiêu
biểu nửa cuối thế kỷ XVIII - nửa đầu XIX; thời đại thứ hai (đầu thế kỷ XX trở
về sau) với phong cách mang đậm dấu ấn sáng tác của Hồ Chí Minh - mỗi
thời đại được đánh dấu bằng một phong cách lớn.
Lê Bá Hán - Trần Đình Sử - Nguyễn Khắc Phi trong Từ điển thuật
ngữ văn học đưa ra khái niệm: “Phong cách sáng tác (phong cách nghệ thuật)
là một phạm trù thẩm mỹ, chỉ sự thống nhất tương đối ổn định của hệ thống
hình tượng, của các phương tiện biểu hiện nghệ thuật, nói lên cái nhìn độc
đáo trong sáng tác của một nhà văn, trong tác phẩm riêng lẻ, trong trào lưu
Qua những ý kiến về phong cách của các nhà nghiên cứu trong và
ngoài nước, có thể rút ra những nét cơ bản nhất về phong cách: Phong cách là
những biểu hiện độc đáo của tài năng sáng tạo nghệ thuật, có tính thống nhất
và tương đối ổn định, được lặp lại trong nhiều tác phẩm của nhà văn, thể hiện
cái nhìn và sự chiếm lĩnh nghệ thuật độc đáo của nhà văn đối với thế giới và
con người.
Văn học rất cần sự đa dạng, độc đáo của những cá tính sáng tạo. Sự tồn
tại và phát triển của văn học không thể tách rời phong cách. Bất cứ nghệ sĩ
nào cũng có đặc điểm riêng của mình, nhưng phong cách thì không thể ai
cũng có. Phong cách - đó là kết quả sáng tạo không mệt mỏi của mỗi nghệ sĩ
và “tương lai chỉ thuộc về những ai nắm được phong cách” (V. Hugo).
Xin mượn lời Thanh Thảo để kết thúc mục này: “Vài bài thơ cũng có
thể làm nên một phong cách thơ, ngược lại nghìn bài thơ chưa chắc làm nên
một phong cách”.
1.1.2. Một số khuynh hướng nghiên cứu phong cách nghệ thuật
Có thể có rất nhiều quan niệm khác nhau về các khuynh hướng nghiên
cứu phong cách. Trong luận văn này chúng tôi dựa trên quan niệm của PGS.
TS. Tôn Thảo Miên.
Theo Tôn Thảo Miên, có 4 nhóm khuynh hướng nghiên cứu phong
cách: 20
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản của phong cách
- Nghiên cứu phong cách tác giả
- Nghiên cứu phong cách tác phẩm
- Nghiên cứu phong cách tác giả và tác phẩm
Luận văn chủ yếu tìm hiểu về phong cách tác giả, cụ thể là tác giả Ma
Văn Kháng.
Căn cứ để khẳng định phong cách tác giả là những đặc điểm nổi bật về