BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM PHAN VĂN NỘI
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VÀ ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN
HỆ THỐNG ĐIỂM DÂN CƯ HUYỆN MỸ HÀO,
TỈNH HƯNG YÊN
LUẬN VĂN THẠC SỸ
Hà Nội 2014
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu, kết
quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ
công trình nghiên cứu nào khác.
Tôi xin cam đoan rằng các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ
rõ nguồn gốc./.
Tác giả luận văn
Phan Văn Nội
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page ii
Danh mục ảnh viii
MỞ ĐẦU 1
1.1 Tính cấp thiết 1
1.2 Mục đích, yêu cầu 3
Chương 1 : TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Cơ sở lý luận và pháp lý về phát triển hệ thống điểm dân cư 4
1.1.1 Khái quát về điểm dân cư 4
1.1.2 Phân loại hệ thống điểm dân cư 6
1.1.3 Căn cứ pháp lý của phát triển hệ thống điểm dân cư 9
1.1.4 Những nguyên tắc cơ bản phát triển hệ thống điểm dân cư 11
1.2 Thực trạng và xu thế phát triển hệ thống điểm dân cư một số
nước trên thế giới 13
1.3 Thực trạng phát triển khu dân cư ở Việt Nam 17
1.3.1 Thực trạng phát triển đô thị 17
1.3.2 Thực trạng phát triển khu dân cư nông thôn. 17
1.3.3 Tác động của đô thị hoá với phát triển khu dân cư nông thôn
nước ta trong giai đoạn hiện nay 18
1.3.4 Những quy định về quản lý, quy hoạch xây dựng và phát triển
khu dân cư 19
1.3.5 Một số quan điểm cho phát triển đô thị và khu dân cư nông thôn
tỉnh Hưng Yên đến năm 2020 28
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page iv
1.4 Một số công trình nghiên cứu về quy hoạch dân cư thời gian qua. 30
Chương 2 : NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 32
2.1 Đối tượng nghiên cứu 32
2.2 Phạm vi nghiên cứu 32
2.3 Nội dung nghiên cứu 32
2.3.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên và thực trạng phát triển kinh tế, xã
3.4.1 Các căn cứ cho định hướng phát triển mạng lưới dân cư 71
3.4.2 Định hướng phát triển mạng lưới dân cư 76
3.5 Đánh giá hiện trạng và định hướng quy hoạch khu trung tâm xã
Xuân Dục 84
3.5.1 Tính cấp thiết 84
3.5.2 Đánh giá hiện trạng khu trung tâm xã Xuân Dục. 84
3.5.3 Định hướng quy hoạch chi tiết hệ thống khu trung tâm xã Xuân Dục 89
3.5.4 Giải pháp thực hiện định hướng phát triển mạng lưới điểm dân cư 98
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 101
1 Kết luận 101
2 Kiến nghị 102
TÀI LIỆU THAM KHẢO 103
PHỤ LỤC 106
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page vi
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
TT Chữ viết tắt Chữ viết đầy đủ
1 CNH - HĐH Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
2 THPT Trung học phổ thông
3 THCS Trung học cơ sở
4 UBND Ủy ban nhân dân
5 HĐND Hội đồng nhân dân
6 CTCC Công trình công cộng
7 CN Công nghiệp
8 TTCN Tiểu thủ công nghiệp
3.4 Thực trạng phân bố một số khu chức năng trong thị trấn 77
3.11 Kết quả dự báo quy mô dân số giai đoạn 2013 - 2020 huyện Mỹ Hào 79
3.12 Định hướng phát triển hệ thống điểm dân cư nông thôn huyện
Mỹ Hào đến năm 2020 83
3.15 Tổng hợp cơ cấu sử dụng đất khu trung tâm xã sau quy hoạch 97
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page viii
DANH MỤC ẢNH STT Tên ảnh Trang3.1 Một số kiến trúc nhà ở khu vực nông thôn xã Hưng Long, Ngọc Lâm 110
3.2 Một số kiến trúc nhà phổ biến của khu vực trung tâm huyện Mỹ Hào. 110
3.3 H ệ thống giao thông khu vực nông thôn 110
3.4 Hệ thống giao thông trung tâm huyện Mỹ Hào 111
3.5 Bệnh viện đa khoa Phố Nối và trạm y tế xã Phùng Chí Kiên 111
3.6 Hệ thống trường học trên địa bàn huyện Mỹ Hào 111
3.7 Nhà văn hoá huyện, nhà văn hóa xã Dị Sử, sân thể dục thể thao
huyện, trung tâm viễn thông huyện. 112
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 1
MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết
Mục tiêu của Việt Nam đến năm 2020 cơ bản trở thành một nước công
nghiệp. Chủ trương của Đảng và Nhà nước ta là đẩy nhanh quá trình CNH –
HĐH đất nước, hội nhập kinh tế toàn cầu, áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản
sự phân bố dân cư không theo quy hoạch. Do đó, cần phải có định hướng
chiến lược lâu dài về phân bố, phát triển các điểm dân cư nông thôn để ổn
định. Chính vì vậy, việc xây dựng quy hoạch hệ thống điểm dân cư, tổ chức
không gian kiến trúc cảnh quan xây dựng các công trình phúc lợi công cộng là
rất cần thiết cho phát triển vùng nông thôn.
Huyện Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên là huyện nằm trong vùng tam giác kinh
tế Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh, thuộc địa bàn trọng điểm kinh tế phía
bắc của tỉnh. Huyện có vị trí thuận lợi cho việc giao lưu tiếp cận với thị
trường trong vùng và cả nước. Trên địa bàn huyện đã và đang diễn ra quá
trình CNH – HĐH mạnh mẽ, nó đã tác động và làm chuyển dịch quỹ đất
không theo quy hoạch, gây áp lực lớn đối với đất đai của huyện nói chung và
đất khu dân cư nói riêng. Thực tế phát triển đô thị và các điểm dân cư nông
thôn trên địa bàn huyện Mỹ Hào hiện tập trung ở 1 thị trấn và 12 xã. Hiện
trạng, hệ thống điểm dân cư của huyện chưa có khu vực nào được quy hoạch
hoàn chỉnh, hệ thống giao thông, cấp nước, cấp điện, còn hạn chế nhất là với
các xã khu vực nông thôn, các công trình công cộng như: trường học, nhà
văn hoá, sân thể thao…còn nhỏ hẹp chưa đủ diện tích, tiêu chuẩn, chất lượng
còn thấp, đất ở nông thôn chưa đáp ứng đầy đủ. Trên địa bàn huyện có 1 thị
trấn (Bần Yên Nhân) đây tập trung các trung tâm chính trị, văn hoá thương
mại dịch vụ, công nghiệp của huyện tuy nhiên hệ cơ sở hạ tầng trong khu đô
thị vẫn chưa hoàn thiện, mức độ phục vụ chưa cao vv. Để góp phần nâng cao
đời sống vật chất, văn hoá tinh thần của người dân địa phương, cần phải có
quy hoạch phát triển hệ thống điểm dân cư, thiết kế, tổ chức cảnh quan, xây
dựng hoàn thiện các công trình công cộng nhằm tạo tiền đề, nền tảng cho phát
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 3
triển kinh tế xã hội của huyện trong những giai đoạn tiếp theo.
Từ những vấn đề trên tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Thực trạng
và định hướng phát triển hệ thống điểm dân cư huyện Mỹ Hào - tỉnh
+ Cơ cấu cư dân:
Cơ cấu cư dân là toàn bộ các điểm dân cư của một nước, một tỉnh trong vùng
kinh tế, phân bố trong không gian có phân công liên kết chức năng và hài hoà cân
đối trong mỗi điểm và giữa các điểm dân cư trong một đơn vị lãnh thổ (Vũ Thị
Bình, 2007).
Như vậy, cơ cấu cư dân là một cấu trúc tổng hợp và tương đối bền vững,
là một hình thái tổ chức của cơ cấu lãnh thổ, cơ cấu vùng. Các điểm dân cư
phân biệt với nhau về quy mô và cấp hạng dựa trên sự tổng hợp các mỗi quan
hệ phân công chức năng trong toàn bộ vùng. Vì vậy trong quy hoạch cơ cấu
dân cư phải lưu ý các mối quan hệ tương hỗ trong nội tạng cơ cấu của từng
điểm dân cư, cũng như cơ cấu của toàn bộ trong một nhóm các điểm dân cư
cụ thể.
+ Điểm dân cư đô thị:
Điểm dân cư đô thị là điểm dân cư tập trung phần lớn những người dân phi
nông nghiệp, họ sống và làm việc theo kiểu thành thị (Nguyễn Thế Bá, 2004).
Đô thị là khu vực tập trung dân cư sinh sống có mật độ cao và chủ yếu
hoạt động trong lĩnh vực kinh tế phi nông nghiệp, là trung tâm chính trị, hành
chính, kinh tế, văn hóa hoặc chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy sự phát triển
kinh tế - xã hội của quốc gia hoặc một vùng lãnh thổ, một địa phương. Đô thị
bao gồm nội thành, ngoại thành của thành phố; nội thị, ngoại thị của thị xã, trị
trấn. Dân số toàn đô thị là dân số của khu vực nội thị và khu vực ngoại thị.
(Nghị định số 42/2009/NĐ-CP ngày 07/5/2009).
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 5
+ Điểm dân cư nông thôn:
* Theo quan điểm về xã hội học:
Điểm dân cư nông thôn là địa bàn cư tụ có tính chất cha truyền con nối
của người nông dân (xóm, làng, thôn, bản, buôn, ấp), đó là một tập hợp dân
cư sinh sống chủ yếu theo quan hệ láng giềng, nó được coi là những tế bào
buôn bán.
+ Điểm dân cư nông thôn
- Điểm dân cư là nơi sinh sống và làm việc của cộng đồng dân cư chủ
yếu là nông dân, là nơi dân cư sản xuất nông nghiệp là chính, các hoạt động
sản xuất và dịch vụ khác chủ yếu phục vụ cho nông nghiệp và nông dân.
- Điểm dân cư nông thôn có kết cấu hạ tầng kém phát triển, trình độ sản
xuất hàng hoá và tiếp cận thị trường thấp hơn, có thu nhập và đời sống thấp.
- Điểm dân cư nông thôn giầu tiền năng về tài nguyên thiên nhiên như
đất đa, nguồn nước, khí hâu đa dạng về điều kiện kinh tế xã hội, đa dạng về
hình thức tổ chức, quản lý về quy mô và trình độ.
1.1.2 Phân loại hệ thống điểm dân cư
- Phân loại đô thị
Nhằm phục vụ cho công tác quản lý hành chính về đô thị cũng như
để xác định cơ cấu và định hướng phát triển đô thị, đô thị được phân chia
thành nhiều loại khác nhau. Thông thường việc phân loại đô thị dựa theo
tính chất, quy mô và vị trí của nó trong mạng lưới đô thị quốc gia (Nguyễn
Thế Bá, 2004)
Ở nước ta, theo Nghị định số 42/2009/NĐ-CP ngày 07/05/2009 của
Thủ tướng Chính phủ về việc phân loại và phân cấp quản lý đô thị, đô thị
được chia thành 6 loại: đô thị đặc biệt; đô thị loại I, đô thị loại II, đô thị loại
III, đô thị loại IV, đô thị loại V(Nghị định số 42/2009/NĐ-CP ngày 07/5/2009).
Căn cứ Thông tư 34/2009/TT – BXD ngày 30/9/2009 quy định chi tiết
một số nội dung của Nghị định số 42/2009/NĐ – CP ngày 07/5/2009 của
Chính phủ về phân loại đô thị, thể hiện qua
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 7
Các đô thị ở miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo thì quy mô
dân số và mật độ dân số có thể thấp hơn, nhưng tối thiểu phải đạt 70% so với
mức tiêu chuẩn quy định tại Nghị định 42/CP (Vũ Thị Bình, 2007).
- Thành phố thuộc trung ương
- Có vai trò thúc đẩy phát triển KT-
XH
một vùng liên tỉnh hoặc của cả nước
Loại II
(đô thị TB lớn)
30 vạn – >=80 vạn
80% LĐ phi nông
nghiệp
8.000-
10.000
người/km
2
- Thành phố thuộc tỉnh
- Có vai trò thúc đẩy phát triển KT-
XH
một vùng liên tỉnh hoặc một số l
ĩnh vực
đối với cả nước
Loại III
(đô thị vừa)
15 vạn – 30 vạn
75% LĐ phi nông
nghiệp
6.000
người/km
2
Nghị định 42/2009/NĐ-CP ngày 07/5/2009 của Chính phủ về phân loại đô thị
- Phân loại hệ thống điểm dân cư nông thôn
Phân loại điểm dân cư nông thôn theo Tiêu chuẩn Việt Nam 4418 (TCVN)
năm 1987. Theo tiêu chuẩn Việt Nam 4418 quy định phương pháp đánh giá và
phân loại điểm dân cư nông thôn như sau: Mạng lưới điểm dân cư hiện trạng
được phân thành 3 loại:
+ Loại 1: Đây là những điểm dân cư trung tâm của xã đã đầu tư xây
dựng các công trình tương đối hoàn chỉnh như trường học, trạm y tế, bưu
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 8
điện, sân vận động, giao thông, thuỷ lợi, điện, nhà ở dân cư …vv để trở thành
điểm dân cư chính thức của hệ thống dân cư chung trên toàn huyện, được ưu
tiên quy hoạch và đầu tư xây dựng đồng bộ. Các điểm dân cư này có các
trung tâm sản xuất và phục vụ công cộng chung của xã.
+ Loại 2: Các điểm dân cư phụ thuộc, phát triển có giới hạn. Các điểm
dân cư này có mối quan hệ hoạt động sản xuất và sinh hoạt gắn chặt với các
điểm dân cư chính, chúng được khống chế về quy mô mở rộng, về mức độ
xây dựng trong giai đoạn quá độ, không được đầu tư xây dựng những công
trình có giá trị.
+ Loại 3: Những xóm, trại, ấp nhỏ không có triển vọng phát triển,
không thuận lợi cho tổ chức sản xuất và đời sống, trong tương lai cần có biện
pháp và kế hoạch di chuyển theo quy hoạch (Bộ xây dựng, 1987).
- Tiêu chuẩn đánh giá phân loại điểm dân cư nông thôn:
Ở những khu vực dân cư đông đúc đã tồn tại mạng lưới dân cư từ lâu
đời cần dựa trên các tiêu chuẩn sau đây để đánh giá phân loại điểm dân cư:
+ Thôn xóm chính đảm nhận từ 100 ha canh tác trở lên.
+ Cự ly trung bình từ điểm dân cư đến cánh đồng xa nhất không quá từ
1,5 đến 2 km.
+ Có điều kiện thuận lợi về đất đai, vị trí địa lý, khả năng trang bị kỹ
năm 2010-2020;
Quyết định số 1738/QĐ-TTg ngày 20/9/2010 của Thủ tướng Chính phủ
thành lập Thường trực Ban chỉ đạo trung ương Chương trình mục tiêu quốc
gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 – 2020.
Quyết định số 498/QĐ –TTg ngày 21/3/2013 của Thủ tướng Chính
phủ về bổ xung cơ chế đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông
thôn mới giai đoạn 2010 – 2020;
- Hệ thống các tiêu chuẩn ngành trong quy hoạch phát triển khu dân cư
Nghị định số 08/2005/NĐ-CP ngày 24/01/2005 về Quy hoạch xây dựng
(thay thế Nghị định 91/CP ngày 17/8/1994 của Chính phủ ban hành Điều lệ
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 10
quản lý quy hoạch đô thị);
Quyết định số 682/BXD ngày 14/02/1996 của Bộ Xây dựng về việc ban
hành Quy chuẩn xây dựng (trong đó có Quy chuẩn quy hoạch xây dựng khu dân
cư nông thôn);
Thông tư số 07/BXD/TT-BXD hướng dẫn lập, thẩm định, phê duyệt và
quản lý quy hoạch xây dựng ngày 07/4/2008;
Quyết định số 03/2008/QĐ-BXD ngày 31/3/2008 của Bộ Xây dựng về
ban hành quy định nội dung thể hiện bản vẽ, thuyết minh đối với nhiệm vụ và
đồ án quy hoạch xây dựng;
Bộ tiêu chí Nông thôn mới do Chính phủ ban hành tại Quyết định số
491/QĐ-TTg ngày 16 tháng 4 năm 2009;
Thông tư số 21/2009/TT-BXD ngày 03 tháng 6 năm 2009 của Bộ Xây
dựng về lập, thẩm định, phê duyệt, quản lý quy hoạch xây dựng nông thôn;
Thông tư số 31/2009/TT-BXD ngày 10 tháng 9 năm 2009 của Bộ
trưởng Bộ Xây dựng về việc ban hành Tiêu chuẩn quy hoạch xây dựng nông
thôn;
Thông tư số 32/2009/TT-BXD ngày 10 tháng 9 năm 2009 của Bộ
hợp với thiên nhiên ở địa phương đó.
- Phù hợp với tập quán sinh hoạt truyền thống sinh hoạt của địa
phương và dân tộc: Mỗi địa phương, mỗi dân tộc có một phong tục tập quán
khác nhau. Đó là vốn tri thức bản địa quý giá cần được khai thác và kế thừa
để tạo cho mỗi đô thị một hình ảnh riêng của dân tộc và địa phương mình.
Quy hoạch xây dựng và phát triển đô thị còn phải hết sức lưu ý đến
vấn đề cơ cấu tổ chức của các khu ở, khu trung tâm đô thị và các khu đặc
trưng khác như khu vực danh lam thắng cảnh, khu vực lịch sử, khu vực tâm
linh tôn giáo
- Kế thừa và phát huy thế mạnh của hiện trạng: Cần phải kết hợp và
phát huy mọi tiềm năng giữa cái cũ và cái mới trong đô thị, giữa truyền thống
và hiện đại, đặc biệt chú ý đến công trình kiến trúc có giá trị, các khu phố cổ
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 12
truyền thống.
- Phát huy vai trò của khoa học kỹ thuật tiên tiến: Thiết kế quy hoạch
tổng thể xây dựng đô thị phải đảm bảo phát huy tốt các mặt về kỹ thuật đô thị,
trang thiết bị khoa học kỹ thuật hiện đại, đặc biệt là giao thông đô thị. Cần đảm
bảo thực hiện các quy chế và chỉ tiêu về kinh tế kỹ thuật xây dựng. Phải tuân thủ
các chủ trương đường lối chính sách của Đảng, Nhà nước và địa phương về xây
dựng phát triển đô thị, hiện đại hóa các trang thiết bị kỹ thuật, phương tiện giao
thông vận tải, thông tin liên lạc.
- Tính cơ động và hiện thực của đồ án quy hoạch: Bất kỳ một đồ án
nào khi thiết kế cũng phải đề cập đến khả năng thực thi của nó và trong từng
giai đoạn. Muốn thực hiện được ý đồ phát triển tốt thì tính cơ động và linh
hoạt của đê án phải rất cao, có nghĩa là trước những hiện tượng đột biến về
đầu tư xây dựng, hoặc những chủ trương mới của chính quyền về xây dựng đô
thị thì hướng phát triển cơ bản và lâu dài của đô thị vẫn dươc bảo đảm
(Nguyễn Thế Bá, 2004).
hãng công nghiệp lớn do chính quyền điều hành đã được tư nhân hoá, nền
nông nhiệp là rất nhỏ chỉ chiếm 3%, các ngành công nghiệp đòi hỏi tính kỹ
thuật cũng như vốn đầu tư lớn, các khu công nghệ cao đã có mặt tất cả các
vùng tại Đài Loan.
Hệ thống giao thông của Đài Loan rất phát triển, đi lại thuận tiện,
đường cao tốc Bắc Nam và hệ thống đường bộ đường sắt hoàn chỉnh nối liền
với nhau.
Đài Loan chia toàn lãnh thổ thành ba khu hành chính gồm Đài Bắc, Đài
Trung và Đài Nam. Đài Bác là khu vực phát triển nhất nhiều khu công nghiệp
ở đó, Đài Bác còn có một ngành điện ảnh phát triển. Đài trung cũng có khu
công nghiệp nhưng ít hơn ở Đài Bắc. Đài Nam chủ yếu là vùng nông nghiệp.
Chính quyền Đài Loan quản lý được chia thành tỉnh Đài Loan, tỉnh
Phúc Kiến, thành phố Đài Băc và thành phố Cao Hùng. Tỉnh Đài Loan chia
làm 18 huyện và 7 thành phố trực thuộc tỉnh, tỉnh phúc kiến được chia làm 2
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 14
huyện, thành phố Đài Bắc được chia làm 12 khu, thành phố Cao hùng được
chia làm 10 khu, các huyện lại được chia thành, thành phố trực thuộc huyện,
trấn, và hương. hiện nay thành phố trực thuộc huyện của Đài Loan gồm có 32
đơn vị, các thành phố trực thuộc huyện được chia thành các lý.
- Thái Lan
Thái Lan là một nước nông nghiệp lớn trong vùng Đông Nam Á, là
nước có khối lượng nông sản xuất khẩu khá lớn. Cả nước có khoảng 53.000
làng xóm, trải qua nhiều kế hoạch phát triển 5 năm, trong đó chú trọng đến sự
phát triển các vùng nông thôn. Chính phủ đã xây dựng nhiều dự án phát triển
các khu vực nông thôn với sự tham gia của các Bộ, ngành liên quan, nhờ đó
mà đời sống của nông dân đã được cải thiện đáng kể.
Chính sách kinh tế của Thái Lan là ưu tiên phát triển giao thông, đặc
biệt là giao thông đường bộ, cung cấp nước tưới tiêu trong nông nghiệp và
vùng, từng địa phương.
Các kế hoạch 5 năm của Nhà nước Ấn Độ luôn chú ý tới việc xoá bỏ
đói nghèo, cải thiện điều kiện vật chất và đời sống cho người nghèo, phát
triển các trung tâm thị trường và dịch vụ cho các vùng nông thôn sâu trong
nội địa, đồng thời chú ý nâng cấp giáo dục, đầu tư cho các nhu cầu về tinh
thần. của Chính phủ Ấn Độ trên bình diện quốc gia đã phần nào làm cho bộ
mặt nông thôn thay đổi. Tuy nhiên kết quả phát triển nông thôn không được
như Sự cố gắng mong muốn, sự phân hoá giàu nghèo ở nông thôn lại tăng
lên, mục tiêu giảm chênh lệch giữa khu vực nông thôn - thành thị không đạt
được (Vũ Thị Bình, 2007).
- Cộng hòa nhân dân Trung Hoa
Trung Quốc là nước nông nghiệp lâu đời, đất rộng, người đông. Dân
số trên 1,3 tỷ người, trong đó dân số nông thôn chiếm xấp xỉ 80%. Đơn vị
cơ sở ở nông thôn Trung Quốc là làng hành chính (traditional village).
Làng truyền thống chia thành hai hay nhiều làng hành chính. Toàn quốc có