Thực trạng và định hướng phát triển hệ thống điểm dân cư huyện hậu lộc tỉnh thanh hóa theo hướng nông thôn mới - Pdf 30


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM


NGUYỄN THẾ DƯƠNG

THỰC TRẠNG VÀ ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN HỆ
THỐNG ĐIỂM DÂN CƯ HUYỆN HẬU LỘC TỈNH THANH
HOÁ THEO HƯỚNG NÔNG THÔN MỚI

LUẬN VĂN THẠC SĨ HÀ NỘI , 2014


TS. NGUYỄN QUANG HỌC HÀ NỘI , 2014
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page i

LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số
liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được sử dụng để
bảo vệ một học vị nào.
Tôi cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn
này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ
nguồn gốc.

Hà nội, ngày…. tháng…. năm 2014
Tác giả luận văn

Nguyễn Thế Dương


Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page iii

MỤC LỤC

Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục các chữ viết tắt vi
Danh mục bảng vii
Danh mục hình viii
MỞ ĐẦU 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục đích - yêu cầu 2
1.2.1 Mục đích 2
1.2.2 Yêu cầu 3
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Cơ sở lý luận và pháp lý của hệ thống điểm dân cư 4
1.1.1 Một số khái niệm cơ bản về khu dân cư 4
1.1.2 Mục tiêu và xu hướng phát triển cư dân 5
1.1.3 Phân loại hệ thống điểm dân cư 7
1.2 Tình hình xây dựng và phát triển mạng lưới dân cư trong và
ngoài nước 9
1.2.1 Thực trạng và xu thế phát triển mạng lưới dân cư trong và
ngoài nước 9
1.2.2 Thực trạng và xu thế phát triển mạng lưới dân cư và xây dựng
nông thôn ở Việt Nam 15
1.2.3 Một số công trình nghiên cứu quy hoạch xây dựng khu dân cư 26
Chương 2: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 28
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 28
2.2 Nội dung nghiên cứu 28

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page v

3.3.2. Định hướng phát triển hệ thống điểm dân cư 93
3.3.3. Giải pháp 99
3.4 Quy hoạch chi tiết khu trung tâm xã Phú Lộc 100
3.4.1. Tính cấp thiết và mục tiêu đồ án quy hoạch khu trung tâm xã 100
3.4.2. Khái quát điều kiện tự nhiên và hiện trạng khu trung tâm 100
3.4.3. Quy hoạch chi tiết khu trung tâm 105
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 114
1 Kết luận 114
2 Kiến nghị 115
TÀI LIỆU THAM KHẢO 116
PHỤ LỤC 118

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page vi

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TT Chữ viết tắt Chữ viết đầy đủ
1 CNH - HĐH Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
2 THPT Trung học phổ thông
3 THCS Trung học cơ sở
4 UBND Ủy ban nhân dân
5 HĐND Hội đồng nhân dân
6 CTCC Công trình công cộng
7 CN Công nghiệp
8 TTCN Tiểu thủ công nghiệp
9 TNMT Tài nguyên môi trường
10 KDC Khu dân cư

3.12 Định hướng phát triển hệ thống điểm dân cư đến năm 2020
Huyện Hậu Lộc 96
3.13 Kết quả định hướng phát triển hệ thống điểm dân cư nông thôn 97
3.14 Hiện trạng sử dụng đất khu trung tâm xã Phú Lộc năm 2013 102
3.15 Hiện trạng các công trình khu trung tâm xã Phú Lộc 103
3.16 Quy hoạch sử dụng đất đai khu trung tâm xã Phú Lộc 111
3.17 So sánh cơ cấu sử dụng đất trước và sau quy hoạch 112

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page viii

DANH MỤC HÌNH STT Tên hình Trang

3.1 Bản đồ hành chính 35
3.2 Kiến trúc nhà ở khu vực nông thôn 70
3.3 Kiến trúc nhà ở khu vực bán thành thị, trung tâm thương mại 71
3.4 Kiến trúc cảnh quan các công trình trong khu dân cư đô thị 72
3.5 Công trình y tế huyện Hậu Lôc 73
3.6 Kiến trúc một số công trình giáo dục trên địa bàn huyện 74
3.7 Kiến trúc công trình bưu điện huyện, bưu điện văn hóa xã 76
3.8 Kiến trức công trình thể dục thể thao huyện, sân vận động xã 77
3.9 Hệ thống đường giao thông 78
3.10 Bản vẻ quy hoạch khu trung tâm xã Phú Lộc 109

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 1

MỞ ĐẦU


thôn. Tổ chức cuộc sống, bảo vệ và cải tạo môi trường sống”.
Như vậy việc quy hoạch hệ thống điểm dân cư, tổ chức không gian kiến
trúc cảnh quan xây dựng các công trình phúc lợi công cộng là điều kiện cần
thiết cho phát triển vùng nông thôn.
Trong những năm tới cơ cấu nền kinh tế của huyện sẽ chuyển dịch theo
hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn. Nghề nghiệp
chính của nhân dân trong huyện là sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng và đánh
bắt thuỷ hải sản, khai thác nhiều tiềm năng có sẵn của địa phương, nhiều dự
án quan trọng của tỉnh được đầu tư tại huyện Hậu Lộc nên công tác thu hồi
đất làm dự án thực hiện giải phóng mặt bằng xây dựng các khu tái định cư
cho nhân dân là hết sức quan trọng. Các điểm dân cư nông thôn trên địa bàn
huyện đều ở mức chưa hoàn chỉnh, hệ thống giao thông, cấp nước, cấp điện
còn hạn chế. Các công trình công cộng như: trường học, nhà văn hoá, sân thể
thao còn nhỏ hẹp, chưa đủ diện tích, tiêu chuẩn, chất lượng còn thấp, đất ở
nông thôn chưa đáp ứng đầy đủ, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của toàn xã
hội nên huyện Hậu Lộc cần phải quy hoạch phát triển hệ thống điểm dân cư
đô thị, khu dân cư nông thôn hợp lý, huyện xác định xây dựng nông thôn mới
là nhiệm trọng yếu của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội.
Xuất phát từ những thực trạng trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứ đề
tài: “Thực trạng và định hướng phát triển hệ thống điểm dân cư huyện
Hậu Lộc - tỉnh Thanh Hoá theo hướng nông thôn mới”.
1.2. Mục đích - yêu cầu
1.2.1. Mục đích
- Nghiên cứu, đánh giá các điểm dân cư trên địa bàn huyện Hậu Lộc,
tỉnh Thanh Hoá theo hướng nông thôn mới, nhằm phát hiện những vấn đề bất
cập và khả năng cải tạo hệ thống điểm dân cư trên địa bàn huyện.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 3

- Định hướng phát triển hệ thống khu dân cư đáp ứng yêu cầu phát triển
kinh tế xã hội, góp phần cải thiện môi trường dân sinh của huyện.

công trình công cộng, đất nông nghiệp gắn liền với nhà ở và các loại đất khác thuộc
phạm vi ranh giới khu dân cư nông thôn trong địa giới hành chính các xã.
Ranh giới của khu dân cư nông thôn được xác định theo quy hoạch được cơ
quan nhà nước có thẩm quyền xét duyệt; trường hợp khu dân cư nông thôn chưa có
quy hoạch được duyệt thì xác định theo ranh giới của thửa đất có nhà ở ngoài cùng
của thôn, làng, ấp, bản, buôn, phum, sóc, các điểm dân cư tương tự hiện có.
Đối với trường hợp dân cư sinh sống dọc theo kênh, mương, đường giao
thông hoặc dân cư ở riêng lẻ thì chỉ thống kê diện tích thửa đất có nhà ở và vườn, ao
gắn liền với nhà ở; trường hợp dân cư sinh sống riêng lẻ mà không xác định được
phạm vi ranh giới thửa đất ở và vườn, ao gắn liền thì chỉ thống kê diện tích đất ở đã
được công nhận, trường hợp thửa đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất thì diện tích đất ở được xác định tạm thời bằng hạn mức giao đất ở mới do
Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quy định.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 5

b. Khu dân cư (điểm dân cư)
- Điểm dân cư đô thị là điểm dân cư tập trung phần lớn những người dân phi
nông nghiệp , họ sống và làm việc theo kiểu thành thị (Vũ Thị Bình, 2006).
- Điểm dân cư nông thôn là nơi cư trú tập trung của nhiều hộ gia đình gắn kết
với nhau trong sản xuất, sinh hoạt và các hoạt động xã hội khác trong phạm vi một
khu vực nhất định bao gồm trung tâm xã, thôn, làng, ấp, bản, buôn, phum, sóc (sau
đây gọi chung là thôn) được hình thành do điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế - xã
hội, văn hóa, phong tục, tập quán và các yếu tố khác (Vũ Thị Bình, 2006).
c. Cơ cấu cư dân
- Cơ cấu cư dân là toàn bộ các điểm dân cư một nước, một tỉnh trong một
vùng kinh tế, phân bố trong không gian có phân công liên kết chức năng và hài hoà
cân đối trong mỗi điểm và giữa các điểm dân cư trong một đơn vị lãnh thổ. (Vũ Thị
Bình, 2006).
- Cơ cấu dân cư là một cấu trúc tổng hợp và tương đối bền vững, là một hình
thái tổ chức của cơ cấu lãnh thổ, cơ cấu vùng. Trong cơ cấu cư dân, các mặt cơ bản

nhau và vùng ngoại thành với trung tâm (Vũ Thị Bình, 2006).
- Mạng lưới các điểm dân cư của các vùng, các đô thị và nông thôn hiện nay
tuy có khác nhau song trong tương lai cần phải được bố cục và phát triển theo
hướng sau:
+ Các đô thị lớn và trung bình đều có ý nghiã nổi trội trong mạng lưới dân cư
của trung tâm quốc gia hay vùng. Vùng ảnh hưởng của các đô thị này khá rộng lớn
chúng cần phải đảm bảo cho nhân dân trong vùng có điều kiện sống tốt. Trong
tương lai cần phải phát triển mở rộng sản xuất công nghiệp trong phạm vi có thể
tăng dần về lao động.
+ Các đô thị vừa và nhỏ trong tương lai cần được phát triển cả về chất lượng
và số lượng. Các đô thị này cần được tăng cường phát triển sản xuất công nghiệp -
dịch vụ, hoàn thiện và mở rộng hệ thống cơ sở hạ tầng, phát triển dân số và lao
động thu hút từ nông thôn để chúng không những là các trung tâm chính trị mà còn
là các trung tâm kinh tế - xã hội, văn hoá, tinh thần cuộc sống cộng đồng của dân
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 7

cư. Các đô thị này sẽ góp phần giảm bớt sự tăng dân số quá tải của các đô thị lớn
đồng thời kích thích sự phát triển của công nghiệp hoá và đô thị hoá.
+ Các làng lớn sẽ phát triển thành các điểm sản xuất công nông nghiệp (thị
tứ) chúng là các trung tâm của xã hoặc liên xã và là các điểm tập trung các giải pháp
và đầu tư và nâng cao điều kiện sống và lao động của người dân nông thôn, giảm
bớt sự cách biệt còn tồn tại giữa nông thôn và thành thị.
+ Các làng nhỏ trong tương vẫn còn là nơi ở, nơi sản xuất, nghỉ ngơi của
người dân nông thôn và là một thành viên của cơ cấu dân cư. Việc quy hoạch và
nâng cao hiệu quả các điều kiện sống và lao động cho nhân nhân trong các làng nhỏ
này chỉ có thể thực hiện được và đảm bảo trong phạm vi của các đơn vị lãnh thổ lớn
hơn như cụm điểm dân cư (xã, liên xã).
+ Các xóm, ấp là các điểm dân cư có quy mô quá nhỏ. Điều kiện sống và
lao động thấp kém, không đáp ứng được nhu cầu của người dân, phân bố tản mạn,
manh mún và không có cơ hội phát triển. Các điểm dân cư này trong quá trình công

nghiệp của nhân dân trong một xã.
g. Các xóm, ấp, trại: Là các điểm dân cư nhỏ nhất, với các điều kiện sống rất
thấp kém. Trong tương lai các điểm dân cư này cần xoá bỏ, sát nhập thành các điểm
dân cư lớn hơn (Vũ Thị Bình, 2006).
Trong Nghị định số 42/2009/NĐ-CP ngày 7 tháng 5 năm 2009 của Chính phủ
quy định cụ thể về việc phân loại đô thị. Đô thị được phân thành 6 loại:
- Đô thị loại đặc biệt là thành phố trực thuộc Trung ương có các quận nội
thành, huyện ngoại thành và các đô thị trực thuộc.
- Đô thị loại I, loại II là thành phố trực thuộc Trung ương có các quận nội
thành, huyện ngoại thành và có thể có các đô thị trực thuộc; đô thị loại I, loại II là
thành phố thuộc tỉnh có các phường nội thành và các xã ngoại thành.
- Đô thị loại III là thành phố hoặc thị xã thuộc tỉnh có các phường nội thành,
nội thị và các xã ngoại thành, ngoại thị.
- Đô thị loại IV là thị xã thuộc tỉnh có các phường nội thị và các xã ngoại thị.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 9

- Đô thị loại V là thị trấn thuộc huyện có các khu phố xây dựng tập trung và
có thể có các điểm dân cư nông thôn (Bộ kế hoạch và Đầu tư, Rural development).
1.2. Tình hình xây dựng và phát triển mạng lưới dân cư trong và ngoài nước

1.2.1. Thực trạng và xu thế phát triển mạng lưới dân cư trong và ngoài nước
1.2.1.1. Các nước Tây Âu
Các nước Tây Âu có đặc điểm chung là những nước công nghiệp phát triển
từ lâu, nền nông nghiệp được cơ giới hoá, năng suất lao động trong nông nghiệp
nâng cao. Do đó số lượng lao động nông nghiệp chỉ chiếm phần nhỏ so với lao động
trong công nghiệp và các loại ngành nghề khác. Cuộc sống ở nông thôn nhiều khi
lại là sự ao ước của người dân đô thị. Vương Quốc Anh là một ví dụ.
1.2.1.2. Liên Xô (cũ) và các nước Đông Âu
Khác với các nước Tây Âu, Liên Xô và các nước Đông Âu xây dựng nông
thôn theo mô hình phát triển nông thôn XHCN.

thoả mãn yêu cầu nâng cao mức sống của nông dân thì đầu tư xây dựng cơ sở hạ
tầng sẽ tốn kém không đạt hiệu quả kinh tế.
- Trong phương án quy hoạch không gian toàn quốc của Ba Lan, người ta cũng
đã xác định hướng phát triển tương lai của đô thị theo hệ thống dải và cụm dựa trên các
đô thị hiện có và dọc các trục giao thông chính trong toàn quốc.
1.2.1.3. Các nước châu á
a. Ấn Độ
Ấn Độ là một quốc gia đất rộng người đông, đứng thứ 2 ở Châu Á (sau
Trung Quốc). Theo các chuyên gia phát triển nông thôn Ấn Độ cho rằng muốn cải
thiện điều kiện sống ở các làng xóm cần phát triển các trung tâm nông thôn, các điểm
trung tâm này là những điểm cung cấp tối ưu hạ tầng kỹ thuật cần thiết, hỗ trợ các hoạt
động kinh tế, dịch vụ xã hội cho khu vực và là một trong những mục tiêu điều hoà cần
phải đạt được khi xây dựng nông thôn mới. Có 3 hệ thống trung tâm nông thôn được
phân cấp và hoạch định như sau:
- Hệ thống trung tâm thứ nhất được gọi là làng trung tâm, có chức năng đảm bảo
các dịch vụ cơ bản cho dân cư trong làng cũng như các khu vực xung quanh.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 11

- Hệ thống trung tâm thứ hai được gọi là trung tâm dịch vụ có nhiệm vụ cung
cấp các hoạt động dịch vụ ở mức trung bình.
- Hệ thống trung tâm thứ ba - trung tâm phát triển - đáp ứng các nhu cầu dịch
vụ ở mức cao.
Các trung tâm trên không chỉ đơn thuần là nơi có hạ tầng kỹ thuật thích đáng
mà còn là các điểm nút để tổ chức toàn bộ hoạt động phát triển cho từng vùng địa
phương. Đây là xu hướng thịnh hành trong những năm 1960, 1970.
b. Trung Quốc
Trung Quốc là nước nông nghiệp lâu đời, đất rộng, người đông. Dân số trên
1 tỷ người, trong đó nông dân chiếm xấp xỉ 80%. Đơn vị cơ sở ở nông thôn Trung
Quốc là làng hành chính (traditional village). Làng truyền thống chia thành hai hay
nhiều làng hành chính. Toàn quốc có trên 800.000 làng hành chính, mỗi làng có 800

+ Cải tạo tổ chức và nâng cao mức độ phục vụ văn hoá và đời sống.
+ Nâng cao tiêu chuẩn nhà ở.
+ Cải thiện cơ sở hạ tầng (giao thông, điện, nước, công trình phúc lợi,…).
+ Giữ gìn ưu thế cơ bản của các điểm dân cư nông thôn là mối quan hệ trực
tiếp của chúng với thiên nhiên.
- Giữ nguyên hiện trạng, cải tạo từng phần là hình thức đặc trưng của quá
trình xây dựng nông thôn mới ở Hàn Quốc. Khi dự kiến cải tạo một làng người ta
cân nhắc sử dụng một cách hợp lý nhất các công trình hiện có và các nhà ở có giá
trị, tìm ra và phát triển mối quan hệ mật thiết giữa cấu trúc hình thái của làng với
môi trường tự nhiên xung quanh nó. Thành phần cơ bản của một làng cải tạo là
trung tâm công cộng, đảm bảo mối liên hệ trực tiếp với các khu nhà ở, khu sản xuất
với khu nghỉ ngơi giải trí. Giao thông trong làng cũng được lưu ý, đường vận
chuyển hàng hoá thường được đặt bên ngoài làng. Đường trục chính của làng dẫn
tới các đầu mối giao thông khu vực, nối các khu chức năng với nhau và với các khu
trung tâm công cộng.
d. Khu vực Đông Nam á
Theo Colins Free stone, trong công trình nghiên cứu các yếu tố về kinh tế
chính trị làng xóm vùng Đông Nam Á. (Phòng thống kê huyện Hậu Lộc) đã tổng kết
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 13

những vấn đề chung nhất trong việc quy hoạch xây dựng làng của một số nước
thuộc vùng này theo xu hướng:
- Dân cư bố trí dọc theo kênh rạch hoặc theo đường giao thông và đó cũng là
đường giao thông chính liên hệ giữa các điểm dân cư.
- Nhà ở bố trí phân tán, không có định hướng từ ban đầu khi mới hình thành
điểm dân cư.
- Khu ở của điểm dân cư thường rất gần với khu sản xuất.
- Các công trình hạ tầng kỹ thuật, các công trình phục vụ công cộng ít được
quan tâm trong từng điểm dân cư mà chỉ được bố trí cho từng cụm gồm nhiều điển
dân cư, làng nào cũng có một trung tâm công cộng nhỏ, gồm các công trình sinh

phình to quá cỡ của các thành phố lớn nhất thiết phải “công nghiệp hoá, hiện đại
hoá nông nghiệp nông thôn”. Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông thôn mang lại sự
thay đổi lối sống nông thôn truyền thống sang lối sống văn minh đô thị - thành thị
hoá nông thôn. Để đạt được điều đó, việc phát triển hạ tầng kỹ thuật luôn luôn giữ
vai trò hàng đầu, đặc biệt hệ thống giao thông phải được đầu tư đúng mức mới đem
lại sự phát triển kinh tế - xã hội nông thôn.
Việc xây dựng phát triển các điểm dân cư nông thôn tại các nước trên thế
giới gắn chặt với nhu cầu thực tại của người dân địa phương về giáo dục, giao
thông, điện, nước sạch, bưu chính viễn thông trên cơ sở phát triển tổng thể kinh tế
- xã hội của địa phương. Do đó tại các nước phát triển sự tham gia của cộng đồng
những người dân địa phương vào công tác lập quy hoạch, kế hoạch phát triển ngày
càng được khuyến khích và chú trọng.
Ở Châu Âu nổ bật hơn cả là mô hình làng xóm ở Anh đã đem lại cho con người
một cuộc sống thoải mái, khá hiện đại và không khí trong lành. Chính điều đó đã thu
hút được những người dân đô thị chán cảnh sống ngột ngạt của khói bụi và đông đúc
của đô thị để đến với làng quê yên bình và thanh thản. Đây là một quốc gia đã thành
công trong việc quy hoạch lại mạng lưới dân cư nông thôn của nước mình.
Thời gian gần đây, các nước Đông Nam Á có rất nhiều cố gắng đưa ra các
chương trình phát triển nông thôn để phát triển kinh tế và ổn định xã hội. Các vùng
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 15

nông thôn được đầu tư cơ sở hạ tầng, mạng lưới đường giao thông phát triển, dịch
vụ công cộng được nâng cao, đời sống nhân dân được cải thiện. Tuy vậy, chưa có
nước nào đạt được mục tiêu cuối cùng là xoá bỏ đói nghèo, nâng chất lượng sống ở
vùng nông thôn ngang với đô thị. Do vậy mỗi nước cần phải tìm ra một mô hình
phát triển nông thôn phù hợp với điều kiện cụ thể của mình.
1.2.2. Thực trạng và xu thế phát triển mạng lưới dân cư và xây dựng nông thôn ở
Việt Nam
1.2.2.1. Thực trạng kiến trúc cảnh quan khu dân cư nông thôn
Hầu hết các công trình kiến trúc có giá trị tiêu biểu cho kiến trúc cổ Việt


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status