ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
LÊ TUẤN MINH
NGHIÊN CỨU QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT
VỚI QUY HOẠCH XÂY DỰNG ĐÔ THỊ
THÀNH PHỐ HÀ TĨNH, TỈNH HÀ TĨNH
Ngành: Quản lý đất đai
Mã số: 60.85.01.03
LUẬN VĂN THẠC SỸ
QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Lương Văn Hinh
Thái Nguyên - năm 2015
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Đề tài “Nghiên cứu quy hoạch sử dụng đất với quy
hoạch xây dựngđô thị thành phố Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh” là công trình nghiên
cứu của cá nhân tôi. Các số liệu, kết quả nêu trong Luận văn này là hoàn toàn
trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu
nào khác.
Tôi xin cam đoan rằng các thông tin trích dẫn trong luận văn đều có xuất
xứ, nguồn gốc cụ thể. Việc sử dụng các thông tin này trong quá trình nghiên cứu
là hoàn toàn hợp lệ.
Tác giả
Lê Tuấn Minh
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin trân thành biết ơn sâu sắc đối với thầy giáo, Phó giáo sư tiến sỹ
Lương Văn Hinh đã hết lòng hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện
Luận văn này.
Tôi xin cảm ơn các Thầy, Cô giáo trong Khoa Quản lý tài nguyên –
Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, đặc biệt là các thầy, cô thuộc Bộ môn
Quy hoạch đã hướng dẫn, giúp đỡ tôi hoàn thành Luận văn.
Tôi xin cảm ơn các thầy, cô giáo và cán bộ thuộc Phòng Quản lý đào tạo
1.1.2. Một số đặc điểm Quy hoạch vùng ở Mỹ: 5
1.1.3. Quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch xây dựng ở Trung Quốc 6
1.1.4. Một vài nhận xét qua nghiên cứu kinh nghiệm quy hoạh ở một số nước
trên thế giới 9
1.2. Tình hình công tác quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch xây dựng ở Việt Nam 10
1.2.1. Tình hình công tác quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch xây dựng và mối
quan hệ giữa hai loại quy hoạch ở nước ta qua các thời kỳ 10
1.3. Luận chứng về mối quan hệ giữa quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch xây dựng 18
1.3.1. Tính tất yếu khách quan của mối quan hệ giữa quy hoạch sử dụng đất và
quy hoạch xây dựng: 18
1.3.2. Nội dung chủ yếu của mối quan hệ giữa quy hoạch sử dụng đất và quy
hoạch xây dựng: 19
1.3.3. Vấn đề về chất lượng của quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch xây dựng và
mối quan hệ giữa hai loại quy hoạch. 20
1.3.4. Các quy định chung về quản lý, tổ chức thực hiện hai loại quy hoạch 21
Chương 2. ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG 27
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27
2.1. Đối tượng nghiên cứu 27
2.2. Phạm vi nghiên cứu 27
2.3. Nội dung nghiên cứu 27
2.4. Phương pháp nghiên cứu 27
Chương 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 30
3.1. Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của thành phố Hà Tĩnh 30
3.1.1. Điều kiện tự nhiên 30
3.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội 32
3.2. Nghiên cứu sự phù hợp và chưa phù hợp giữa quy hoạch sử dụng đất và quy
hoạch xây dựng ở thành phố Hà Tĩnh 40
3.2.1 Quy hoạch sử dụng đất của thành phố Hà Tĩnh 40
3.2.2 Quy hoạch xây dựng của thành phố Hà Tĩnh 48
3.2.3. Phân tích, so sánh về nội dung lập quy hoạch giữa quy hoạch sử dụng đất
và quy hoạch xây dựng trên địa bản thành phố Hà Tĩnh 64
Bảng 3.9. Mối quan hệ các nội dung trong quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch
xây dựng 66
DANH MỤC HÌNH
Hình 3.1. Bản đồ hành chính của thành phố Hà tĩnh 30
Hình 3.2 Bản đồ QHSDĐ đến năm 2020 thành phố Hà Tĩnh 40
Hình 3.3. Bản đồ quy hoạch xây dựng chung TP Hà Tĩnh đến năm 2020 48
Hình 3.4. So sánh quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch xây dựng năm 2010 ở
thành phố Hà Tĩnh 62
Hình 3.5. So sánh quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch xây dựng đến năm 2020
ở thành phố Hà Tĩnh 62
Hình 3.6. Sơ đồ mối quan hệ về mục tiêu giữa QH tổng thể phát triển kinh tế xã hội,
quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch xây dựng 65
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta hiện nay, công
tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai đã và đang góp phần quan trọng về
quản lý và sử dụng đất nhưng cũng còn nhiều vấn đề cần tiếp tục giải quyết.
Trên một địa bàn, lãnh thổ theo đơn vị hành chính thường có nhiều loại quy
hoạch, mà các quy hoạch đó đều gắn với việc quản lý và sử dụng đất. Do đặc
điểm, chức năng và nhiệm vụ phát triển của các ngành, lĩnh vực khác nhau,
nên việc lập quy hoạch của các ngành cũng có nội dung khác nhau. Việc khai
thác, sử dụng đất trong các quy hoạch của mỗi ngành đều tính đến các yếu tố
bảo vệ môi trường sinh thái và các điều kiện tự nhiên, kinh tế – xã hội để đảm
bảo được các mục tiêu phát triển của ngành đề ra. Tuy nhiên quy hoạch của
các ngành thường chưa tính toán đầy đủ những ảnh hưởng tiêu cực của việc
sử dụng đất thuộc chức năng quản lý, khai thác của mỗi ngành đến các loại
đất thuộc chức năng quản lý, khai thác của ngành khác.
Quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch xây dựng đô thị đô thị là các quy
2. Mục đích, yêu cầu nghiên cứu của đề tài
2.1. Mục đích nghiên cứu của đề tài
Nghiên cứu tính phù hợp giữa quy hoạch sử dụng đất với quy hoạch xây
dựng đô thị trên địa bàn thành phố Thành phố Hà Tĩnh; Đề xuất giải pháp khắc
phục những bất cập, chưa hợp lý giữa quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch xây
dựng đô thị của Tp Hà Tĩnh .
2.2. Yêu cầu nghiên cứu của đề tài
- Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế -xã hội thành phố Hà Tĩnh
- Đánh giá tình hình thực hiện quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch xây
dựng đô thị, nghiên cứu sự phù hợp giữa QHSDĐ và QHXD đô thị cụ thể của
thành phố Hà Tĩnh.
3
- Đề xuất giải pháp khắc phục những bất cập, chưa hợp lý giữa quy
hoạch sử dụng đất và quy hoạch xây dựng đô thị của Tp Hà Tĩnh .
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
3.1. Ý nghĩa khoa học
Đánh giá tính phù hợp giữa quy hoạch sử dụng đất với quy hoạch xây
dựng đô thị đô thị ở thành phố Hà Tĩnh.
3.2. Ý nghĩa thực tiễn
Đề xuất giải pháp khắc phục những bất cập, chưa hợp lý giữa quy hoạch sử
dụng đất và quy hoạch xây dựng đô thị của thành phố Hà Tĩnh .
4
Chương 1. TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Tình hình công tác lập quy hoạch và mối quan hệ giữa quy hoạch sử
dụng đất và quy hoạch xây dựng của một số nước trên thế giới
1.1.1. Công tác quy hoạch ở Cộng hòa Liên Bang Đức;
Quy hoạch không gian hay quy hoạch tổng thể vùng lãnh thổ ở Đức là loại
quy hoạch tổng hợp về sự phát triển giữa các vùng và các ngành của toàn bộ
lãnh thổ. Trong đó, quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch xây dựng là bộ phận của
quy hoạch không gian. Một trong những chức năng của quy hoạch không gian là
thủ đô Berlin. Đó là phương án lớn về xây dựng mới và cải tạo trung tâm Berlin,
là một công trường khổng lồ, cả ở trên mặt đất lẫn dưới đất, vì nó đặt vấn đề
không những là phải xây dựng cùng một lúc ở nhiều khu khác nhau, mà còn
phải cải tạo lại các hệ thống thiết bị và giao thông trên và dưới mặt đất cho cả
vùng Berlin: hệ thống cống rãnh, điện, nước, điện thoại, tàu điện ngầm, xe lửa,
xe điện, xe hơi Thành công của quy hoạch tái thiết thủ đô Berlin là đã tạo nên
bộ mặt mới của thành phố, trở thành một thủ đô hiện đại, xứng đáng với vị trí
của nước Đức ở châu Âu và trên thế giới [17] .
Như vậy, quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch xây dựng ở Cộng hòa Liên
bang Đức không phải là các quy hoạch riêng rẽ mà là các quy hoạch ngành, quy
hoạch bộ phận trong hệ thống quy hoạch lãnh thổ và quy hoạch vùng. Vì vậy,
mối quan hệ giữa hai loại quy hoạch này có sự thống nhất về không gian và thời
gian quy hoạch; cơ bản phù hợp với nhau và hỗ trợ lẫn nhau về nội dung quy
hoạch. Những mâu thuẫn, đối kháng lẫn nhau về mục tiêu và nội dung giữa hai
loại quy hoạch được điều chỉnh, được hạn chế nhằm đạt mục tiêu chung là phát
triển mọi mặt kinh tế, xã hội, bảo vệ môi trường.
1.1.2. Một số đặc điểm Quy hoạch vùng ở Mỹ:
Quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch xây dựng ở Mỹ là bộ phận của quy
hoạch vùng. Về mặt lý thuyết, quy hoạch vùng ở Mỹ hiện nay có hai xu hướng
chính: Thứ nhất, đặt trọng tâm vào hiệu quả kinh tế thuần tuý, thường dựa trên
6
việc đưa ra các mô hình toán và kinh tế định lượng rất phức tạp để phân tích
hoạt động kinh tế vùng và từ đó đề ra các hướng đầu tư hữu hiệu nhất; thứ hai,
nghiên cứu quy hoạch vùng mang tính chất phát triển kinh tế - xã hội hơn là
nhấn mạnh hiệu quả kinh tế thuần tuý; xu hướng quy hoạch này mang tính công
bằng xã hội nhiều hơn tính hiệu quả kinh tế, nên chú ý nhiều hơn đến yếu tố môi
trường và phát triển bền vững nên hay được áp dụng trong thực tế hơn [12] .
Trên thực tế, quy hoạch vùng ở Mỹ gồm quy hoạch vùng nhiều bang, quy
hoạch vùng bang hoặc vùng một vài quận trong một bang. Trong đó, quy hoạch
cấp vùng nhiều bang thực chất là quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội ở quy mô
trong quy hoạch sử dụng đất của Trung Quốc là:
- Định rõ việc sử dụng đất hợp lý để giảm thiểu mâu thuẫn sử dụng đất cũng
như chi phí kinh tế xã hội;
- Bảo vệ đất canh tác, nước và tài nguyên thiên nhiên khác cũng như di sản
văn hoá và thiên nhiên;
- Đất sử dụng cho mục đích công được bảo đảm và phân bổ hợp lý;
- Kìm chế sự phát triển lộn xộn khu vực đô thị, cải thiện khu vực sinh sống
của con người theo hướng bền vững;
- Khai thác và củng cố đất có hiệu quả khi cần; đẩy mạnh việc sử dụng đất
có hiệu quả hơn;
- Cải tiến việc ra quyết định và quản lý nhà nước.
Quy hoạch sử dụng đất ở Trung Quốc bao gồm các loại hình: Quy hoạch
tổng thể (bắt buộc theo luật mang tính chiến lược, toàn diện, quy định chính
sách); quy hoạch chuyên ngành (mang tính chuyên đề, đặc thù); quy hoạch chi
tiết (quy hoạch bố trí trên thực địa).
Quy hoạch xây dựng ở Trung Quốc được điều chỉnh chủ yếu bởi Luật Quy
hoạch nông thôn và đô thị. Chính phủ Trung Quốc đã đề ra chính sách phát triển
chăm lo nhà ở cho nhân dân lao động là chính sách trung tâm. Trong thời gian
qua, Trung Quốc đã đặc biệt chú trọng công tác cải tiến quản lý ngành xây dựng
và nhà đất, quản lý thị trường bất động sản [13].
8
Luật Quy hoạch nông thôn và đô thị của Trung Quốc nhấn mạnh các điểm
chính sau:
- Trong khu vực quy hoạch không được chiếm dụng đất nông nghiệp để xây
dựng doanh nghiệp, cơ sở công cộng, công trình công cộng và khu nhà ở.
- Khi khảo sát thiết kế và thực hiện quy hoạch, phải bảo vệ nguồn tài
nguyên và di sản văn hóa lịch sử, bảo đảm duy trì bản sắc địa phương, bản sắc
dân tộc và phong cách truyền thống. Trong quá trình khai thác và xây dựng khu
phố mới, phải bảo vệ nguồn tài nguyên và môi trường sinh thái, thể hiện đặc thù
địa phương. Khi sửa chữa khu phố cũ, phải bảo vệ di sản văn hóa và phong cách
bảo vệ nguồn tài nguyên, di sản văn hóa, bảo vệ môi trường…
Các quy định về quy hoạch và quản lý quy hoạch ở Trung Quốc là một
trong những nhân tố chính bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ trong mối quan hệ
giữa quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch xây dựng.
1.1.4. Một vài nhận xét qua nghiên cứu kinh nghiệm quy hoạh ở một số nước
trên thế giới
Qua nghiên cứu tình hình về mối quan hệ giữa quy hoạch sử dụng đất và
quy hoạch xây dựng của các nước trên thế giới, đại diện là quy hoạch của các
nước được trình bày ở trên, chúng ta có thể rút ra một số nội dung cần được xem
xét để áp dụng nhằm giải quyết tốt mối quan hệ giữa quy hoạch sử dụng đất và
quy hoạch xây dựng ở Việt Nam.
Hầu hết các nước trên thế giới, kể cả các nước phát triển (như Đức, Mỹ) và
đang phát triển (như Trung Quốc), có quy trình quy hoạch sử dụng đất đai mang
tính đặc thù riêng. Trước hết họ chú trọng về quy hoạch tổng thể không gian
(hay còn gọi là định hướng phát triển tổng thể - Master Plan), trên cơ sở quy
hoạch không gian người ta tiến hành phân vùng sử dụng đất, sau đó tiến hành
quy hoạch chi tiết cho từng khu vực.
Quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch xây dựng ở các nước, nhất là ở các
nước phát triển thường là quy hoạch bộ phận của quy hoạch tổng thể không gian
10
nên về cơ bản có sự thống nhất, đồng bộ với nhau về không gian, thời gian, nội
dung quy hoạch; cả hai loại quy hoạch đều hướng tới mục tiêu chung là phát
triển kinh tế, xã hội, văn hóa, bảo vệ tài nguyên, bảo vệ môi trường.
Trong quy hoạch lãnh thổ cũng như quy hoạch vùng, quy hoạch sử dụng
đất, các nước đều quan tâm giải quyết việc sắp xếp không gian, các biện pháp hạ
tầng không gian lớn, xác định những vùng ưu tiên, từ đó thực hiện các hoạt động
của quy hoạch lãnh thổ, quy hoạch vùng.
Việc lập các quy hoạch thường do các cơ quan công quyền của Nhà nước
thực hiện, có sự tham gia của các tập đoàn, tổ chức kinh tế ở mức độ khác nhau
và thường có sự tham gia rộng rãi của người dân. Ở các nước phát triển, về cơ
Công tác phân vùng quy hoạch nông nghiệp, lâm nghiệp, đã được đặt ra
ngay từ những năm 1960. Các bộ ngành chủ quản, các tỉnh, huyện đã có những
điều chỉnh về sử dụng đất cho các mục đích giao thông, thuỷ lợi, xây dựng kho
tàng, trại chăn nuôi, bến bãi, nhà xưởng… mang tính chất bố trí sắp xếp lại việc
sử dụng đất cũng chỉ mới được đề cập như một phần nội dung lồng ghép vào các
phương án phân vùng nông nghiệp, lâm nghiệp.
Mặc dù chưa có điều kiện tiến hành theo một nội dung, phương pháp, trình
tự thống nhất trong phạm vi một cấp vị lãnh thổ nào đó nhưng với tư cách là một
phần nội dung của các phương án phát triển sản xuất nông lâm nghiệp, quy
hoạch sử dụng đất đai đã tạo ra những cơ sở có tính khoa học cho việc tính toán
các phương án sản xuất có lợi nhất.
Đối với quy hoạch xây dựng, với sự giúp đỡ của các chuyên gia từ các nước
XHCN trước đây như Liên Xô, Hungary, Triều Tiên, Cộng hòa dân chủ Đức, Ba
Lan, Trung Quốc…, một số đồ án quy hoạch cho cho các địa phương như thị xã
Hồng Gai (thành phố Hạ Long), Hà Tĩnh, Hà Nội, Bắc Giang, Vinh… đã được
lập. Các quy hoạch này ít có điều kiện trở thành hiện thực do hoàn cảnh còn
chiến tranh, nước ta chưa thống nhất, tiềm lực đất nước còn phải dành cho công
cuộc chống Mỹ, thống nhất đất nước. Tuy nhiên, kết quả quy hoạch xây dựng
12
cũng đóng góp đắc lực cho công cuộc xây dựng ở miền Bắc cũng như trên phạm
vi cả nước sau khi đất nước thống nhất.
Mối quan hệ giữa quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch xây dựng trong giai
đoạn này chưa có biểu hiện rõ rệt và giữa hai loại quy hoạch chưa có tác động
qua lại một cách đáng kể do quy hoạch sử dụng đất vẫn chỉ là một phần nội
dung của các phương án phát triển sản xuất nông lâm nghiệp có đối tượng chủ
yếu là đất nông lâm nghiệp, trong khi đó quy hoạch xây dựng tập trung nghiên
cứu về phát triển các đô thị.
1.2.1.2. Thời kỳ từ năm 1975 đến trước khi có Luật Đất đai 1993
* Đối với quy hoạch sử dụng đất:
- Từ năm 1975 - 1981 là thời kỳ triển khai hàng loạt các nhiệm vụ điều tra
của Luật đất đai 1988. Số lượng các quy hoạch này trên phạm vi cả nước chưa
nhiều nhưng qua đó Tổng cục Quản lý Ruộng đất và các địa phương đã trao đổi,
hội thảo và rút ra những vấn đề cơ bản về nội dung và phương pháp quy hoạch
sử dụng đất, làm cho quy hoạch sử dụng đất không chỉ đơn thuần đáp ứng việc
sử dụng đất đai mà trở thành một nội dung, đồng thời là công cụ đắc lực cho
công tác quản lý nhà nước về đất đai của các địa phương.
Tổng cục Quản lý Ruộng đất lần đầu tiên ban hành văn bản hướng dẫn về
quy hoạch phân bổ đất đai chủ yếu đối với cấp xã (Thông tư số 106/TT-QHKH
ngày 15 tháng 4 năm 1991) với những nội dung chính như sau:
- Xác định ranh giới về quản lý, sử dụng đất;
- Điều chỉnh một số trường hợp về quản lý và sử dụng đất;
- Phân định và xác định ranh giới những khu vực đặc biệt;
- Một số nội dung khác về chu chuyển 5 loại đất, mở rộng diện tích đất sản
xuất, chuẩn bị cho việc giao đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, xây
dựng các văn bản chính sách đất đai, kế hoạch sử dụng đất đai.
* Đối với quy hoạch xây dựng:
Quy hoạch xây dựng nói chung, quy hoạch xây dựng đô thị nói riêng ở
nước ta trong giai đoạn trước đổi mới (1986) vẫn còn khiêm tốn, chưa có hệ
14
thống, chưa định hình được hướng phát triển rõ ràng. Mặc dù thành quả quy
hoạch xây dựng trong thời kỳ này còn hạn chế nhưng nó cũng đóng góp đắc lực
cho công cuộc xây dựng ở miền Bắc cũng như trên phạm vi cả nước sau khi đất
nước thống nhất. Đồng thời, nó cũng đặt nền móng cho sự phát triển tiến bộ của
công tác quy hoạch xây dựng giai đoạn tiếp theo.
Từ khi Đảng ta đề ra đường lối đổi mới đất nước tại Đại hội toàn quốc lần
thứ VI năm 1986, đánh dấu quá trình chuyển mình tích cực nhất của quy hoạch
xây dựng đô thị. Mặc dù còn nhiều quan điểm, nhận thức khác nhau về quy
hoạch, quản lý đô thị, công tác quy hoạch phát triển đô thị bước đầu đã có
những đóng góp đáng kể cho những thành công trong giai đoạn tiếp theo. Đây là
giai đoạn tìm tòi, dần dần thay đổi các phương pháp nghiên cứu của công tác
* Thực trạng mối quan hệ giữa hai loại quy hoạch:
Mối quan hệ giữa quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch xây dựng trong thời
kỳ này dần hình thành rõ nét, nhất là trong giai đoạn sau đổi mới. Mặc dù nội
dung và phương pháp của cả hai loại quy hoạch còn những nhược điểm, chưa
tính toán đầy đủ các điều kiện khách quan, quy hoạch ít chú trọng đến tổ chức
không gian, thiên về lập quy hoạch chia lô nhưng giữa hai loại quy hoạch đã có
những tác động qua lại, hỗ trợ lẫn nhau, đồng thời cũng xuất hiện những chồng
chéo, mâu thuẫn với nhau. Đối tượng nghiên cứu của quy hoạch sử dụng đất
thời kỳ này không chỉ là đất nông lâm nghiệp mà bao gồm tất cả các loại đất (5
loại đất chính theo quy định của Luật Đất đai năm 1987). Quy hoạch xây dựng
đã có liên quan nhiều đến quản lý đất đai. Bên cạnh những mặt thống nhất, hỗ
trợ lẫn nhau thì trong mối quan hệ giữa hai loại quy hoạch xuất hiện những mâu
thuẫn, chồng chéo mà một trong những nguyên nhân, đồng thời là sự biểu hiện
của nó là sự chồng chéo về chức năng, nhiệm vụ giữa các cơ quan quản lý nhà
nước về đất đai và về xây dựng.
16
1.2.1.3. Thời kỳ từ khi có Luật Đất đai năm 1993 đến nay
* Đối với quy hoạch sử dụng đất:
Luật Đất đai năm 1993 ra đời, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ hơn cho công tác
quy hoạch sử dụng đất đai đai. Tổng cục Địa chính đã tổ chức các Hội nghị tập
huấn, triển khai công tác Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai và chỉ đạo thực
hiện thí điểm ở 10 tỉnh, 20 huyện; ban hành quy trình, định mức và đơn giá điều
tra quy hoạch sử dụng đất đai áp dụng trong phạm vi cả nước.
Công tác quy hoạch sử dụng đất đai được triển khai mạnh mẽ và có bài bản
hơn ở cả 4 cấp là: cả nước, tỉnh, huyện, xã. Báo cáo “Quy hoạch, kế hoạch sử
dụng đất đai cả nước đến năm 2000” đã được Chính phủ trình Quốc hội khoá IX
tại kỳ họp thứ 10 (15/10 - 12/11/1996) và kỳ họp thứ 11 (02/4 - 10/5/1997).
Quốc Hội đã ra Nghị quyết số 01/1997/QH9 ngày 10/5/1997 thông qua kế hoạch
sử dụng đất đai đến năm 2000 của cả nước.
Tại kỳ họp thứ 5 Quốc hội khoá XI, Quốc Hội có Nghị quyết số
Thời kỳ này được xem như một thời kỳ đô thị hóa mạnh mẽ với nhiều chuyển đổi
lớn trong phát triển đô thị Việt Nam. Luật Xây dựng được ban hành đã tạo các cơ sở
cho công tác quy hoạch và quản lý đô thị có tính luật hóa ngày càng cao, hướng tới
việc tăng cường công tác quản lý đô thị, đổi mới việc lập và xét duyệt quy hoạch, kỷ
cương trong quản lý đất đai, tạo nguồn tài chính cho nguồn lực phát triển đô thị và
“đổi mới sang hình thức quy hoạch tạo các dự án phát triển đô thị tập trung thay cho
xu hướng chia lô nhỏ lẻ của giai đoạn trước”.
Năm 1998, Quy hoạch tổng thể phát triển hệ thống đô thị quốc gia đã được
Thủ tướng Chính phủ phê duyệt nhằm xác lập các định hướng lớn cho các vùng
đô thị trên toàn quốc, dự báo sự tăng trưởng của hệ thống đô thị và định hướng
phân bố hệ thống đô thị.
Từ năm 2003, sau khi Luật Xây dựng và Nghị định về Quy hoạch xây
dựng ra đời đã khẳng định các loại hình quy hoạch gồm quy hoạch xây dựng
vùng, quy hoạch xây dựng đô thị (bao gồm quy hoạch chung xây dựng đô thị và
quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị), quy hoạch xây dựng điểm dân cư nông thôn
và đưa nội dung “Thiết kế đô thị” vào công tác quy hoạch.