Hội thảo khoa học Quốc gia về Khí tượng Thủy văn, Môi trường và Biến đổi khí hậu lần thứ XVI
Tập 2: Thủy văn - Tài nguyên nước, Biển, Môi trường 173
MỘT SỐ THÁCH THỨC TRONG CÔNG TÁC QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN
NƯỚC TỈNH TÂY NINH VÀ NHU CẦU QUẢN LÝ THÍCH ỨNG
Đặng Hồ Phương Thảo
(1)
, Nguyễn Hồng Quân
(2)
(1)
Học viên cao học
(2)
Viện Môi trường và Tài nguyên, ĐHQG-HCM
Quản lý tài nguyên nước ở tỉnh Tây Ninh đang phải đối mặt với nhiều thách thức do
điều kiện kinh tế - xã hội và đe dọa của biến đổi khí hậu và nước biển dâng. Hạn chế trong
việc kiểm soát các nguồn thải phát sinh quá trình đô thị hóa và công nghiệp hóa là những
nguyên nhân chính gây nên tình trạng ô nhiễm nguồn nước ngày càng tăng (ví dụ như Rạch
Tây Ninh, sông Vàm Cỏ). Bên cạnh đó, trong những năm qua, mực nước ở các sông ở Tây
Ninh có xu hướng gia tăng so với trung bình nhiều năm, gây ngập lụt tại một số khu vực, điều
này cũng được dự đoán sẽ tăng trong tương lai. Hiện tại, phương pháp quản lý tài nguyên
nước truyền thống không thực sự hiệu quả tính liên kết lẫn nhau còn hạn chế và sẽ không
thích hợp để giải quyết các vấn đề trong tương lai. Hơn thế nữa, tính bất định về sự thay đổi
môi trường trong tình trạng hiện tại và tương lai còn rất cao làm hạn chế khả năng hiểu biết
của chúng ta.Vì vậy công tác quản lý tài nguyên nước đòi hỏi phải linh hoạt hơn và đáp ứng
với thay đổi trong điều kiện tính bất định ngày càng tăng. Bài báo tập trung bàn luận về một
số thách thức trong quản lý tài nguyên nước ở tỉnh Tây Ninh và các yếu tố bất định có liên
quan, từ đó định hướng xây dựng khung quản lý thích ứng (bao gồm các bước tiến hành)
TNN phải linh hoạt hơn, ứng phó với sự thay đổi và nắm bắt các kiến thức mới. Quản
lý bền vững nguồn TNN không thể thực hiện trừ khi chế độ quản lý nước hiện nay trải
qua một quá trình chuyển đổi theo hướng quản lý nước thích ứng hơn. Việc nghiên
cứu ứng dụng phương pháp quản lý thích ứng (QLTƯ) TNN trên thế giới đã và đang
được tiến hành nhằm bổ sung cho phương thức quản lý tổng hợp, tuy nhiên ở Việt
Nam vẫn chưa có công trình nghiên cứu nào hoàn chỉnh được tiến hành. Hiện nay các
nghiên cứu chủ yếu ở Việt Nam là tiếp cận với quản lý tổng hợp TNN, đặc biệt là
quản lý tổng hợp LVS. Các nghiên cứu về thích ứng với BĐKH ở các địa phương còn
nhỏ bé, chủ yếu là thông các chương trình mục tiêu quốc gia. Việt Nam đã xây dựng
các kịch bản về BĐKH. Trên cơ sở đó, xác định tầm quan trọng của thích ứng BĐKH
và giảm nhẹ rủi ro thiên tai dựa vào cộng đồng. Ở các địa phương, trong đó có Tây
Ninh, việc tìm hiểu các yếu tố bất định trong quản lý TNN và đưa QLTƯ ứng dụng
vào thực tế chưa được nghiên cứu và triển khai do những hạn chế về kinh phí, dữ liệu
đầu vào cho mô hình không liên tục… Do vậy, để khai thác và sử dụng hợp lý TNN ở
Việt Nam nói chung, trên địa bàn tỉnh Tây Ninh nói riêng, việc nghiên cứu tiếp cận
phương pháp QLTƯ là hết sức cần thiết.
2. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
2.1. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu
Về phương pháp luận: cách tiếp cận QLTƯ TNN.
Về địa bàn áp dụng: Áp dụng cách tiếp cận QLTƯ trong quản lý TNN cho thị
xã Tây Ninh, thuộc tỉnh Tây Ninh.
2.2. Các phương pháp nghiên cứu
Phương pháp thu thập, thống kê, tổng hợp tài liệu
Do đặc trưng của nghiên cứu liên quan nhiều đến khía cạnh lý thuyết quản lý nên
việc tham khảo các tài liệu nước ngoài về lý thuyết là hết sức cần thiết. Ngoài ra,
thông qua việc tiếp xúc, làm việc với các cơ quan địa phương để thu thập các tài liệu,
số liệu liên quan đến khu vực nghiên cứu.
Phương pháp khảo sát thực địa
Giúp thu thập, bổ sung số liệu về tự nhiên-kinh tế-xã hội và hiện trạng môi
trường ở Tây Ninh.
giữa các cơ quan này với nhau ngay trong cùng một địa phương cũng còn nhiều vấn đề
phải xem xét. Hơn thế nữa, việc phân công, phân cấp trách nhiệm quản lý còn chưa rõ
ràng, dẫn đến việc đùn đẩy trách nhiệm giữa các cơ quan với nhau.
Kết quả từ các buổi phỏng vấn với các Sở ban ngành liên quan cho thấy vẫn
chưa có nhiều hoạt động liên quan đến quản lý tổng hợp TNN ở cấp độ LVS cũng như
nghiên cứu kế hoạch liên quan đến thích ứng BĐKH được tiến hành thực hiện trên địa
bàn tỉnh. Thay vào đó, Tỉnh phần lớn tập trung vào các kế hoạch hoạt động quan trắc ô
nhiễm môi trường nước; tìm hiểu đặc điểm khí hậu, thủy văn khu vực.
3.2. Các nguy cơ tác động đến tài nguyên nước mặt trước nguy cơ BĐKH và tai biến
môi trường
Trong thời gian tới, TNN mặt trên địa bàn tỉnh Tây Ninh chắc chắn sẽ có
những diễn biến phức tạp ví dụ: do BĐKH làm suy giảm nguồn nước cấp, thay đổi
trong công tác điều tiết nước từ hồ Dầu Tiếng, do nhu cầu khai thác, sử dụng nước tại
địa phương cũng như vấn đề ô nhiễm môi trường nước không ngừng gia tăng trên
sông Sài Gòn, rạch Tây Ninh. Các vấn đề này hết sức phức tạp, cần phải có những
nghiên cứu thật chi tiết mới có thể đưa ra những dự báo xác thực.
Trong các cuộc phỏng vấn với những cơ quan ban ngành liên quan trong tỉnh
cho thấy rằng vấn đề quan tâm nhất liên quan đến TNN trên địa bàn tỉnh Tây Ninh là ô
nhiễm môi trường nước mặt, kế đến là năng lực quản lý nhà nước thuộc lĩnh vực tài
nguyên và môi trường nước, tiếp đến là biến đổi khí hậu với sự gia tăng ngập lụt ở một
số khu vực. Ngoài ra, kết quả bảng hỏi tại đối với người dân cho thấy rằng vấn đề
người dân quan tâm nhất là ô nhiễm môi trường nước mặt. Kế đến là tình trạng ngập
lụt cục bộ ở một số khu vực khi có mưa lớn xảy ra. Tiếp đến là thay đổi mục đích sử
dụng đất (ví dụ chuyển đổi từ trồng trọt sang chăn nuôi) cho phù hợp với điều kiện khí
hậu.Như vậy, tổng hợp kết quả thu thập được cho thấy 2 vấn đề chính liên quan đến
TNN được xác định ưu tiên ở Tây Ninh là ô nhiễm môi trường nước mặt và nguy cơ
ngập lụt trong điều kiện BĐKH (Hình ).
Hội thảo khoa học Quốc gia về Khí tượng Thủy văn, Môi trường và Biến đổi khí hậu lần thứ XVI
BĐKH, ô nhiễm môi trường và tác động của nó đến con người, đến sức khỏe cộng
đồng. Hội thảo khoa học Quốc gia về Khí tượng Thủy văn, Môi trường và Biến đổi khí hậu lần thứ XVI
Tập 2: Thủy văn - Tài nguyên nước, Biển, Môi trường 177
b. Khả năng thích ứng của người dân
Kết quả từ phỏng vấn, bảng hỏi cho thấyrằng người dân địa phương đã nhận
thấy được những biến đổi thời tiết trong những năm gần đây. Một số biểu hiện như
nhiệt độ tăng, xuất hiện thường xuyên các đợt mưa to, dông mạnh, lốc xoáy, sét.
Lượng mưa tăng vào mùa mưa, giảm vào mùa khô. Mùa mưa đến sớm hơn trung bình
nhiều năm, xuất hiện nhiều cơn mưa trái mùa.Với các hiện tượng thời tiết nguy hiểm
như dông, lốc xoáy với cường độ mạnh, có sét và mưa lớn gây ngập úng cục bộ xảy ra
trên diện rộng (đặc biệt là giông, lốc xoáy) gây thiệt hại đến tính mạng và tài sản của
nhân dân.Theo khảo sát, ghi nhận một số biện pháp người dân đã sử dụng để bảo vệ
môi trường nước và ứng phó với biến đổi của thời tiết (Bảng 1).
Bảng 12: Tác động và biện pháp thích ứng với BĐKH
Chỉ số
Tác động
Biện pháp thích ứng
Nhiệt độ
tăng
- Sâu bệnh phát sinh nhiều
- Sức khỏe con người bị giảm sút,
giảm năng suất lao động
- Hạn hán, thiếu nước
- Đất cằn cỗi, cây cối phát triển
chậm
tương tác lẫn nhau giữa cộng đồng khoa học và các tổ chức có liên quan trong việc
quản lý các hệ sinh thái. Bên cạnh sự thiếu hợp tác nghiên cứu giữa khoa học và quản
lý, trong quá khứ tập trung vào các chính sách quản lý ngắn hạn và bị phân mảnh
(Walters và Holling, 1990).
Cách tiếp cận QLTƯ bắt nguồn từ việc công nhận rằng hệ thống tự nhiên và
sự tương tác giữa con người với hệ sinh thái là không thể đoán trước (Gunderson và
ctv, 1995). Tuy nhiên, hoạt động quản lý vẫn phải tiến hành ngay cả nếu sự hiểu biết
của chúng ta về hệ thống và những tác động của quản lý trên một hệ thống là không
đầy đủ (Johnson, 1999). Vì vậy, các chính sách thích ứng được thiết kế để kiểm tra giả
thuyết về phản ứng của hệ thống khi con người can thiệp. Nói cách khác, hoạt động
Hội thảo khoa học Quốc gia về Khí tượng Thủy văn, Môi trường và Biến đổi khí hậu lần thứ XVI
178 Tập 2: Thủy văn - Tài nguyên nước, Biển, Môi trường
quản lý được thực hiện không chỉ để quản lý, mà còn để tìm hiểu về các quy trình quản
lý hệ thống.
Mục đính chính của cách tiếp cận thích ứng là tăng cường khả năng của hệ
thống theo một phạm vi biến đổi môi trường rộng hơn. Trong điều kiện hạ tầng kỹ
thuật không được thiết kế hoàn toàn để bảo vệ hệ thống từ biến đổi môi trường nhưng
các phương tiện kỹ thuật-xã hội khác cho phép duy trì chức năng của một hệ thống
trong điều kiện thay đổi môi trường. Ví dụ mặc dù không thể xây dựng các hồ chứa
lớn để duy trì cung cấp nước trong trường hợp hạn hán, người ta quản lý nhu cầu sử
dụng bằng cách tiết kiệm hoặc thay đổi nguồn nước sử dụng. Trong việc quản lý ứng
phó lâu dài, cần phải thiết lập khả năng thay đổi cấu trúc hệ thống - ví dụ như thay đổi
các loại cây trồng và thay đổi lối sống hoặc phân bổ hạn ngạch nước sử dụng nhất
định.
Đối với một hệ thống để có thể thích ứng với thay đổi hoặc phải được chuẩn bị
cho sự thay đổi tính bất định trong tương lai, hai yêu cầu quan trọng sau đây: (1)
Thông tin phảicósẵn cho hệ thốngvà hệ thốngphải có khả năngxửlýthông tin này; (2)
2006). Kết quả của quá trình học tập mang tính chu kỳ, cần xem xét các phản ứng và
xây dựng kịch bản dựa trên việc theo dõi các chỉ số của hệ thống một cách linh động
so với dự đoán dài hạn từ các bước đầu tiên hoặc từ số liệu thống kê và các thông tin
trong quá khứ. Có thể nói rằng chương trình khung của QLTƯ phụ thuộc vào chuyên
môn và thông tin để gia tăng sự hiểu biết và nhận thức trực quan cũng như nhận diện
tác động có thể xảy ra.
4.2. Đề xuất mô hình quản lý thích ứng
Để đạt được mục tiêu thực hiện quá trình chuyển đổi sang chế độ quản lý thích
ứng, cần thiết trao đổi một cách hiệu quả giữa nghiên cứu sáng tạo, tích hợp vào các
khái niệm quản lý nước ứng với chủ đề cụ thể cùng với ứng dụng và thử nghiệm thực
tế trong quá trình có sự tham gia của các bên liên quan. Hình dưới đây thể hiện một
cái nhìn tổng quan hơn các khối công việc khác nhau để chuyển đổi sang hình thức
QLTƯ TNN ở tỉnh Tây Ninh. Tương tác chính giữa các thành phần nghiên cứu
Tương tác chính giữa nghiên cứu và phát triển công cụ
Tương tác chính giữa nghiên cứu, ứng dụng và phát triển công cụ
Hình 3: Tổng quan các khối công việc khác nhau để chuyển đổi sang hình thức QLTƯ
TNN ở Tây Ninh.
Khối 1 phát triển các khái niệm và phương pháp mới để hiểu và thực hiện quá
trình chuyển đổi từ thực tiễn hiện tại sang quản lý thích ứng hơn để tăng khả năng
thích ứng của các LVS. Khối 1 tích hợp kết quả và công cụ từ khối 2 để xác định tính
bất định và khả năng thích ứng của các LVS để thiết lập cơ sở cho sự hiểu biết các ưu
tiên được giải quyết bằng các chiến lược quản lý thích ứng.Khối 3 thực hiện quy trình
của các bên liên quan và phối hợp nghiên cứu thực nghiệm để tạo ra đầu vào cho sự
phát triển của khái niệm và phương pháp mới và để cung cấp một thử nghiệm ứng
dụng trong điều kiện môi trường xã hội khác nhau.Khối 4 tiếp tục phát triển các công
climate and global change, Water Resour Manage (2007) 21:49–62
7. Pahl-Wostl, C. e. a. (2006), Framework for Adaptive Water Management Regimes
and for the Transition between Regimes, NeWater Report Series No.12 (online),
http://www.usf.uniosnabrueck.de/projects/newater/downloads/newater_rs12.pdf,
2005.
Hội thảo khoa học Quốc gia về Khí tượng Thủy văn, Môi trường và Biến đổi khí hậu lần thứ XVI
Tập 2: Thủy văn - Tài nguyên nước, Biển, Môi trường 181
8. Trung tâm công nghệ môi trường CEFINEA (2012), Báo cáo tổng hợp dự án:
Đánh giá mức độ BĐKH, xây dựng các kịch bản BĐKH và nước biển dâng tỉnh
Tây Ninh, Viện Môi trường và tài nguyên, Tp. Hồ Chí Minh.
9. Bộ Tài nguyên và môi trường (2011), Kịch bản BĐKH, nước biển dâng cho Việt
Nam, Hà Nội.
10. Cục Thống kê Tây Ninh (2011), Niên giám thống kê năm 2010, Tây Ninh.
11. Lâm Thị Thu Sửu và cộng sự (2010), Thích ứng BĐKH dựa vào cộng đồng – LVS
Hương, tỉnh Thừa Thiên Huế, Trung tâm nghiên cứu và phát triển xã hội, Huế.
12. Nguyễn Văn Thắng và cộng sự (2010), BĐKH và tác động ở Việt Nam, Viện Khoa
học Khí tượng thủy văn và môi trường, Hà Nội.
CHALLENGES IN WATER RESOURCES MANAGEMENT
IN TAY NINH: A NEED OF ADAPTIVE MANAGEMENT
Đang Ho Phuong Thao, Nguyen Hong Quan
Water management in Tay Ninh province is facing many challenges due to socio-
economic conditions and by threatening of climate change and sea level rise. A not well –
managed urbanization and industrialization processes are major causes increasing pollution
on the water resource (e.g. Rach Tay Ninh, Vam Co Dong rivers). From 2008 to now, water
levels in rivers reach higher compared to average of many years, which causing flooding in