Ngành hồ tiêu Việt Nam trước yêu cầu phát triển bền vững và hội nhập kinh tế - Pdf 30

1
NGÀNH HỒ TIÊU VIỆT NAM
TRƯỚC YÊU CẦU PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
VÀ HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ ðỗ Hà Nam
(Chủ tịch Hiệp hội Hồ tiêu Việt Nam) Ngành Hồ tiêu Viêt Nam, quá trình hình thành và phát triển:

M
ặc dù cây hồ tiêu ñược trồng ở nước ta vào cuối thế kỷ 19 nhưng phải ñến
cuối thế kỷ 20 ngành Hồ tiêu mới hình thành rõ nét và ñến ñầu thế kỷ 21 bắt ñầu
hòa nhập vào nền kinh tế quốc tế. Hơn 150 năm qua, cây hồ tiêu Việt Nam trải
qua những bước thăng trầm, nhưng trong hơn hai mươi năm Việt Nam ñổi mới cơ
chế quản lý kinh tế, ñã tạo bước ñột phá cho ngành hồ tiêu phát triển vượt bậc cả
về tốc ñộ, quy mô sản xuất, năng suất, sản lượng, số và chất lượng sản phẩm xuất
khẩu, cả về tổ chức sản xuất, lưu thông phân phối, xúc tiến thương mại hòa nhập
giao thương kinh tế quốc tế.

Về sản xuất và xuất khẩu:

Do vị trí ñịa lý thuận lợi, ñiều kiện thiên nhiên ưu ñãi, lực lượng lao ñộng
dày kinh nghiệm, ñã tạo tiềm năng, lợi thế cho ngành hồ tiêu phát triển. ðến nay
cây Hồ tiêu ñã trồng ở nhiều vùng sinh thái khác nhau từ Quảng trị ñến Kiên
Giang, nhưng tập trung trọng ñiểm ở 6 tỉnh:

Kết quả sản xuất hồ tiêu niên vụ 2007 - 2008 - 6 tỉnh trọng ñiểm
D T trồng D T thu N. Suất S. Lượng

9.000 tấn.

Thời kỳ 1991-2000, hồ tiêu Việt Nam liên tục phát triển cả về diện tích, sản
lượng và số lượng xuất khẩu, năm sau cao hơn năm trước: Năm 1991 diện tích ñạt:
8.900 ha, sản lượng: 9.000 tấn và xuất khẩu: 16.300 tấn; Theo ñó ñến năm 2000
ñạt: 27.900 ha, 39.200 tấn và 36.400 tấn. Diện tích tăng bình quân: 1.900 ha/năm
(31,3%), sản lượng tăng: 3.030 tấn/năm (44%), xuất khẩu tăng: 2.740 tấn/năm
(22,3 %).Về giá trị ngoại tệ xuất khẩu: Năm 1995-1997 ñạt bình quân: 51,17 triệu
USD/năm, ñơn giá: 2.244 USD/tấn tiêu ñen/FOB. Theo ñó năm 1998- 2000 ñạt:
130,73 triệu USD/năm và 4.236,7USD/tấn.

Thời kỳ 2001 ñến nay, ñặc biệt giai ñoạn 2001-2006 hồ tiêu Việt Nam tăng
ñột biến cả diện tích, sản lượng và số lượng xuất khẩu (do 3 năm trước ñó giá tăng
nên bà con nông dân gia tăng trồng mới). Năm 2001 diện tích ñạt: 31.600 ha, Sản
lượng: 44.400 tấn, xuất khẩu: 56.500 tấn; Năm 2006 diện tích lên 50.000 ha (khá
ổn ñịnh cho ñến nay do diện tích chết ñược trồng dặm và trồng mới), bình quân
tăng 2.300 ha/năm (19,8 %). Sản lượng 3 năm 2006 - 2007- 2008 bình quân ñạt:
90.000 tấn/năm, tăng bình quân: 6.200 tấn/năm (35%). Số lượng xuất khẩu tăng
bình quân 10.028 tấn/năm (34,4%/năm). Về trị gía xuất khẩu năm 2001-2005 bình
quân chỉ 111,9 triệu USD/năm (do giá giảm mạnh), bình quân chỉ còn 1.346
USD/tấn. Từ cuối năm 2006 ñến nay giá tiêu ñược phục hồi, giá bình quân ñạt:
3.300 USD/tấn nên năm 2007 xuất khẩu chỉ ñạt 82.000 tấn nhưng trị giá ñạt: 286
triệu USD, ñạt mức cao nhất so các năm trước ñó. Năm 2008 dự ước xuất khẩu
khoảng 80.000 tấn, nhưng trị giá có thể ñạt khoảng 290 triệu USD, ñạt mức kỷ lục
cao nhất từ trước tới nay.

Suốt 8 năm từ năm 2001 ñến nay, Việt Nam luôn luôn chiếm ngôi số 1 thế
giới về số lượng xuất khẩu hồ tiêu, bình quân 70.600 tấn/năm (chiếm 31,2% thị
phần thế giới. Và suốt từ năm 2003 ñến nay, sản lượng trồng hồ tiêu Việt Nam
3

là Bộ Nông nghiệp & PTNT, Bộ Nộ vụ, Bộ Công thương, tháng 2/2001, Chính
phủ ñã cho phép thành lập Hiệp hội hồ tiêu Việt Nam (VPA). Hiệp hội ñã tổ chức
thành công 3 lần ñại hội, bầu ra Ban chấp hành cho mỗi nhiệm kỳ gồm những ủy
viên ñại diện cho các thành phần: Nông dân, doanh nghiệp, nhà quản lý, nhà khoa
học. Ban chấp hành là trung tâm ñoàn kết, tâm huyết, hoạt ñộng với phương châm:
“ Vì lợi ích chung, xây dựng ngành hồ tiêu Việt Nam phát triển bền vững”, ñã thu
hút ñược ñông ñảo lực lượng. Ban ñầu chỉ có 34 hội viên, ñến nay ñã có gần 80
hội viên, gồm các doanh nghiệp trong và ngoài nước hoạt ñộng kinh doanh hồ tiêu
tại Việt nam, một số nhà khoa học ở các Viện, Trường, nhà quản lý ở trung ương
và ñịa phương, nhà băng. Với hàng trăm thương lái, ñại lý, các doanh nghiệp vừa
và nhỏ ở khắp các vùng miền ñã thu gom, chế biến, cung ứng hạt tiêu cho gần 100
doanh nghiệp ñủ loại thành phần trong và ngoài nước, tham gia xuất khẩu trực tiếp
tới trên 80 quốc gia và vùng lãnh thổ tạo nên hệ thống tổ chức kênh lưu thông và
các dịch vụ cho xuất khẩu mặt hàng hồ tiêu bình ñẳng, sôi ñộng chưa từng có từ
trước tới nay.
4
Tháng 3/2005 Hiệp hội Hồ tiêu Việt Nam ñược kết nạp vào Hiệp hội hồ tiêu
quốc tế (IPC). Hiệp hội hồ tiêu quốc tế lập năm 1971, có sự bảo trợ của liên hiệp
quốc, ñến nay chỉ có 6 nước thành viên, gồm các quốc gia sản xuất, xuất khẩu hồ
tiêu hàng ñầu thế giới: Ấn ðộ, Indonesia, Malaysia, Srilanca, Brazil và Việt Nam.
Các quốc gia này chiếm trên 80% sản lượng và số lượng xuất khẩu, là nhân tồ chủ
yếu chi phối ñiều tiết thị trường giá cả hạt tiêu toàn cầu.

Là thành viên của IPC, với vị thế số 1 thế giới về sản lượng và số lượng
xuất khẩu, ngàmh hồ tiêu Việt Nam nói chung và Hiệp hội hồ tiêu Việt Nam nói
riêng ñã ñược hòa nhập vào nền kinh tế thế giới. Hồ tiêu Việt Nam ñã góp phần
làm thay ñổi cung cầu, thị trường giá cả hồ tiêu thế giới. Vị thế và tiếng nói của
ngành hồ tiêuViệt nam ñược nâng lên tầm cao mới trên thương trường quốc tế.
Hiệp hội hồ tiêu Việt Nam ñã ñóng góp ñáng kể về tài chính, về kinh nghiệm sản
xuất, về quản lý nhà nước, về hoạt ñộng của Hiệp hội ñối với IPC, ngược lại ngành

hướng sản xuất này. Dù tình huống nào sảy ra thì ngành Hồ tiêu Việt Nam vẫn
5
hoàn toàn chủ ñộng hội nhập vì ta có nhiều lợi thế cạnh tranh, sản xuất hồ tiêu toàn
cầu, cung vẫn chưa ñủ cầu.

ðối ñầu với sâu bệnh hại:

Sản xuất hồ tiêu toàn cầu thời kỳ từ cuối năm 2000 ñến ñầu năm 2006 bị sa
sút, nguyên nhân chính vì giá cả xuống quá thấp, mặt khác bị sâu bệnh hại ở khắp
các quốc gia trồng tiêu. Nếu bệnh chết nhanh,chết chậm ở cây tiêu không ñược
ngăn chặn kịp thời thì nguy cơ có thể ngành trồng tiêu ở một số vùng trên diện
rộng bị xóa sổ, ñiều này thực sự là một ñề tài nghiên cứu khoa học lớn ñối với các
nhà nông học trong nước và thế giới và cũng ñòi hỏi sự hỗ trợ thiết thực, hiệu quả
của chính phủ các nước.

Nâng cao chất lượng, bảo ñảm vệ sinh an toàn thực phẩm:

ðiều này thực sự là một thách. Phải kiên trì, thường xuyên tuyên truyền, tập
huấn, hướng dẫn, ñầu tư… làm thay ñổi nhận thức, hành ñộng cho các nông hộ
chuyển từ sản xuất tiểu nông với kinh nghiệm truyền thống sang sản xuất theo áp
dụng tiến bộ KHKT. Hình thức tổ chức câu lạc bộ, tổ hợp tácsản xuất là rất cần
thiết. Thực hiện sản xuất theo quy trình GAP, tạo sản phẩm sạch, vệ sinh an toàn
an toàn, làm cho giá trị hàng hóa ngày càng gia tăng, tạo nhiều vùng nguyên liệu
tập trung, xây dựng thương hiệu (như mô hình hồ tiêu Chư Sê) là hét sức cấp bách.

Thu thập, phân tích và phổ biến thông tin:

Sản xuất và xuất khẩu hồ tiêu của Việt Nam ñã có vị thế cao trên trường
quốc tế, ñiều quan trọng là phải hiểu thị trường, phải biết ñược diễn biễn của thị
trường ñể biết ñược cung cầu thế giới, ñể dự báo, khuyến cáo nông dân, doanh


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status