TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
VIỆN ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC
KHOA LUẬT KINH TẾ
……
ĐỀ TÀI
ĐỌC VÀ BÌNH LUẬN HIỆP ĐỊNH TRIPS VỚI NHỮNG QUY ĐỊNH CÓ
LIÊN QUAN CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM
NHÓM HỌC VIÊN:
(1) CAO THỊ TRANG
(2) ĐỖ ANH THƯ
(3) ĐỖ HOÀNG TRUNG
(4) TRƯƠNG CAO THUẬN
GVHD: TS LÊ VĂN HƯNG
HCM – 2015
PHẦN 1: TỔNG QUAN VỀ TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI (WTO)
1. Hiệp định Thành lập Tổ chức Thương mại Thế giới: Vòng đàm phán Uruguay
(1986 – 1994) quyết định hầu kết các Hiệp định liên quan trong khuôn khổ WTO
được ký kết chính thức tại Hội nghị Bộ trưởng Marrakesh ngày 15 tháng 4 năm
1994 (Tuyên bố Marrakesh - 1994). Văn kiện cuối cùng là kết quả đàm phán về
Thương mại đa biên - Hiệp định Thành lập Tổ chức Thương mại Thế giới.
Nội dung và bố cục Hiệp định Thành lập Tổ chức Thương mại Thế giới như sau:
- Hiệp định Thành lập Tổ chức Thương mại Thế giới;
- Phụ lục 1
Phụ lục 1A: Các Hiệp định Đa biên về thương mại hàng hóa
(1) Hiệp định chung về thuế quan và thương mại 1994;
(2) Hiệp định Nông nghiệp;
(3) Hiệp định về Áp dụng các Biện pháp Kiểm dịch Động thực vật;
(4) Hiệp định về Hàng dệt may (Lưu ý: Hiệp định này đã hết hiệu lực từ
01/01/2005);
(5) Hiệp định về các Hàng rào Kỹ thuật đối với Thương mại;
Nguyên tắc đối xử quốc gia (NT): Quốc gia thành viên phải dành cho các chủ thể
nước ngoài hưởng sự bảo hộ đối với các quyền sở hữu trí tuệ, trong phạm vi (i) cho
hưởng; (ii) duy trì; (iii) thực thi các quyền sở hữu trí tuệ không kém thuận lợi hơn
sự bảo hộ dành cho công dân nước mình.
Nguyên tắcđối xử tối huệ quốc (MFN): Quốc gia thành viên phải dành cho các
chủ thể nước ngoài sự bảo hộ đối với các quyền sở hữu trí tuệ như nhau.
PHẦN 2:HIỆP ĐỊNH VỀ CÁC KHÍA CẠNH LIÊN QUAN ĐẾN THƯƠNG MẠI CỦA QUYỀN
SỞ HỮU TRÍ TUỆ (TRIPS)
Trong khuôn khổ của WTO, tổng cộng gồm 20 hiệp định, trong đó có Hiệp định
quốc tế về sữa đã chấm dứt năm 1997, còn lại 19 hiệp định đang tồn tại và có hiệu
lực. Đề tài tập trung nghiên cứu Hiệp định về các khía cạnh liên quan đến thương
mại của quyền sở hữu trí tuệ (TRIPS) quy định tại Phụ lục 1C của Hiệp định Thành
lập Tổ chức Thương mại Thế giới.
1. TRIPS – Hiệp định riêng về Sở hữu trí tuệ
Quyền sở hữu trí tuệ là một lĩnh vực riêng biệt, mang tính chuyên môn và không
phải lúc nào cũng gắn với thương mại. Trong quá trình bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ
(cho hưởng, duy trì, thực thi quyền sở hữu trí tuệ) thường ảnh hưởng nhiều đến
việc mua bán, sử dụng các sản phẩm trí tuệ do các lý do điển hình như sau:
(i) Mỗi quốc gia có một hệ thống bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ riêng sẽ gây phức
tạp và trở ngại cho hoạt động thương mại và đầu tư quốc tế;
(ii) Quyền sở hữu trí tuệ của chủ sở hữu quyền hay người giữ quyền hợp phápkhông
được bảo hộ hoặc bảo hộ không đầy đủ khi một quốc gia không bảo hộ quyền sở
hữu trí tuệ dẫn đến việc khuyến khích hàng giả, hàng nhái trong lĩnh vực sở hữu trí
tuệ;
(iii) Chủ sở hữu quyền hay người giữ quyền hợp phápđối với quyền sở hữu trí tuệlo
ngại do quyền sở hữu trí tuệ của mình sẽ bị gây thiệt hại khi đầu tư, kinh doanhdẫn
đến tâm lý lo lắng khi nghiên cứu, đưa sản phẩm vào thị trường hoặc đầu tư sản
xuất.
Mục tiêu của TRIPS: được thiết lập nhằm tạo ra quy định thống nhất, tương
đối trong việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ tại tất cả các quốc gia thành viên
Đối tượng bảo hộ Lĩnh vực
áp dụng chủ yếu
1 Quyền sở hữu công
nghiệp (Industrial
Properties)
Bằng phát minh
sáng chế (li-xăng)
(Patent)
Các sáng chế mới, có
tính sáng tạo và có khả
năng ứng dụng công
nghiệp
Các ngành sản xuất
Bằng sáng chế hữu
dụng (Utility model)
Sáng chế hữu dụng (quy
mô nhỏ)
Các ngành sản xuất
Kiểu dáng công
nghiệp (Industrial
design)
Kiểu dáng mang tính
trang trí sử dụng cho
sản phẩm công nghiệp
Các ngành quần áo, ô
tô, mô tô, sản phẩm
điện tử
Nhãn hiệu hàng hóa
(Trademark)
Dấu hiệu hoặc biểu
Công trình sáng tạo của
tác giả và các đống góp
liên quan của người
biểu diễn, nhà sản xuất
ghi âm, tổ chức phát
hành
Các lĩnh vực in ấn, giải
trí (hình, video, phim
ảnh), phần mềm, phát
thanh truyền hình
Quyền đối với giống
cây trồng, vật nuôi
(Breeder’s rights)
Các loại giống mới, ổn
định, thuần nhất và có
thể phân biệt được
Công nghiệp thực
phẩm và nông sản
Quyền đối với bố trí
mạch tích hợp
(Integrated circuits)
Sơ đồ thiết kế gốc Công nghiệp vi điện tử
3 Quyền đối với Bí mật kinh
doanh (Trade secrets)
Bí mật kinh doanh
(Trade secrets)
Thông tin về kinh doanh
mang tính bí mật
Tất cả các ngành
4. TRIPS – Quy định về bằng sáng chế
được chủ sở hữu bằng đồng ý (thường thông qua hợp đồng li-xăng và phải trả một
khoản phí gọi là phí li-xăng cho chủ sở hữu).
“Việc sử dụng” ở đây được hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm:
(i) Đối với sáng chế là “sản phẩm”: việc sản xuất, tạo ra, bán hoặc nhập
khẩu sản phẩm đó;
(ii) Đối với sáng chế là “quy trình”: việc dùng quy trình, bán hoặc nhập khẩu
sản phẩm sản xuất ra từ quy trình đó.
Những hạn chế đối với độc quyền của chủ sở hữu bằng sáng chế:
(1) Những trường hợp có thể sử dụng bằng sáng chế mà không cần sự đồng ý của
chủ sở hữu:
(2) Các tình thế khẩn cấp quốc gia; các tình huống đặc biệt khẩn cấp (ví dụ sử
dụng thuốc chống lại dịch bệnh khẩn cấp…);
(3) Các trường hợp không sử dụng vào mục đích thương mại;
(4) Các trường hợp bắt buộc cho phép sử dụng sáng chế (việc cho phép này có thể
được cơ quan có thẩm quyền thực hiện nếu (i) chủ sở hữu bằng sáng chế cố ý
từ chối không cho phép sử dụng sáng chế bằng cách đặt ra những điều kiện bất
hợp lý và (ii) tuân thủ một số điều kiện mà TRIPS quy định).
Với những trường hợp này, chủ sở hữu phải được thông báo về việc sử dụng sáng
chế liên quan.
(ii) Công bố thông tin về sáng chế khi hết thời hạn bảo hộ
Việc bảo hộ sáng chế (thông qua bằng sáng chế) chỉ có thời hạn nhất định (tùy theo
quy định của từng nước). Hết thời hạn này, chủ sở hữu bằng sáng chế phải:
Công bố thông tin về sáng chế;
Tạo điều kiện để những người có khả năng kỹ thuật hiểu và sử dụng thông tin này
để nghiên cứu thêm hoặc ứng dụng công nghiệp.
Thời hạn bảo hộ tối thiểu
TRIPS quy định sáng chế đã đăng ký phải được bảo hộ trong thời gian tối thiểu là
20 năm kể từ ngày đăng ký. Thời hạn cụ thể do từng nước tự quy định.
5. TRIPS - Quy định về Quyền tác giả và các quyền liên quan
Đối tượng được bảo hộ
phẩm của mình đến công chúng mà thường phải thông qua những người trung
gian. Những người này sẽ sử dụng kỹ năng chuyên môn để thể hiện và chuyển tải
các tác phẩm này đến công chúng (ví dụ ca sỹ trình bày bài hát, nhạc công trình
bày một tác phẩm âm nhạc…).
Và những trường hợp này cũng được bảo hộ quyền, gọi là quyền liên quan đến
quyền tác giả, bao gồm:
- Quyền của người biểu diễn (với việc biểu diễn của họ);
- Quyền của nhà sản xuất bản ghi âm (với tác phẩm ghi âm của họ);
- Quyền của tổ chức phát sóng (với các chương trình truyền hình hoặc radio).
Thời hạn bảo hộ tối thiểu
TRIPS quy định các thời hạn bảo hộ tối thiểu đối với quyền tác giả và các quyền liên
quan theo Bảng sau đây (thời hạn cụ thể do nước thành viên tự quy định)
Bảng 2.5 Thời hạn bảo hộ tối thiểu đối với quyền tác giả và quyền liên quan
Đối tượng bảo hộ Thời gian bảo hộ tối thiểu (năm)
1 Quyền tác giả Đời tác giả + 50 năm
2 Tác phẩm điện ảnh 50 năm sau khi tác phẩm đó được công bố trước
công chúng (trường hợp không được công bố thì
tính từ thời điểm tác phẩm đó hoàn thành)
3 Tác phẩm nhiếp ảnh
(hoặc nghệ thuật ứng
dụng)
25 năm sau khi tác phẩm hoàn thành
4 Người biểu diễn hoặc sản
xuất bản ghi âm
50 năm kể từ cuối năm đĩa hát hoặc chương
trình đó được thực hiện
5 Phát thanh truyền hình 20 năm kể từ ngày kết thúc năm dương lịch diễn
ra chương trình phát thanh/truyền hình đó
6. TRIPS – Quy định về thương hiệu
’Thương hiệu” là một hoặc tập hợp các ký hiệu để phân biệt hàng hóa/dịch vụ của
bảo hộ cũng thường chỉ chủ yếu bảo hộ kiểu dáng công nghiệp của một số nhóm
sản phẩm (ví dụ sản phẩm dệt, da và các sản phẩm da, xe ô tô…).
7.1 Đối tượng bảo hộ
Các nước thành viên WTO phải bảo hộ những kiểu dáng công nghiệp đáp ứng điều
kiện: Có tính mới; hoặc là nguyên bản
7.2 Nội dung bảo hộ
Người sở hữu một kiểu dáng công nghiệp đã đăng ký bảo hộ được độc quyền sử
dụng kiểu dáng công nghiệp đó và có quyền không cho phép những tổ chức, cá
nhân khác được sản xuất, bán hoặc nhập khẩu những sản phẩm theo kiểu dáng
hoặc là bản sao (hoặc gần như bản sao) của kiểu dáng đó mà không được sự đồng
ý của mình.
7.3 Thời hạn bảo hộ kiểu dáng công nghiệp đã đăng ký ít nhất 10 năm.
7.4 TRIPS - Quy định về chỉ dẫn địa lý
”Chỉ dẫn địa lý” là thông tin nhằm thông báo với người mua hàng rằng hàng hóa
đó có chất lượng, uy tín hoặc đặc tính khác “về cơ bản gắn với xuất xứ địa lý” của
nó.
TRIPS chỉ quy định các quốc gia thành viên phải áp dụng các biện pháp pháp lý
(quy định và thực thi quy định) nhằm ngăn ngừa việc dùng các cách thức khác
nhau để ám chỉ hoặc thể hiện rằng sản phẩm có xuất xứ từ một địa phương không
đúng với xuất xứ thực tế của nó và gây nhầm lẫn cho công chúng về xuất xứ địa lý
của hàng hóa đó.
TRIPS không đưa ra các nguyên tắc bắt buộc về đối tượng cũng như cách thức bảo
hộ tối thiểu đối với chỉ dẫn địa lý. Vậy các nước thành viên tùy ý ban hành quy định
về bảo hộ đối với chỉ dẫn địa lý miễn là đảm bảo hiệu quả bảo hộ như nói ở đoạn
trên.
Trên thực tế, việc bảo hộ các chỉ dẫn địa lý chủ yếu tập trung vào các sản phẩm
rượu, một số loại thực phẩm hoặc sản phẩm nông nghiệp.
TRIPS quy định nguyên tắc tối thiểu nào đảm bảo thi hành quyền sở hữu trí tuệ?
Khác với các Công ước về quyền sở hữu trí tuệ của WIPO, TRIPS dành một phần
trọng tâm quan trọng vào việc quy định những nguyên tắc thực thi bảo hộ quyền
luật về quyền sở hữu trí tuệ, nhằm đảm bảo quyền thực thi đối với quyền sở hữu trí
tuệ cho các quốc gia thành viên khi tham gia Hiệp định TRIPS.
Căn cứ điều kiện Thỏa ước thương mại song phương giữa chính phủ Việt Nam và
Hoa Kỳ, Hiệp định TRIPS, Quốc hội đã ban hành Bộ luật hình sự (1999), bổ sung
nhiều hành vi phạm tội đối với việc sao chép, sử dụng không phép quyền sở hữu trí
tuệ. Đối với vấn đề sở hữu trí tuệ, hầu hết các quy định của Hiệp định TRIPS đã
được thể chế hóa trong pháp luật liên quan.
Như vậy, khi Việt Nam gia nhập WTO, Hiệp định TRIPS và tham gia các công ước về
quyền sở hữu công nghiệp, đã làm phát sinh một bộ phận mới trong hệ thống pháp
luật quốc gia, đó là luật sở hữu trí tuệ.
3.2 Hệ thống luật pháp Việt Nam và quyền sở hữu trí tuệ
3.2.1 Quy định về quyền sở hữu trí tuệ giai đoạn trước giải phóng (1975)
Hiến pháp 1946 là bản hiến pháp đầu tiên của Việt Nam. Hiến pháp 1946 nhìn
nhận quyền sở hữu trí tuệ.
Vấn đề bản quyền và quyền liên quan được quy định tại Điều 10, Hiến pháp 1946,
quy định công dân Việt Nam có quyền hưởng (i) Tự do ngôn luận; (ii) Tự do báo
chí. Quyền này được tái khẳng định tại Điều 25, Hiến pháp 1959 và Điều 67, Hiến
pháp 1980. Tuy nhiên, khái niệm đối với việc bảo vệ công trình sở hữu công nghiệp
vẫn chưa được hiến định.
Công trình sở hữu trí tuệ đã được quy định tại Điều 60, Hiến pháp 1992
3.2.2 Quy định về quyền sở hữu trí tuệ giai đoạn trước khi gia nhập WTO (2000)
Bộ luật Dân sự năm 1995 (Phần thứ 6); Nghị định số 63/CP ngày 24/10/1996 của
Chính phủ quy định chi tiết về sở hữu công nghiệp; Thông tư số 3055/TT-SHCN
ngày 31/12/1996 của Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường hướng dẫn thi hành
các quy nđịnh về thủ tục xác lập quyền sở hữu công nghiệp và một số thủ tục khác
trong Nghị định số 63/CP; Nghị định số 76/CP ngày 29/11/1996 của Chính phủ
hướng dẫn thi hành một số quy định về quyền tác giả trong Bộ luật Dân sự; Thông
tư số 23-TC/TCT ngày 9/5/1997 của Bộ Tài chính về phí và lệ phí sở hữu công
nghiệp; và Thông tư số 166/1998/TT-TC ngày 19/12/1998 của Bộ Tài chính về phí
và lệ phí đăng ký quyền tác giả
nghiệp; và việc chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp.
3.3.3 Các cơ quan chịu trách nhiệm xây dựng và thi hành chính sách
3. 3 Bình luận trips và quy định pháp luật Việt Nam liên quan
Nhìn chung, các quy định của pháp luật Việt Nam khá đầy đủ và phù hợp với
tinh thần chung của Hiệp định TRIPS, bao gồm:
Thứ nhất, các tiêu chuẩn về nội dung bảo hộ, bao gồm cả thủ tục xác lập và
duy trì quyền SHTT, Pháp luật Việt Nam đã đặt ra thời hạn bảo hộ phù hợp với
quy định của Hiệp định TRIPS, bao gồm: Bản quyền và các quyền liên quan (phim:
50 năm, ảnh: 25 năm, các loại khác: 50 năm hoặc suốt đời tác giả cộng thêm 50 năm,
những người trình diễn và sản xuất đĩa ca nhạc: 50 năm – Điều 14.5 TRIPS, phát
thanh: 20 năm kể từ năm cuối năm phát thanh - Điều 14.5 TRIPS). Nhãn hiệu, bao
gồm cả nhãn hiệu dịch vụ (7 năm cho mỗi lần đăng ký hoặc đăng ký lại – Điều 18
TRIPS). Chỉ dẫn địa lý, bao gồm cả tên gọi xuất xứ hàng hóa (không cho phép đăng
ký những nhãn hiệu thương mại gây hiểu nhầm về nguồn gốc địa lý của hàng hóa –
Điều 22 và 23 TRIPS). Kiểu dánh công nghiệp (ít nhất là 10 năm – Điều 26.3 TRIPS).
Sáng chế (20 năm từ ngày nộp đơn xin cấp bằng – Điều 33 TRIPS). Bảo vệ giống cây
trồng, thiết kế bố trí mạch tích hợp (10 năm kể từ ngày đăng ký hoặc sử dụng – Điều
38.2 và 38.3 TRIPS). Các yêu cầu đối với thông tin mật, bao gồm bí mật thương mại
và dữ liệu thử nghiệm được bảo hộ chống lại việc tiết lộ không được phép và việc sử
dụng không công bằng vì mục đích thương mại – Điều 39 TRIPS.
Tuy nhiên, trong quá trình soạn thảo Luật SHTT, việc đòi hỏi phải đáp ứng các
yêu cầu của TRIPS đặt ra hai mối lo ngại: (i) bảo hộ quyền SHTT trước tiên mang lại
lợi ích cho các nước phát triển, còn các nước nghèo chậm phát triển thì ít nhiều bị
thiệt hại, (ii) nhiều tiêu chuẩn đặt ra trong Hiệp định quá cao, có phần khắt khe so với
khả năng của các nước chậm phát triển trong đó có Việt Nam. Để xóa bỏ những mối
lo ngại đó, Luật SHTT đã đề ra các nguyên tắc có tính tự vệ nhằm bảo vệ quốc phòng,
an ninh, phòng bệnh chữa bệnh, đáp ứng các nhu cầu cấp thiết của xã hội và hoạt động
mang tính phi thương mại vì mục đích cộng đòng như: hạn chế và chống lạm dụng
quyền SHTT (Điều 7), quyền nhân danh Nhà nước sử dụng sáng chế (Điều 133), điều
kiện bắt buộc chuyển giao quyền sử dụng đối với sáng chế (Điều 136)… Những quy
Các biện pháp chế tài áp dụng: các biện pháp dân sự mà Tòa án có thể áp dụng
để xử lý các tổ chức cá nhân có hành vi xâm phạm gồm: buộc chấm dứt hành vi xâm
phạm, buộc xin lỗi, buộc cải chính công khai, buộc thực hiện nghĩa vụ dân sự… (Điều
202 Luật SHTT). Có thể nhận thấy, các quy định của pháp luật Việt Nam đã tương
thích với Hiệp định TRIPS về cơ bản đáp ứng yêu cầu của Hiệp định.
Vấn đề bồi thường thiệt hại: Hiệp định TRIPS quy định người xâm phạm phải
chịu các phí tổn do vụ kiện bao gồm các chi phí tham gia cho vụ kiện cũng như các
chi phí hợp lý để thuê người đại diên (Điều 45 Hiệp định TRIPS). Trong khi đó
BLTTDS quy định Tòa án quyết định án phí dựa trên tỷ lệ phần yêu cầu mà họ không
được Tòa án chấp nhận (Điều 131 BLTTDS) và các bên có quyền kháng cáo quyết
định sơ thẩm lên Tòa án cấp cao hơn (ĐIều 243 BLTTDS). Hiệp định TRIPS còn cho
phép cơ quan xét xử có quyền xử lý ngoài kênh thương mại những hàng hóa bị coi là
xâm phạm, các vật liệu và phương tiện phục vụ cho việc sản xuất hàng hóa đó, kể cả
việc tiêu hủy, tịch thu mà không phải bồi thường dưới bất kỳ hình thức nào nhằm
giảm thiểu các hành vi tiếp diễn. Pháp luật Việt Nam chưa có quy định nào về vấn đề
này.
Áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời: các quy định của pháp luật Việt Nam
tương đối tương thích với quy định tại Điều 50 của Hiệp định TRIPS. Bao gồm các
biện pháp: thu giữ, kê biên hoặc niêm phong (Điều 207 Luật SHTT). Các biện pháp
tạm thời có thể bị đình chỉ nếu các cơ quan có thẩm quyền áp dụng xét thấy không còn
cần thiết (Điều 209 Luật SHTT).
Thực thi theo thủ tục hành chính: Theo TRIPS, việc áp dụng các thủ tục hành
chính phải tuân theo pháp luật từng quốc gia và phải phù hợp với các quy định nêu tại
mục 2 của Hiệp định mà các biện pháp hành chính còn được quy định cụ thể trong
pháp luật có liên quan. Đặc biệt, Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật SHTT đã
điều chỉnh chức nawg của cơ quan thực thi nhằm tránh thủ tục phiên fhaf và chồng
chéo và cơ quan điều phối đã được thành lập. Như vậy, các quy định của Pháp luật
VN về thực thi quyền SHTT theo thủ tục hành chính đã đáp ứng yêu cầu của TRIPS
Về hình sự: Luật SHTT quy định cá nhân thực hiện hành vi xâm phạm quyền
SHTT có yêu tố cầu thành tội phạm thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 171
đã khẳng định rằng tác phẩm văn học nghệ thuật dân gian được Nhà nước bảo hộ theo
quy định riêng. Nhưng trong Luật SHTT 2005, điều 23 khoản 2 chỉ quy định "tổ chức,
cá nhân nào sử dụng tác phẩm văn học nghệ thuật dân gian phải dẫn chiếu xuất xứ
của loại hình tác phẩm đó và đảm bảo giữ gìn giá trị đích thực của tác phẩm văn học,
nghệ thuật dân gian". Như vậy, tất cả mọi người, kể cả người nước ngoài, đều có thể
sử dụng các tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian của nước ta mà không phải chịu một
nghĩa vụ nào về kinh tế đối với các cộng đồng đã có công sáng tạo, bảo tồn và phát
triển các tác phẩm ấy. Trong khi đó, Công ước Bern không đặt ra vấn đề bảo hộ và cũng
không cấm bảo hộ các tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian khuyết danh sau 50 năm
kể từ khi các tác phẩm đó được công bố. Bởi vậy, trong bình diện quốc gia, các nước
có thể đặt ra quy định bảo hộ cho các tác phẩm văn học nghệ thuật dân gian của nước
mình. Song, với các quy định được đưa ra trong Luật SHTT 2005, vô hình chung Việt
Nam đã tạo điều kiện cho nước khác hưởng lợi trong khi làm tổn hại đến lợi ích kinh
tế của cộng đồng đã có công đối với các tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian. Điều
này có lẽ đã không xảy ra nếu các chuyên gia và nhà làm luật nước ta nghiên cứu kỹ
hơn về Công ước Bern. Chúng tôi kiến nghị trong thời gian tới, cần có sự sửa đổi và
bổ sung một số điều của Luật SHTT 2005 liên quan đến lĩnh vực này theo hướng phải
bảo hộ các tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian
Thực thi việc bảo hộ đảm bảo khả năng tiếp cận dược phẩm: Với các nước đang phát
triển không có đủ khả năng sản xuất trong nước và đặc biệt trong lĩnh vực dược phẩm,
vì gặp khó khăn khi thực thi hiệu quả các điều khoản liên quan đến cấp phép li-xăng
bắt buộc khi các điều khoản này yêu cầu việc chuyển giao quyền sử dụng phải phục
vụ chủ yếu cho thị trường nội địa. Quyết định Doha về miễn trừ đối với các thuốc
thiết yếu, tức là Quyết định về Thực thi Đoạn 6 Tuyên bố Doha về Hiệp định TRIPS
và sức khỏe cộng đồng 8/2013 tạo cơ sở cho việc đưa nội dung của Miễn trừ vào Hiệp
định TRIPS, do đó tạo ra một cơ chế luật riêng (lex specialis) bền vững đối với vấn đề
tiếp cận các loại thuốc thiết yếu trong Hệ thống bảo hộ SHTT của TRIPS. Tuy nhiên,
sửa đổi này chỉ áp dụng với việc miễn trừ điều kiện sản xuất chủ yếu cho tiêu thụ nội
địa đối với các sản phẩm có bằng sáng chế được cấp phép li-xăng bắt buộc và sửa đổi
này được thực hiện với góc độ chính sách hẹp, tức là chỉ xem xét những quốc gia