Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
Mục lục
Bảng 4.5: Kết quả kinh doanh trong 2 năm 2005 và 2006..................................................................37
Mức tăng trưởng..................................................................................................................................44
Bảng II.2.6: Nợ quá hạn của Doanh nghiệp vừa và nhỏ.....................................................................46
Tổng dư nợ----------------------------------------------------------------------------------46
Chỉ tiêu................................................................................................................................................47
Kết luận-----------------------------------------------------------------------------------------64
Tài liệu tham khảo----------------------------------------------------------------------------65
NguyÔn V¨n Anh Ng©n hµng 45A
1
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
Lời Mở Đầu
Năm 2006 vừa qua, được đánh dấu bởi sự kiện có tầm quan trọng hết sức
to lớn đối với công cuộc phát triển kinh tế- xã hội của đất nước ta. Việt Nam
chính thức gia nhập Tổ chức thương mại quốc tế (WTO), đưa nước ta chính
thức bước vào sân chơi mới với nhiều thuận lợi nhưng cũng không ít khó
khăn đang chợ đợi trước mắt chúng ta.
Một trong những khó khăn, trở ngại lớn nhất của nền kinh tế còn non trẻ,
đang trong quá trình khắc phục những hậu quả của những năm dài chiến tranh
và từng bước phát triển đó là sự cạnh tranh gay gắt của các công ty nước
ngoài, các công ty đa quốc gia. Các chủ thể kinh tế, trong đó có các Ngân
hàng thương mại cuả chúng ta nếu không có tiềm lực, khả năng cạnh tranh thì
có thể sẽ bị đánh bật khỏi sân chơi này.
Vì vậy vấn đề lớn nhất hiện nay đối với nền kinh tế là phải nâng cao chất
lượng hoạt động cảu các chủ thể nền kinh tế. Đối với Ngân hàng thương mại,
để nâng cao chất lượng hoạt động của Ngân hàng thì điều quan trọng là phải
nâng cao chất lượng tín dụng của Ngân hàng, bởi tín dụng là hoạt động mang
lại nhiều lợi nhuận nhưng cũng là hoạt động chứa đựng nhiều rủi ro nhất cho
Ngân hàng.
vừa và nhỏ của Ngân hàng thương mại:
I. Khái quát về Doanh nghiệp vừa và nhỏ:
1. Khái niệm Doanh nghiệp vừa và nhỏ:
Có thể nói rằng việc xác định thế nào là Doanh nghiệp vừa và nhỏ ở mỗi
quốc gia là có những sự khác nhau nhất định. Bởi lẽ các mỗi quốc gia có
những điều kiện kinh tế xã hội khác nhau và có những nét đặc trưng riêng
biệt.Mỗi doanh nghiệp được xem là Doanh nghiệp vừa và nhỏ chỉ có ý nghĩa
trong phạm vi mỗi nước và trong thời gian nhất định .Mặc dù có những nét
khác biệt nhất định giữa các nước về quy định các tiêu thức phân loại Doanh
nghiệp vừa và nhỏ song khái niệm chung nhất về Doanh nghiệp vừa và nhỏ
như sau: Doanh nghiệp vừa và nhỏ là những cơ sở sản xuất kinh doanh có tư
cách pháp nhân,kinh doanh vì mục đích lợi nhuận,có quy mô doanh nghiệp
trong những giới hạn nhất định,tính theo các tiêu thức vốn , lao động , doanh
thu,giá trị gia tăng trong từng thời kỳ theo quy định của mỗi quốc gia.
Các quốc gia trên thế giới, nói chung thường dùng các tiêu thức về: Số
lao động thường xuyên, vốn sản xuất, doanh thu, lợi nhuận, giá trị gia tăng
nhưng trong số các tiêu thức trên thì hai tiêu thức được sử dụng nhiều nhất là
quy mô vốn và lao động .
Chúng ta có thể tham khảo cách xác định Doanh nghiệp vừa và nhỏ của
một số nước và khu vực trên thế giới:
Ở Nhật Bản, một trong số các quốc gia có nền kinh tế phát triển hàng
đầu trên thế giới thì họ đã phân loại Doanh nghiệp vừa và nhỏ theo các ngành
nghề cụ thể, xếp theo vốn pháp định và số lượng lao động :
NguyÔn V¨n Anh Ng©n hµng 45A
4
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
Bảng 1.1: Cách phân loại DNV&N của Nhật Bản
Ngành Số lao động (người) Vốn (triệu Yên)
Công nghiệp <300 <100
Thương nghiệp <100 <300
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
Ở Việt Nam , theo Nghị định 90/NĐ-CP quy định tiêu chí để xác định
DNV&N là :
Doanh nghiệp vừa và nhỏ là những cơ sở sản xuất kinh doanh độc lập,
có tư cách pháp nhân, không phân biệt thành phần kinh tế, có vốn đăng ký
không vượt quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động trung bình hàng năm không
quá 300 người.
Với tiêu chí trên thì tính trên cả nước ta hiện nay có gần 200.000 các
Doanh nghiệp vừa và nhỏ, chiếm tới 96% tổng số Doanh nghiệp trong cả
nước.
2. Đặc điểm của Doanh nghiệp vừa và nhỏ:
2.1. Ưu điểm:
Doanh nghiệp vừa và nhỏ với quy mô nhỏ bé hơn so với các Doanh
nghiệp lớn cho nên việc đầu tư tìm mặt bằng để sản xuất, đội ngũ lao động,...
của các Doanh nghiệp này thuận lợi và dễ dàng hơn nhiều so với các Doanh
nghiệp lớn.Doanh nghiệp vừa và nhỏ có thể thành lập nhanh chóng để đáp
ứng các nhu cầu phát sinh tức thời của thị trường.Đồng thời khi thì trường có
những biến động xấu ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh hoặc một lý do
nào đó làm cho Doanh nghiệp làm ăn thua lỗ thì Doanh nghiệp vừa và nhỏ
cũng có thể chuyển sang lĩnh vực kinh doanh khác phù hợp vói doanh nghiệp
mình một cách dễ dàng.Khả năng thích ứng nhanh là một ưu điểm nổi bật của
Doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Doanh nghiệp vừa và nhỏ chỉ sử dụng lượng vốn đầu tư ban đầu không
nhiều với chi phí dành cho mặt bằng sản xuất, chi phí nhân công rẻ họ có thể
tạo ra những sản phẩm có giá rẻ,có chất lượng phục vụ các nhu cầu nhỏ lẻ của
khách hàng.Bên cạnh đó mối quan hệ giữa nhà quản lý và người lao động ở
các Doanh nghiệp vừa và nhỏ là tương đối chặt chẽ đảm bảo tính thống nhất,
hiệu quả trong hoạt động sản xuất và kinh doanh.
2.2. Nhược điểm:
NguyÔn V¨n Anh Ng©n hµng 45A
NguyÔn V¨n Anh Ng©n hµng 45A
7
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
dù các Doanh nghiệp này là khá năng động, linh hoạt nhưng do hạn chế về
nguồn tài chính nên khi không có những biến động lớn của thị trường thì
không ít các Doanh nghiệp vừa và nhỏ trụ vững được, xấu hơn là bị phá sản.
3. Vai trò của các Doanh nghiệp vừa và nhỏ:
Doanh nghiệp vừa và nhỏ có vai trò và vị trí hết sức quan trọng trong sự
phát triển của mỗi nước, kể các những nước có trình độ phát triển cao.Ngày
nay các quốc gia đã không ngừng chú ý, hỗ trợ nhằm phát huy tối đa vai trò
của các Doanh nghiệp vừa và nhỏ.
3.1. Đối với nền kinh tế:
Doanh nghiệp vừa và nhỏ tạo ra nhiều việc làm và thu nhập cho
người lao động:
Do sự phân bố rộng khắp và khá đa dạng trong ngành nghề kinh doanh,
hơn nữa các Doanh nghiệp này không đòi hỏi trình độ quá cao, Doanh nghiệp
vừa và nhỏ đã và đang thu hút được rất nhiều lao động ở thành thị và nông
thôn từ đó góp phần nâng cao thu nhập cho người lao động, cải thiện đời sống
nhân dân, đồng thời hạn chế các tệ nạn xã hội từ nguyên nhân thất nghiệp.
Góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế địa phương,khai thác tiềm
năng , thế mạnh của từng vùng, thúc đẩy chuyển dịch kinh tế đất nước:
Do quy mô nhỏ bé nên các Doanh nghiệp vừa và nhỏ có thể hoạt động ở
khắp nơi trên lãnh thổ, ở cả những nơi chưa có cơ sở hạ tầng phát triển như:
vùng núi cao, hải đảo xa xôi, ở vùng nông thôn rộng lớn…Doanh nghiệp vừa
và nhỏ len lỏi vào từng ngõ ngách của thôn xóm, khơi dậy và phát huy thế
mạnh tiềm ẩn của từng địa phương nhằm phát triển kinh tế của từng vùng,
đóng góp chung và sự phát triển đất nước.Theo thống kê của Bộ kế hoạch và
đầu tư thì mỗi năm các Doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam tạo ra khoảng
25-26% GDP của cả nước, 31% tổng giá trị sản lượng công nghiệp.
Sự phát triển của các doanh nghiệp này ở các vùng nông thôn tạo điều
xuất được ở những Doanh nghiệp lớn, kỹ thuật hiện đại mà chỉ có thể sản xuất
bằng lao động thủ công phân tán đến từng cơ sở sản xuất nhỏ và hộ gia đình.
NguyÔn V¨n Anh Ng©n hµng 45A
9
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
Doanh nghiệp vừa và nhỏ hỗ trợ các Doanh nghiệp lớn phát triển:
Thông qua việc cung cấp nguyên liệu đầu vào cho các Doanh nghiệp lớn
đồng thời là nơi tiêu thụ sản phẩm cho các Doanh nghiệp lớn, Doanh nghiệp
vừa và nhỏ đóng vai trò là người bán và người mua quan trọng của các Doanh
nghiệp lớn. Giúp cho Doanh nghiệp lớn hoạt động một cách hiệu quả hơn.Các
Doanh nghiệp vừa và nhỏ đã giúp cho các Doanh nghiệp lớn giảm được
những chi phí do biến động của thị trường gây ra cho cả cung và cầu, giảm
chi phí sửa chữa bảo hành, chi phí vận chuyển và bảo quản hàng hóa cho các
Doanh nghiệp lớn.
Doanh nghiệp vừa và nhỏ tạo ra sự năng động và hiệu quả cho nền
kinh tế thị trường:
Với ưu thế là tính linh hoạt và lượng vốn yêu cầu tương đối nhỏ, Doanh
nghiệp vừa và nhỏ có khả năng nhanh chóng trong việc chuyển đổi mặt hàng,
chuyển hướng sản xuất… phù hợp với biến động của thị trường.Chúng luôn
tìm kiếm những lĩnh vực kinh doanh ít vốn, có lợi nhuận cao, có thể quay
vòng vốn nhanh.Sự tham gia vào thị trường của số lượng lớn các Doanh
nghiệp vừa và nhỏ đã tạo ra nhiều sản phẩm phong phú và đa dạng, làm tăng
tính cạnh tranh của nền kinh tế thị trường.
Chính điều này mà các Doanh nghiệp vừa và nhỏ đã làm cho nền kinh tế
trở nên năng động hơn, đồng thời làm thúc đẩy sản xuất kinh doanh có hiệu
quả hơn.
3.2. Đối với Ngân hàng:
Các Ngân hàng thương mại là một đối tượng hoạt động kinh doanh trên
lĩnh vực tiền tệ, lợi nhuận chủ yếu mà các Ngân hàng có được là từ việc cho
vay.Doanh nghiệp vừa và nhỏ là loại hình doanh nghiệp chiếm số lượng đông
ngân hàng.Chúng được cụ thể hóa trong các quy định của Ngân hàng Nhà
nước và các Ngân hàng thương mại:
Nguyên tắc thứ nhất: khách hàng phải cam kết trả đủ gốc và lãi trong
thời gian xác định.Các khoản tín dụng của Ngân hàng chủ yếu có nguồn gốc
NguyÔn V¨n Anh Ng©n hµng 45A
11
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
từ các khoản tiền gửi của khách hàng và các khỏan Ngân hàng vay mượn từ
các tỏ chức khác.Ngân hàng cũng có trách nhiệm phải hoàn trả cả gốc và lãi
như đã cam kết.Vì vậy Ngân hàng luôn yêu cầu người vay phải thực hiện
đúng cam kết này.Đây là điều kiện quan trọng để Ngân hàng tồn tại và phát
triển.
Nguyên tắc thứ hai: Khách hàng phải cam kết sử dụng tín dụng đúng
mục đích theo thỏa thuận với Ngân hàng, hkông trái với các quy định của
pháp luật và các quy định của của Ngân hàng cấp trên.Mục đích ghi trong hợp
đồng tín dụng đảmbảo khách hàng không tài trợ các hoạt động trái pháp luật
và việc tài trợ đó là phù hợp với cương lĩnh của Ngân hàng.
Nguyên tắc thứ ba: Khách hàng phải có phương án trả nợ có hiệu
quả.phương án hoạt động có hiệu quả của khách hàng là minh chứng cho khả
năng thu hồi vốn và thu được lãi từ hoạt động cho vay của Ngân hàng.Điều
này có thể làm tốt khi có sự đóng góp ý kiến tích cực, bổ ích của Ngân hàng.
3. Phân loại Tín dụng Ngân hàng:
Để mở rộng tín dụng có hiệu quả, các Ngân hàng, bên cạnh việc xây
dựng và thực hiện chính sách Tín dụng đúng đắn , phải không ngừng đa dạng
hóa các hình thức tín dụng phù hợp với nhu cầu và thị hiếu của khách hàng.
Hiện nay có rất nhiều hính thức tín dụng được các Ngân hàng thương
mại đưa ra.Để sử dụng và quản lý có hiệu quả tín dụng cân có sự phân loai
tín dụng.Phân loại tín dụng là sự sắp xếp tín dụng theo một số tiêu chí nhất
định.
Có các tiêu thức để phân loại tín dụng sau:
cấp theo đối tượng khách hàng.Số lượng Doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm tỷ
lệ đông đảo trong đối tượng khách hàng là những đơn vị sản xuất kinh doanh
của Ngân hàng.Nếu khai thác hết và có hiệu quả tín dụng đối với Doanh
nghiệp vừa và nhỏ sẽ tạo cho Ngân hàng nguồn lợi nhận lớn và góp phần
phân tán rủi ro cho khách hàng.
Có các phương thức tín dụng đối với Doanh nghiệp vừa và nhỏ mà các
NguyÔn V¨n Anh Ng©n hµng 45A
13
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
Ngân hàng thường áp dụng sau:
Cho vay thấu chi: đây là nghiệp vụ mà qua đó Ngân hàng cho phép
Doanh nghiệp chi trội quá số dư tiền tiền gửi thanh toán của mình đến giới
hạn nhất định và trong khoảng thời gian nhất định.Giới hạn đó được gọi là
hạn mức thấu chi.Để được thấu chi thì khách hàng làm đơn xin hạn mức thấu
chi và thời gian thấu chi.Các khoản chi qua hạn mức thấu chi sẽ phải chịu lãi
phạt và bị đình chỉ sử dụng hình thức này. Thấu chi là hình thức tín dụng
ngắn hạn, linh hoạt, thủ tục đơn giản và phần lớn là không có tài sản đảm
bảo.Nó giúp Doanh nghiệp chủ động, nhanh, kịp thời trong quá trình thanh
toán.Phương pháp này chỉ áp dụng đối với Doanh nghiệp có độ tin cậy cao,
thu nhập đều đặn và kỳ thu nhập ngắn.
Cho vay trực tiếp từng lần: Đây là hình thức cho vay đối với các
Doanh nghiệp không có nhu cầu cho vay thường xuyên, không có điều kiện
được cấp hạn mức thấu chi.Chỉ khi Doanh nghiệp có nhu cầu tức thời như
thời vụ hay mở rộng sản xuất thì mới vay Ngân hàng.Mỗi lần vay khách hàng
phải làm đơn và trình Ngân hàng phương án vay.Nếu Ngân hàng đồng ý sẽ ký
hợp đồng cho vay.Trong quá trình khách hàng sử dụng vốn vay, Ngân hàng sẽ
kiểm soát mục đích và hiệu quả sử dụng vốn vay của Doanh nghiệp.Nếu thấy
có dấu hiệu vi phạm hợp đồng Ngân hàng sẽ thu nợ trước hạn hoặc chuyển nợ
quá hạn.
Cho vay theo hạn mức: Đây là hình thức cho vay mà Ngân hàng cấp
nghiệp mình mà mỗi Doanh nghiệp vừa và nhỏ có thể tìm cho mình một hình
thức vay vốn phù hợp, tạo điều kiện để phát triển Doanh nghiệp.
5.Vai trò của Tín dụng Ngân hàng:
Trong nền kinh tế xảy ra tình trạng các chủ thể kinh tế này có nguồn vốn
nhàn rỗi, không tiến hành đầu tư, các chủ thể kinh tế khác lại thiếu vốn để đầu
tư. Nếu giữa họ không có một mối liên hệ với nhau nào thì việc tiếp cận với
nguồn vốn dư thừa trên của những chủ thể thiếu vốn là rất khó khăn.Nếu để
tình trạng này kéo dài thì hoạt động sản xuất kinh doanh sẽ bị ngừng trệ, kinh
NguyÔn V¨n Anh Ng©n hµng 45A
15
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
tế chậm phát triển.Tín dụng Ngân hàng góp phần giải quyết những khó khăn
đó.Ngân hàng là trung gian tài chính thực hiện huy động vốn từ nguồn tiền
gửi của các tổ chức kinh tế, xã hội, tiền tiết kiệm của dân cư, ngân hàng tiến
hành cho vay đối với các Doanh nghiệp,các hộ sản xuất,các cá nhân… cần
vốn.Tín dụng Ngân hàng đã làm cầu nối chuyển vốn từ nơi thừa đến nơi thiếu,
điều hòa vốn trong nên kinh tế. Tạo điều kiện cho sự luân chuyển vốn được
diễn ra liên tục, từ đó giúp nền kinh tế có được “nhịp đập” mạnh mẽ, thúc đẩy
phát triển kinh tế.
Đồng thời tín dụng Ngân hàng có thể kiểm soát được hoạt động kinh tế.
Thật vậy, thông qua việc huy động vốn nhàn rỗi của các cá nhân, doanh
nghiệp và các tổ chức khác để cho vay và thông qua quá trình thanh toán
Ngân hàng có thể đánh giá tình hình tiêu thụ, tình hình sản xuất cũng như khả
năng chi trả của khách hàng thông qua biến động số dư trên tài khoản. Đồng
thời trong quá trình cho vay, Ngân hàng luôn phải theo dõi giám sát việc sử
dụng vốn vào quá trình sản xuất kinh doanh của khách hàng, thường xuyên
giám sát khả năng tài chính của khách hàng, những biến động kinh tế…Từ đó
tín dụng Ngân hàng kiểm soát hoạt động kinh tế.
Đối với Doanh nghiệp vừa và nhỏ, là một bộ phận doanh nghiệp chiếm tỷ
trọng lớn trong tổng số Doanh nghiệp của nền kinh tế( trên 90%). Vai trò cảu
dụng vốn đúng mục đích và phải hoàn trả gốc và lãi đúng hạn. Nếu không trả
được nợ như đã cam kết trong hợp đồng thì Doanh nghiệp sẽ phải chịu lãi
phạt hoặc các biện pháp xử lý khác.
Vì thế nếu không muốn điều đó xảy ra các Doanh nghiệp vừa và nhỏ
phải sử dụng vốn một cách có hiệu quả.
III) Chất lượng Tín dụng Ngân hàng đối với Doanh nghiệp vừa và
nhỏ:
1.Khái niệm chất lượng Tín dụng:
NguyÔn V¨n Anh Ng©n hµng 45A
17
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
Đối với một Ngân hàng thì hoạt động tín dụng mang lại nhiều lợi nhuận
nhất nhưng đồng thời nó cũng mang lại nhiều rủi ro nhất cho Ngân
hàng,Chính vì lý do đó mà mỗi Ngân hàng luôn phải chú trọng đến chất lượng
tín dụng. Nhưng nếu Chất lượng tín dụng chỉ được Ngân hàng xem xét như là
sự thu hồi vốn gốc và lãi đúng hạn thì sẽ không phản ánh đầy đủ được ý nghĩa
của khái niệm chất lượng tín dụng.
Chất lượng tín dụng Ngân hàng là một chỉ tiêu tổng hợp. Nó phải được
đánh giá trên cả ba góc độ đó là: Ngân hàng, khách hàng và nền kinh tế.
Chất lượng tín dụng xét trên giác độ ngân hàng: Chất lượng tín dụng thể
hiện ở phạm vi, mức độ, khả năng thỏa mãn nhu cầu khách hàng trên cơ sở
phù hợp với thực lực của ngân hàng và phải đảm bảo nguyên tắc hoàn thu gốc
và lãi đúng hạn.
Chất lượng tín dụng xét trên giác độ khách hàng, cụ thể là với DNV&N:
Chất lượng tín dụng là sự thoả mãn yêu cầu hợp lý, kịp thời nhu cầu các
khoản vay với lãi suất, kỳ hạn hợp lý, thủ tục đơn giản, không phiền hà dảm
bảo thu hút khách hàng nhưng vẫn tuân thủ đúng quy trình của hoạt động tín
dụng, đảm bảo sự tồn tại của Ngân hàng và góp phần để doanh nghiệp phát
phát triển.
Chất lượng tín dụng xét trên giác độ kinh tế: Khoản cho vay có chất
nhất nên việc áp dụng các nguyên tắc tín dụng là rất quan trọng.
Thứ ba đó là khả năng đáp ứng nhu cầu của khách hàng một cách kịp
thời và thuận tiện trên cơ sở đảm bảo sự tồn tại và phát triển Ngân hàng của
một khoản vay. Bên cạnh đó là khả năng khoản vay đó đóng góp vào sự phát
triển nền kinh tế đất nước như: chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tăng sản phẩm cho
xã hội, xoa đói giảm nghèo, tăng số hộ giàu, nâng cao chất lượng cuộc sống
của nhân dân, đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước.
*Nhóm các chỉ tiêu định lượng:
a.Chỉ tiêu về doanh số cho vay:
Doanh số cho vay phản ánh quy mô hoạt động tín dụng của NHTM.Nó
NguyÔn V¨n Anh Ng©n hµng 45A
19
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
được tính bằng cách cộng dồn tất cả các khoản cho vay của Ngân hàng trong
một niên độ kế toán.Nếu một Ngân hàng có doanh số cho vay càng lớn cho
thấy mối quan hệ tín dụng giữa khách hàng và ngân hàng càng nhiều. Doanh
số cho vay cũng thể hiện khả năng đáp ứng nhu cầu vay vốn của Ngân hàng.
Chỉ khi doanh số cho vay lớn thì khả năng đáp ứng nhu cầu vốn cho khách
hàng là cao, đồng thời giúp cho ngân hàng có khả năng tạo ra lợi nhuận lớn từ
hoạt động tín dụng. Nhưng không phải khi chỉ tiêu này lớn thì chất lượng tín
dụng cũng tốt mà còn phụ thuộc vào các rủi ro khác mà hoạt động tín dụng
gặp phải.
b.Chỉ tiêu doanh số thu nợ :
Doanh số thu nợ là chỉ tiêu phản ánh thu hồi vốn mà Ngân hàng đã cho
vay. Nó được tính bằng cách cộng dồn các khoản thu nợ trong một niên độ kế
toán. Doanh số thu nợ của Ngân hàng phụ thuộc vào nhiều yếu tố đến từ phía
khách hàng, Ngân hàng và nhiều yếu tố khách quan khác. Doanh số cho vay
lớn cần phải kèm theo với doanh số thu nợ cao. Nếu doanh số cho vay cao mà
doanh số thu nợ thấp chứng tỏ khả năng thu hồi vốn và lãi là thấp, nợ quá hạn
cao thì có nghĩa chất lượng tín dụng là không tốt.
pháp xử lý kịp thời.
-Tỷ lệ nợ quá hạn:
Là tỷ lệ phần trăm giữa nợ quá hạn( là những khoản nợ mà khách hàng
chưa trả được cho Ngân hàng cả gốc và lãi, hoặc gốc hoặc lãi khi đáo hạn)
trên tổng dư nợ của NHTM tại một thời điểm nhất định:
Tỷ lệ nợ quá hạn = Nợ quá hạn/Tổng dư nợ
Tỷ lệ nợ quá hạn cao phản ánh nguy cơ mất vốn của ngân hàng cao và
kèm theo đó là thu nhập của ngân hàng cũng giảm, thậm chí có thể dẫn đến
nguy cơ mất khả năng thanh toán hay tệ hơn là phá sản. Mọi Ngân hàng phải
đảm bảo cho mình một tỷ lệ nợ quá hạn tối thiểu phù hợp với quy mô của
Ngân hàng và quy định của Ngân hàng Nhà nước. Khi một ngân hàng có tỷ lệ
nợ quá hạn cao sẽ được đánh giá là có chất lượng tín dụng thấp.Ngân hàng có
NguyÔn V¨n Anh Ng©n hµng 45A
21
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
chất lượng tín dụng cao khi duy trì tổng dư nợ tăng trưởng cao và nợ quá hạn
có xu hướng giảm thấp.
-Tỷ lệ nợ khó đòi:
Được tính bằng tỷ lệ phần trăm giữa nợ khó đòi ( là những khỏan nợ quá
hạn mà Ngân hàng khó có khả năng thu hồi, có thể mất vốn) trên tổng dư nợ (
hay nợ quá hạn):
Tỷ lệ nợ khó đòi = Nợ khó đòi/Tổng dư nợ
Chỉ tiêu này phản ánh số phần trăm bị mất không trong tổng dư nợ hay
trong nợ quá hạn. Tỷ lệ nợ khó đòi cao chứng tỏ chất lượng tín dụng của
Ngân hàng là thấp. Các ngân hàng luôn cố gắng bằng nhiều biện pháp để tối
thiểu hóa tỷ lệ này.
Có thể nói chất lượng tín dụng là tiêu chí quan trọng trong quá trình đánh
giá tình hình hoạt động tín dụng của ngân hàng. Mặt khác tín dụng là hoạt
động mang lại nhiều lơi nhuận nhất cho Ngân hàng nhưng cũng đồng thời là
hoạt động chứa đựng nhiều rủi ro nhất. Vì vậy Ngân hàng luôn hướng tới mục
dụng.Tổ chức thiếu khoa học cũng gây ra sự thiếu chặt chẽ giữa các khâu,
tính ỷ lại, thiếu trách nhiệm của cán bộ tín dụng.Nếu công tác tổ chức trong
hoạt động tín dụng hợp lý thì sẽ làm giảm thời gian thẩm định tín dụng, kiểm
tra thông tin khách hàng cung cấp chính xác hơn,hạn chế sự gian lận của
khách hàng nhờ đó mà độ an toàn của món vay tăng lên.
c.Thông tin tín dụng
Thông tin tín dụng là yếu tố không thể thiếu trong công tác quản lý nói
chung và trong hoạt động tín dụng nói riêng. Trên cơ sở thông tin đã thu thập
được, nhà quản lý có thể đưa ra được quyết định đúng đắn về đầu tư tín dụng
và các biện pháp cần thiết để theo dõi và quản lý thu hồi nợ.Các thông tin đến
từ nhiều nguồn khác nhau, các Ngân hàng muốn có được thông tin nhanh,
chính xác phải có bộ phận phân tích và xử lý thông tin, loại trừ những thông
tin nhiễu. Chất lượng thồn tin càng cao thì khả năng phòng ngừa rủi ro trong
hoạt động kinh doanh của Ngân hàng càng lớn.
NguyÔn V¨n Anh Ng©n hµng 45A
23
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
d.Chất lượng của công tác thẩm định :
Thẩm định tín dụng là quá trình cán bộ tín dụng xem xét, đánh giá một
cách khách quan, toàn diện các vấn đề ảnh hưởng đến tính khả thi và khả
năng hoàn trả vốn của một dự án mà khách hàng mang đến trinh duyệt, trên
cơ sở đó phục vụ cho việc ra quyết định cho vay của Ngân hàng.Để đảm bảo
chất lượng thẩm định, cần phải có sự nhanh nhạy, tính toán một cách chính
xác, thu thập được những thông tin tốt, phải được tiến hành đầy đủ các trình
tự…Tuy nhiên nếu quy trình thẩm định mà rườm rà thì sẽ làm chậm việc ra
quyết định tín dụng, ảnh hưởng đến mục tiêu sinh lời của Ngân hàng.Thẩm
định tín dụng phải có sự phối hợp đồng bộ, chặt chẽ giữa các phong ban, có
như vậy mới giảm được thời gian thẩm định, hạn chế rủi ro.
e.Cơ chế kiểm tra, kiểm soát:
Trong hoạt đông tín dụng Ngân hang luôn chú trọng đến khâu kiểm tra
b.Năng lực quản lý của doanh nghiệp:
Người quản lý là người có vai trò cực kỳ quan trọng trong bất kỳ doanh
nghiệp nào.Muốn doanh nghiệp phát triển tốt, đòi hỏi người quản lý phải là
người có hiểu biết sâu sắc về nghề nghiệp, có khả năng tổ chức điều hành
doanh nghiệp tốt, có tầm nhìn xa trông rộng, đưa ra những bước đi thích hợp
cho doanh nghiệp mình.Khi vay vốn nhà quản lý phải biết cách sử dụng đồng
vốn đúng mục đích đem lại hiệu quả cao.Năng lực quản lý của doanh nghiệp
tốt sẽ góp nâng cao chất lượng tín dụng.
c.Triển vọng kinh doanh của doanh nghiệp.
Đề cập đến triển vọng kinh doanh của doanh nghiệp là chúng ta xét đến
khả năng phát triển của doanh nghiệp trong thời gian tới là tốt hay xấu, có
những thuận lợi và khó khăn gì trước sự biến động của các yếu tố trên thị
trường.Nếu một doanh nghiệp đang ở trong tình trạng hoạt động kinh doanh
đang bị thu hẹp dần do nhà cung cấp không ổn định, lĩnh vực sản xuất kinh
doanh không còn phù hợp hay không chống chịu được sự cạnh tranh mạnh mẽ
của các đối thủ cạnh tranh…thì không một Ngân hàng nào có ý định cấp vốn
NguyÔn V¨n Anh Ng©n hµng 45A
25