BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP – HÀ NỘI
NGUYỄN THỊ NƯƠNG
ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ YẾU TỐ ĐẾN NĂNG SUẤT SINH SẢN VÀ
SINH TRƯỞNG LỢN CON TỪ SƠ SINH ĐẾN 60 NGÀY TUỔI CỦA
LỢN PIÉTRAIN RÉHAL NUÔI TẠI XÍ NGHIỆP CHĂN NUÔI
ĐỒNG HIỆP – HẢI PHÒNG LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP
Chuyên ngành: Chăn nuôi
Mã số: 60.62.01.05
Người hướng dẫn khoa học 1: GS.TS. ĐẶNG VŨ BÌNH
2: PGS.TS. ĐINH VĂN CHỈNH
HÀ NỘI 2013
Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nông nghiệp ………………………
truyền - Giống vật nuôi, khoa Chăn nuôi và Nuôi trồng thủy sản, trường Đại học
Nông nghiệp Hà Nội đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong thời gian thực hiện đề tài
này.
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến gia đình, bạn bè và đồng
nghiệp đã luôn giúp đỡ, tạo điều kiện, động viên tôi trong suốt thời gian học tập.
Tôi xin gửi lời chúc đến các thầy cô, người thân và bạn bè lời chúc sức
khỏe, sự thành đạt trong cuộc sống!
Hà Nội, tháng 06 năm 2013
Học viên
Nguyễn Thị Nương
Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nông nghiệp ………………………
iiMỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC BẢNG vi
DANH MỤC CÁC HÌNH vii
MỞ ĐẦU 1U
3.1.1. Năng suất sinh sản của lợn nái Piétrain RéHal 25
3.1.2. Các yếu tố ảnh hưởng tới tính trạng sinh sản của lợn nái Piétrain
RéHal 26
3.1.2.1. Năng suất sinh sản của lợn nái Piétrain RéHal theo nguồn gốc 30
3.1.2.2. Năng suất sinh sản của lợn nái Piétrain RéHal theo năm 31
3.1.2.3. Năng suất sinh sản của lợn nái Piétrain RéHal theo lứa đẻ 35
3.1.2.4. Năng suất sinh sản của lợn nái Piétrain RéHal theo mùa vụ 40
3.1.2.5. Năng suất sinh sản của lợn nái Piétrain RéHal theo kiểu gen
halothane 42
3.2 . Sinh trưởng lợn con từ sơ sinh đến 60 ngày tuổi của lợn Piétrain RéHal
và các yếu tố ảnh hưởng 48
3.2.1. Khả năng sinh trưởng lợn con từ sơ sinh đến 60 ngày tuổi của lợn
Piétrain RéHal 48
3.2.2. Các yếu tố ảnh hưởng tới sinh trưởng lợn con từ sơ sinh đến 60 ngày
tuổi của lợn Piétrain RéHal 49
3.2.2.1. Khả năng sinh trưởng lợn con từ sơ sinh đến 60 ngày tuổi của lợn
Piétrain RéHal theo nguồn gốc xuất xứ 51
3.2.2.2. Khả năng sinh trưởng lợn con từ sơ sinh đến 60 ngày tuổi của lợn
Piétrain RéHal theo năm 53
3.2.2.3. Khả năng sinh trưởng từ sơ sinh đến 60 ngày tuổi của lợn Piétrain
RéHal theo lứa đẻ 55
3.2.2.4. Khả năng sinh trưởng lợn con từ sơ sinh đến 60 ngày tuổi của lợn
RéHal 27
3.3 Năng suất sinh sản của lợn nái Piétrain RéHal theo nguồn gốc
xuất xứ 31
3.4 Năng suất sinh sản của lợn nái Piétrain RéHal theo năm 34
3.5 Năng suất sinh sản của lợn Piétrain RéHal theo lứa đẻ 37
3.6 Năng suất sinh sản của lợn nái Piétrain RéHal theo mùa vụ 41
3.7 Năng suất sinh sản của lợn nái Piétrain RéHal theo kiểu gen
halothane 43
3.8 Khả năng sinh trưởng lợn con từ sơ sinh đến 60 ngày tuổi của lợn
Piétrain kháng stress 49
3.9 Các yếu tố ảnh hưởng tới sinh trưởng lợn con từ sơ sinh đến 60
ngày tuổi của lợn Piétrain RéHal 50
3.10 Khả năng sinh trưởng lợn con từ sơ sinh đến 60 ngày tuổi của lợn
Piétrain RéHal theo nguồn gốc xuất xứ 51
3.11 Khả năng sinh trưởng lợn con từ sơ sinh đến 60 ngày tuổi của lợn
Piétrain RéHal theo năm 54
3.12 Khả năng sinh trưởng lợn con từ sơ sinh đến 60 ngày tuổi của lợn
Piétrain RéHal theo lứa đẻ 56
3.13 Khả năng sinh trưởng lợn con từ sơ sinh đến 60 ngày tuổi của lợn
Piétrain RéHal theo mùa vụ 57
3.14 Khả năng sinh trưởng lợn con từ sơ sinh đến 60 ngày tuổi của lợn
RéHal giữa hai vụ Đông Xuân và Hè Thu 58
3.11 Biểu đồ so sánh khối lượng lợn con ở các giai đoạn lợn sơ sinh, lợn
cai sữa và lúc 60 ngày tuổi giữa lợn cái và lợn đực 62
Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nông nghiệp ………………………
viiMỞ ĐẦU
Tính cấp thiết của đề tài
Lợn Piétrain cổ điển của Bỉ được đặc trưng bằng thân thịt có tỷ lệ móc hàm
cao (80,80%) và tỷ lệ nạc đặc biệt cao (60,90%), tuy nhiên do tồn tại của allene
lặn T nằm ở locus halothane với tần suất cao đã làm tỷ lệ thịt PSE (Pale, Soft,
Exsudative - thịt có màu nhạt, xốp và rỉ nước ) cao và dễ bị stress. Khoa Thú y
Trường Đại học Liège đã tạo ra dòng lợn Piétrain RéHal (Piétrain kháng stress )
bằng cách lai ngược Piétrain với Large White để chuyển gen C vào bộ gen
halothane của Piétrain cổ điển. Leroy và Verleyen (1999) đã khẳng định rằng
Piétrain RéHal thể hiện được tất cả các ưu điểm của Piétrain cổ điển, nhưng đặc
tính nhạy cảm với stress đã giảm và pH sau khi giết thịt được cải thiện. Nghiên
cứu sử dụng đực Piétrain RéHal phối với nái thương phẩm trong điều kiện sản
xuất cho kết quả khả quan về tiêu tốn thức ăn (2,96kg), tăng trọng trung bình
649 kg/ngày, tỷ lệ móc hàm 82,6%, độ dày mỡ lưng 2cm, tỷ lệ nạc 59%. Điều
này chứng tỏ việc loại bỏ các allene không ảnh hưởng đến năng suất và chất
lượng thịt (Leroy và Verleyen, 2000).
Cuối năm 2007, theo Chương trình hợp tác đại học giữa Đại học Liège
Mục đích cụ thể
- Đánh giá mức độ ảnh hưởng của một số yếu tố đến một số tính trạng năng
suất sinh sản của đàn lợn nái Piétrain RéHal nuôi tại Xí nghiệp Chăn nuôi Đồng
Hiệp - Hải Phòng
- Đánh giá mức độ ảnh hưởng của một số yếu tố đến khả năng sinh trưởng
giai đoạn từ sơ sinh tới 60 ngày tuổi của đàn lợn Piétrain RéHal nuôi tại Xí
nghiệp Chăn nuôi Đồng Hiệp - Hải Phòng.
Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn
Ý nghĩa khoa học
Đánh giá được năng suất sinh sản của đàn lợn nái và khả năng sinh trưởng
giai đoạn sơ sinh tới 60 ngày tuổi của dòng lợn Piétrain RéHal trong 5 năm
nhân giống thuần chủng trong điều kiện khí hậu miền Bắc Việt Nam.
Ý nghĩa thực tiễn
Đánh giá khả năng nhân giống thuần chủng góp phần tăng nguồn gen lợn
nạc chất lượng cao cho sản xuất chăn nuôi ở nước ta. Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Đặc điểm của dòng lợn Piétrain RéHal
Piétrain là giống lợn xuất hiện vào khoảng năm 1920 và được công nhận là
một giống mới ở Bỉ năm 1956, mang tên làng Piétrain. Lợn Piétrain có màu lông
da trắng đen xen lẫn từng đám không đều. Lợn Piétrain ngắn, song có thân hình
thể hiện rất rõ khả năng cho thịt với phần mông và vai rất phát triển.
Piétrain cổ điển của Bỉ được đặc trưng bằng thân thịt có tỷ lệ móc hàm cao
(80,80%) và tỷ lệ nạc đặc biệt cao (60,90%), tuy nhiên do tồn tại của allene lặn
T nằm ở locus halothane với tần suất cao đã làm tỷ lệ thịt PSE (Pale, Soft,
Exsudative - thịt có màu nhạt, xốp và rỉ nước ) cao và dễ bị stress. Khoa Thú y
Trường Đại học Liege đã tạo ra dòng lợn Piétrain RéHal (Piétrain kháng stress)
của các thành phần cấu thành ảnh hưởng đến chỉ tiêu số lợn con cai sữa do một nái
sản xuất trong một năm lần lượt là: số con đẻ ra trong ổ, tỷ lệ chết của lợn con từ sơ
sinh đến cai sữa, thời gian bú sữa, tuổi đẻ lứa đầu và thời gian từ cai sữa đến khi
thụ thai lứa sau. Nhiều tác giả khác cũng có quan điểm tương tự (Bolet và cs, 1980,
Vandersteen (1986), De Vries (1989).
Theo Ducos (1994), các thành phần đóng góp vào chỉ tiêu số con còn sống
khi cai sữa gồm số trứng rụng, tỉ lệ lợn con sống lúc sơ sinh và tỉ lệ lợn con sống
tới lúc cai sữa là các thành phần quan trọng nhất đánh giá năng suất sinh sản của
lợn nái. Do vậy việc nâng cao chỉ tiêu số con đẻ ra sống và số con cai sữa là một
vấn đề được quan tâm hàng đầu trong chăn nuôi lợn nái sinh sản.
Mabry và cs (1997) cho rằng các tính trạng năng suất sinh sản chủ yếu của
lợn nái bao gồm: số con đẻ ra, số con cai sữa, khối lượng 21 ngày/ổ và số lứa
đẻ/nái/năm. Các tính trạng năng suất sinh sản chủ yếu này có tầm quan trọng về
mặt kinh tế và ảnh hưởng lớn đến lợi nhuận của người sản xuất lợn giống cũng
như người nuôi lợn thương phẩm.
Năng suất sinh sản của lợn nái có mối quan hệ chặt chẽ và phụ thuộc vào
Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nông nghiệp ………………………
4các yếu tố: gen halothane, di truyền và ngoại cảnh.
Yếu tố di truyền
Yếu tố gen halothane
Các kiểu gen halothane có ảnh hưởng đến năng suất sinh sản của lợn nái,
phẩm chất tinh dịch của lợn đực. Tuy nhiên, mức độ ảnh hưởng của các kiểu gen
đến năng suất sinh sản vẫn còn nhiều ý kiến trái ngược.
Lợn có phản ứng halothane âm tính có số con/ổ cao hơn so với lợn có phản
ứng halothane dương tính (Van der Steen, 1983). Kết quả nghiên cứu của Simon
và cs (1997), Stalder và cs (1997), Guimaraes và cs (1999), Jiang và cs (2000)
toàn ổ và khối lượng trung bình một lợn con là dương và chặt chẽ, nhưng giữa
số con và khối lượng trung bình một lợn con là âm và chặt chẽ (Đặng Vũ Bình,
1995).
Yếu tố di truyền phụ thuộc vào đặc tính con giống, các giống lợn khác nhau
thì có tính năng sản xuất khác nhau. Theo Erich và cs (2000) cho biết tính trạng
số lượng về khả năng sinh sản của lợn nái thường có hệ số di truyền thấp, các
chỉ tiêu như số con còn sống/ổ, số con sai sữa/ổ có hệ số di truyền (h
2
) là 0,10;
khối lượng sơ sinh/ổ, khối lượng cai sữa/ổ có h
2
là 0,20. Rydhmer và cs
(1995) hệ số di truyền (h
2
) tính trạng tuổi đẻ lứa đầu, số con đẻ ra sống/ổ và
khoảng cách lứa đẻ lần lượt là: 0,27; 0,13 và 0,08. Theo Tolle và cs (1999) cũng
cho biết hệ số di truyền của chỉ tiêu số con đẻ ra sống và số con cai sữa/ổ là
0,09-0,12 và 0,05-0,07.
Theo Legault (1985), căn cứ vào khả năng sinh sản và sức sản xuất thịt, các
giống lợn chia làm bốn nhóm chính như sau:
- Các giống đa dụng như Y, L và một số dòng nguyên chủng được xếp vào
loại có khả năng sản xuất thịt và sinh sản khá.
- Các giống chuyên dụng “dòng bố” như P, L của Bỉ, Hampshire, Poland China
có khả năng sinh sản trung bình nhưng khả năng sản xuất thịt cao.
- Các giống chuyên dụng “dòng mẹ”, đặc biệt một số giống chuyên sản của
Trung Quốc như Taihu (điển hình là Meishan) có khả năng sinh sản đặc biệt cao
Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nông nghiệp ………………………
6
* Chế độ nuôi dưỡng
Dinh dưỡng là yếu tố hết sức quan trọng để đảm bảo khả năng sinh sản của
lợn nái. Lợn nái và lợn cái hậu bị có chửa cần được cung cấp đủ về số lượng và
chất lượng các chất dinh dưỡng để có kết quả sinh sản tốt.
Zimmerman và cs (1996) cho biết các mức ăn khác nhau trong giai đoạn từ
cai sữa đến phối giống trở lại có ảnh hưởng đến tỷ lệ thụ thai. Yamada và cs
(1998) nhận thấy nuôi dưỡng hạn chế đối với lợn cái trong giai đoạn hậu bị sẽ
làm tăng tuổi động dục lần đầu, tăng tỷ lệ loại thải so với nuôi dưỡng đầy đủ.
Nuôi dưỡng tốt lợn nái trước khi động dục có thể làm tăng số lượng trứng
rụng, tăng số phôi sống (Brooks và Cooper, 1972).
Nên cho lợn nái nuôi con ăn tự do để đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng. Giảm
lượng thức ăn thu nhận khi nuôi con sẽ làm giảm khối lượng cơ thể, hậu quả là
thời gian động dục trở lại dài, giảm tỉ lệ thụ tinh và giảm số phôi sống (trích theo
Gordon, 1997, Brand và cs, 2000). Theo Chung và cs (1998), Lember (1998)
tăng lượng thức ăn thu nhận ở lợn nái tiết sữa sẽ làm tăng sản lượng sữa và tăng
khả năng tăng khối lượng của lợn con. Gordon (2004) cho biết: tăng lượng thức
ăn thu nhận cho lợn nái tiết sữa ở giai đoạn đầu và giữa chu kỳ tiết sữa sẽ có tác
dụng giảm thời gian động dục trở lại hơn là tăng lượng thức ăn thu nhận cho lợn
nái tiết sữa ở giai đoạn cuối, tăng lượng thức ăn thu nhận cho lợn nái tiết sữa ở
giai đoạn giữa và cuối chu kỳ tiết sữa sẽ có tác dụng tăng khối lượng cai sữa hơn
là tăng ở giai đoạn đầu.
Mục tiêu của nuôi dưỡng lợn nái là làm sao cho số ngày không sản xuất ít
nhất, khối lượng cơ thể tăng phù hợp trong thời kỳ có chửa và có được khối
lượng cơ thể thích hợp trong thời kỳ nuôi con. Vì vậy cần phải đưa ra khẩu phần
ăn khoa học để tăng sữa.
* Mùa vụ
Mùa vụ là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của lợn nái.
Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nông nghiệp ………………………
Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nông nghiệp ………………………
9đẻ ra tương quan thuận với số lượng trứng rụng (Warrick và cs, 1989, dẫn từ
Gordon, 1997).
Lứa đẻ là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của lợn nái vì
có sự khác nhau về chức năng theo tuổi của lợn nái. Khả năng sinh sản của lợn
nái thường thấp nhất ở lứa đẻ thứ nhất, đạt cao nhất ở lứa đẻ thứ 3, 4, 5 và sau đó
gần như là ổn định và có xu hướng giảm khi lứa đẻ tăng lên. Anderson và Gordon
(1997), Koketsu và cs (2000) cho biết số con đẻ ra/ổ tăng từ lứa đẻ một đến lứa đẻ
thứ tư, ở lứa đẻ thứ tám trở đi, số lợn con mới đẻ bị chết tăng lên. Số con đẻ ra/ổ
có quan hệ chặt chẽ đến tuổi của lợn nái và giảm nhanh sau 4, 5 tuổi. Lợn đẻ lứa
đầu tiên thường có số con đẻ ra, khối lượng sơ sinh nhỏ hơn so với những lứa đẻ
sau (Colin, 1998). Lợn mới đẻ lứa đầu thường hay sợ hãi do đó tỷ lệ thụ thai thấp
và tỷ lệ chết cao (Grandinson và cs, 2003).
* Số lần phối và phương thức phối giống
Số lần phối giống trong một lần động dục ở lợn nái ảnh hưởng tới số con đẻ
ra/ổ (Gordon, 1997). Gordon (1997) cũng cho biết: phối đơn trong một chu kỳ
động dục ở lúc động dục cao nhất có thể đạt được số con đẻ ra/ổ cao, nhưng phối
hai lần trong một chu kỳ động dục làm tăng số con đẻ ra/ổ (Tilton và Cole, 1982
dẫn từ Gordon, 1997), thấy rằng: khi phối giống cho lợn nái trực tiếp ba lần, mỗi
lần cách nhau 24 giờ tăng hơn 1,3 con/ổ so với phối hai lần.
Phương thức phối giống cũng ảnh hưởng khá rõ rệt. Trong phối trực tiếp,
ảnh hưởng của con đực rất rõ. Thụ tinh nhân tạo có thể làm giảm tỷ lệ thụ thai
do kỹ thuật phối giống. Theo Anon (1993 dẫn từ Gordon, 1997), phối giống kết
hợp giữa thụ tinh nhân tạo và nhảy trực tiếp có thể làm tăng 0,5 lợn con so với
phối riêng rẽ. Phối giống bằng thụ tinh nhân tạo làm tỷ lệ thụ thai và số con đẻ
ra/ổ đều thấp hơn từ 0 - 10% so với phối giống trực tiếp (Colin, 1998), nhưng
Yếu tố di truyền
Yếu tố gen halothane
Gen halothane được biết đến sớm nhất và có ảnh hưởng rõ rệt đến khả năng
kháng stress, sinh trưởng và chất lượng thịt (Sarther và cs, 1991).
Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nông nghiệp ………………………
11Kiểu gen halothane ảnh hưởng đến các chỉ tiêu thân thịt như tỷ lệ thịt xẻ,
tỷ lệ nạc, độ dày mỡ lưng, diện tích cơ thăn và đặc biệt là các chỉ tiêu chất lượng
thịt như pH, độ mất nước và màu sắc thịt.
Các kết quả nghiên cứu đã cho biết, lợn có phản ứng halothane dương tính
có khả năng cho thịt có tỷ lệ nạc cao, nhưng thịt lại nhiều nước, nhợt nhạt và
mềm (thịt PSE). Theo Barton-Gade (1990), lợn Landrace và lợn Large White có
phản ứng halothane dương tính thì có tỷ lệ thịt PSE chiếm 90,9% và 91,7%;
ngược lại lợn có phản ứng âm tính là 36,4% và 33,3%.
Khi nghiên cứu ảnh hưởng của các kiểu gen halothane đến các tính trạng
nuôi vỗ béo ở 5 giống lợn khác nhau, Slovenia, Dovs và cs (1996) cho thấy, lợn
mang kiểu gen TT đạt khối lượng 30, 60 và 100 kg muộn hơn, có tăng trọng
ngày ở giai đoạn 30-60 kg thấp hơn và độ dày mỡ lưng khi cơ thể đạt 100kg
thấp hơn so với lợn mang kiểu gen CC và CT.
Yếu tố giống
Các giống lợn khác nhau có quá trình sinh trưởng khác nhau, tiềm năng di
truyền của quá trình sinh trưởng của các gia súc được thể hiện thông qua hệ
số di truyền. Hệ số di truyền đối với tính trạng khối lượng sơ sinh và sinh
trưởng trong thời gian bú sữa dao động từ 0,05 – 0,21, và nó thấp hơn trong
thời kỳ vỗ béo (từ 25 đến 95kg). Khả năng tăng trưởng của lợn sau cai sữa là
cao nhất so với giai đoạn bú sữa và giai đoạn trưởng thành. Giai đoạn trưởng
thành, các chỉ tiêu tỷ lệ móc hàm, chiều dài thân thịt, tỷ lệ nạc, độ dày mỡ
nuôi. Ngoài ra yếu tố dinh dưỡng cũng giữ một vai trò cực kỳ quan trọng.
Nguồn dinh dưỡng của lợn con không chỉ do lợn mẹ cung cấp mà rất cần nguồn
dinh dưỡng bổ sung từ bên ngoài để cho lợn con phát triển tốt nhất.
Yếu tố ngoại cảnh là quan trọng chi phối khả năng sinh trưởng và cho thịt
của gia súc nói chung.
* Dinh dưỡng
Dinh dưỡng là yếu tố quan trọng nhất trong số các yếu tố ngoại cảnh chi
phối sinh trưởng và khả năng cho thịt của gia súc. Mối quan hệ giữa năng lượng
Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nông nghiệp ………………………
13và protein giúp cho việc điều khiển tốc độ tăng khối lượng, tỉ lệ nạc mỡ và tiêu
tốn thức ăn của lợn thịt. Phương thức cho ăn và giá trị dinh dưỡng trong khẩu
phần ăn là chìa khóa ảnh hưởng lên tăng khối lượng (Nguyễn Thị Nghi và Lê
Thanh Hải, 1995).
Theo Wood và cs (2004), nuôi lợn thịt bằng khẩu phần protein thấp, lợn sẽ
sinh trưởng chậm, khối lượng giết thịt thấp. Mức năng lượng và protein thấp
trong khẩu phần làm tăng khả năng tích luỹ mỡ, tăng tỷ lệ mỡ trong cơ (Chang
và cs, 2003).
Tốc độ tăng khối lượng, chất lượng thịt cũng thay đổi tuỳ thuộc vào mối
quan hệ giữa các vitamin với nhau và giữa vitamin với protein và khoáng. Bên
cạnh đó hàng loạt nghiên cứu đã xác nhận tác dụng của việc bổ sung các axit
amin giới hạn vào khẩu phần lợn thịt: tăng khối lượng tăng, tiết kiệm được thức
ăn và protein. HanCock (1996) cho biết nuôi lợn hướng nạc, hàm lượng Lysin
trong khẩu phần giai đoạn cuối cần từ 0,5% đến 0,8%. Chất khoáng cũng đặc
biệt quan trọng với lợn thịt. Jondreville và cs (2003) cho biết bổ sung Cu, Zn
một cách hợp lý vào khẩu phần có tác dụng làm tăng khả năng sinh trưởng và
giảm ô nhiễm môi trường. Hiệu quả sử dụng protein bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu
súc, vận chuyển, bắt lợn để lấy máu, thiến hoạn, phân đàn, chuyển chuồng
tiêm chủng và điều trị, thay đổi kích thước và hình dáng chuồng nuôi, thay
đổi khẩu phần, đột ngột bỏ đói, cho uống nước thiếu (Marraz, 1971, trích từ
Trần Quang Hân, 1996).
Ngoài ra phương thức nuôi dưỡng cũng ảnh hưởng đến khả năng sản xuất
của con vật. Khi cho lợn ăn khẩu phần ăn tự do, khả năng tăng khối lượng nhanh
hơn (Ramaekers và cs, 1996), tiêu tốn thức ăn thấp hơn nhưng dày mỡ lưng lại
cao hơn khi lợn đực ăn khẩu phần ăn hạn chế (Nguyễn Thị Nghi và cs, 1995).
Lợn cho ăn khẩu phần thức ăn hạn chế có tỷ lệ nạc cao hơn lơn cho ăn khẩu
phần thức ăn tự do (Thomke và cs, 1995).
* Mùa vụ
Huang và cs (2004) cho biết mùa vụ có ảnh hưởng rõ rệt tới độ dày mỡ
Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nông nghiệp ………………………
15lưng và hiệu quả sử dụng thức ăn. Lợn nuôi trong mùa hè và mùa đông có độ
dày mỡ lưng thấp hơn mùa thu và mùa xuân (Choi và cs, 1997). Stress nhiệt có
liên quan mức sinh trưởng chậm vì khả năng thu nhận thức ăn thấp.
Nguyễn Văn Đức và cs (2001), cho biết tăng khối lượng chịu ảnh hưởng
lớn của yếu tố mùa vụ. Sự khác biệt giữa năm và mùa ảnh hưởng đến tăng khối
lượng và dày mỡ lưng rõ rệt (Pathiraja và cs, 1990).
1.2 Tình hình nghiên cứu ở trong và ngoài nước
1.2.1 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
Ở châu Âu hiện nay, ba giống phổ biến được sử dụng là P, Hampshire và
D. Giống Pi có tỷ lệ nạc cao nhưng tần số gen halothane cao, giống
Hampshire có khả năng kháng stress song có hạn chế là tồn tại gen RN- và
ảnh hưởng đến chất lượng thịt, giảm năng suất thịt khi chế biến, giống D có
khả năng kháng stress nhưng cũng có hạn chế là tỷ lệ mỡ trong thân thịt và
halothane của Large White vào bộ gen halothane của Piétrain cổ điển (Leroy và
cs 1999a, 1999b, 2000). Leroy và Verleyen (1999a) đã khẳng định rằng lợn
Piétrain RéHal thể hiện được tất cả các ưu điểm của Piétrain cổ điển, nhưng đặc
tính nhạy cảm với stress đã giảm và pH sau khi giết thịt đã được cải thiện.
Piétrain thuần nuôi ở Đan Mạch có tuổi đẻ lứa đầu khi nghiên cứu trên
170 con và 224 ổ đẻ lần lượt là 350 và 343 ngày (Lê Thanh Hải và cs, 1996).
Khi nuôi ở Thái Lan tuổi đẻ lứa đầu của Piétrain là 434,76 ngày (Pholsing và cs,
2009). Theo Biedermann và cs (1998) đã nghiên cứu ảnh hưởng kiểu gen
halothane ở 343 lợn nái Piétrain đến năng suất sinh sản nhưng không tìm thấy sự
khác biệt giữa lợn có kiểu gen CC, CT với lợn có kiểu gen TT về số con/ổ, số
lứa đẻ và số lợn con/nái/năm và khoảng cách giữa hai lứa đẻ. Nghiên cứu sử
dụng đực Piétrain RéHal phối với nái thương phẩm trong điều kiện sản xuất cho
kết quả khả quan về tiêu tốn thức ăn (2,96kg), tăng trọng trung bình 649
kg/ngày, tỷ lệ móc hàm 82,6%, độ dày mỡ lưng 2cm, tỷ lệ nạc 59%. Điều này
chứng tỏ việc loại bỏ các allene không ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng
thịt (Leroy và Verleyen, 2000).
Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nông nghiệp ………………………
17