ĐÁNH GIÁ CÔNG tác QUẢN lý môi TRƯỜNG TRONG mô HÌNH xây DỰNG NÔNG THÔN mới tại một số xã THUỘC TỈNH bắc GIANG - Pdf 30



BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆTNAM

NGUYỄN THỊ PHƯƠNG ĐÔNG
ĐÁNH GIÁ CÔNG TÁC QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG TRONG
MÔ HÌNH XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TẠI MỘT SỐ XÃ
THUỘC TỈNH BẮC GIANG LUẬN VĂN THẠC SĨ

HÀ NỘI - 2014 BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

NGUYỄN THỊ PHƯƠNG ĐÔNG
Hà Nội, ngày 11 tháng 11 năm 2014
Tác giả luận văn

NGUYỄN THỊ PHƯƠNG ĐÔNG
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Pageii

LỜI CẢM ƠN Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo TS. Nguyễn Thanh Lâm –
khoa Tài Nguyên Môi trường – Học viện Nông nghiệp VN đã hướng dẫn tôi
trong suốt quá trình làm luận văn tốt nghiệp.

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT vi
MỞ ĐẦU 1
Chương 1. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 3
1.1. Cơ sở khoa học và thực tiễn 3
1.1.1. Cơ sở khoa học 3
1.1.2. Xây d
ựng Nông thôn mới ở Bắc Giang và vấn đề quản lý môi trường 23
Chương 2. NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26
2.1. Đối tượng nghiên cứu 26
2.1.1. Đối tượng nghiên cứu: Công tác quản lý môi trường 26
2.1.2. Phạm vi nghiên cứu 26
2.2. Nội dung nghiên cứu 26
2.2.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội tỉnh Bắc Giang và 3 xã nghiên cứu 26
2.2.2. Đánh giá tình hình thực hiện đề án NTM tại 3 xã nghiên cứ
u 26
2.2.3. Đánh giá hiệu quả quản lý môi trường trong đề án xây dựng NTM giữa 3
xã nghiên cứu 26
2.2.4. Đề xuất nâng cao hiệu quả công tác quản lý môi trường tại địa bàn nghiên
cứu 26
2.3. Phương pháp nghiên cứu 26
2.3.1. Phương pháp chọn điểm nghiên cứu và mẫu điều tra 26
2.3.2. Phương pháp thu thập số liệu 27
2.3.3. Phương pháp đánh giá 29
Chương 3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 30
3.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế – Xã hội 30
3.1.1. Điều kiện tự nhiên kinh tế – xã hội tỉnh Bắc Giang 30

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Pageiv

3.1.2. Điều kiện tự nhiên – xã hội 3 xã nghiên cứu 32

Bảng 1.2. Tổng hợp hoạt động của các mô hình quản lý chất thải nông thôn 17
Bảng 1.3. Thành phần rác thải sinh hoạt ở một số địa phương 18
Bảng 1.4. Phát sinh chất thải sinh hoạt tại đô thị và nông thôn 19
Bảng 1.5. Khối lượng chất thải rắn chăn nuôi Việt Nam 20
Bảng 1.6. Số lượng chất thải củ
a một số loài gia súc gia cầm 20
Bảng 1.7. Tổng hợp lượng CTR nông nghiệp phát sinh 2008, 2010 20
Bảng 1.8. Kết quả phân tích một số chỉ tiêu môi trường nước mặt (2009) 24
Bảng 1.9. Kết quả phân tích một số chỉ tiêu môi trường nước mặt (2010) 24
Bảng 2.1. Các nhóm tiêu chí Nông thôn mới theo QĐ 491/TTg-2009 28
Bảng 3.1. Dân số tỉnh Bắc Giang qua các năm 30
Bảng 3.2. Bảng một số chỉ tiêu kinh tế thực hiện giai
đoạn 2006 -2014 31
Bảng 3.3. Số lượng đàn gia súc, gia cầm xã Cao Thượng năm 2009 - 2010 38
Bảng 3.4. Tình hình thực hiện các tiêu chí xây dựng Nông thôn mới 40
Bảng 3.5. Tổng lượng rác thải phát sinh (tấn/ngày) 56
Bảng 3.6. Các hình thức xử lý sau thu gom 58
Bảng 3.7. Quản lý xử lý nước thải sinh hoạt 59
Bảng 3.8. Quản lý nước thải công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp 59
Bảng 3.9. Xử lý nước thải chăn nuôi
60
Bảng 3.10. Quản lý nước thải tồn dư phân hóa học, thuốc BVTV 60
Bảng 3.11. Các biểu hiện gặp phải khi lao động 61
Bảng 3.12. Nhà vệ sinh 61
Bảng 3.13. Phế thải nông nghiệp, vỏ bao bì thuốc BVTV 62
Bảng 3.14. Phân tích SWOT đánh giá công tác quản lý môi trường xã Tân Thịnh
74
Bảng 3.15. Phân tích SWOT đánh giá công tác quản lý môi trường xã Cao
Thượng 75
Bảng 3.16. Phân tích SWOT đánh giá công tác quả
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page1

MỞ ĐẦU

Hiện nay các quá trình đô thị hoá, công nghiệp hoá đang bộc lộ nhiều vấn
đề nghiêm trọng, gây mất cân bằng sinh thái. Các hiện tượng biến đổi khí hậu gia
tăng cũng làm môi trường sống và môi trường sản xuất bị tác động. Trong khi
Việt Nam vẫn là một nước nông nghiệp với hơn 70% dân cư đang sống ở nông
thôn. Do đó việc xây dựng môi trường nông nghiệp nông thôn vẫn là mối quan
tâm hàng đầu, có vai trò quyết định đối với việc ổn định kinh tế xã hội đất nước.
Nghị quyết 41 của Trung Ương Đảng quán triệt “Bảo vệ môi trường là một trong
những vấn đề sống còn của nhân loại; là nhân tố bảo đảm sức khỏe và chất lượng
cuộc sống của nhân dân; góp phần quan trọng vào việc phát triển kinh tế - xã hội,
ổn định chính trị, an ninh quốc gia và thúc đẩ
y hội nhập kinh tế quốc tế” (Nguyễn
Thanh Lâm, 2011). Trong những năm qua, nhiều chương trình đã được thực hiện
như chương trình khoa học công nghệ, chương trình khuyến nông, chương trình
135 hay chương trình mục tiêu quốc gia xóa đói giảm nghèo. Tuy nhiên những
chương trình này chỉ giải quyết được một số vấn đề riêng rẽ, thiếu quy hoạch,
môi trường sống vẫn không được cải thiện. Do đó Đảng và Nhà nướ
c đã đưa ra
chương trình “Xây dựng nông thôn mới” với nhiều nội dung, trong đó vấn đề
môi trường là tiêu chí rất được chú trọng.
Bắc Giang là tỉnh có rất nhiều đặc điểm thuận lợi cho phát triển công
nghiệp, đô thị hóa tuy nhiên các vấn đề môi trường – xã hội chưa được quan
tâm. Nhiều khu công nghiệp, thủy điện hoạt động nhưng không có hệ thống xử
lý chất thải, phương thức sản xuất nông nghiệp và ý thức người dân lạc hậu… đã
khiến cho ô nhiễm môi trường tại Bắc Giang đang trở thành điểm nóng. Tiêu chí

¾ Yêu cầu của đề tài
- Xác định được ưu điểm, hạn chế trong công tác quản lý môi trường các
xã nghiên cứu xây dựng Nông thôn mới.
- So sánh, đánh giá hiệu quả công tác quản lý môi trường tạ
i các xã đó
- Đề xuất biện pháp khả thi phù hợp với từng địa bàn nhằm nâng cao hiệu
quả công tác quản lý môi trường nông thôn mới các xã nghiên cứu, đặc biệt là
các xã khó khăn. Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page3

Chương 1. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

1.1. Cơ sở khoa học và thực tiễn
1.1.1. Cơ sở khoa học
1.1.1.1. Một số khái niệm
- Môi trường:
Là một khái niệm rất rộng, được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau.
"Môi trường là một nơi chốn trong số các nơi chốn, nhưng có thể là một nơi chốn
đáng chú ý, thể hiện các màu sắc xã hội của một thời kì hay một xã hội". Cũng có
những tác giả đưa ra định nghĩa ngắn gọn hơn, như R.G.Sharme (1988) đưa ra:
"Môi trường là tất cả những gì bao quanh con người".
Cũng có những định nghĩa khác như: Môi trường là một phần của ngoại
cảnh, bao gồm các hiện tượng và các thực thể của tự nhiên mà ở đó, cá thể,
quần thể, loài có quan hệ trực tiếp hoặc gián tiếp bằng các phản ứng thích nghi
của mình. (Vũ Trung Tạng, 2000)
Nhưng trong thể chế Việt Nam hiện nay thường dùng định nghĩa sau "Môi
tr
ường bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo quan hệ mật thiết

hoạt động của con người. Có nhiều tác động của con người hiện nay có thể còn
chưa nhận ra những bất lợi, nhưng có thể ở nhiều năm sau những hậ
u quả đó mới
được bộc lộ ra. Vì vậy con người cần phải nhận thức được hành vi và vai trò,
trách nhiệm của mình đối với môi trường sống. Kinh nghiệm của các nước phát
triển như Nhật, Mỹ, Canada môi trường sống đang ngày bị thu hẹp, các nguồn
năng lượng, tài nguyên cũng dần cạn kiệt chứ không phải là vô tận mãi. Các
nước này đều cho rằng cần phải có sự quản lý c
ủa nhà nước về môi trường song
song với quá trình phát triển (Nguyễn Thế Chinh, 2003).
- Quản lý môi trường:
Hiện nay vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất về QLMT. Tuy nhiên có
thể thấy “Quản lý môi trường là một lĩnh vực quản lý xã hội, có tác động điều
chỉnh các hoạt động của con người dựa trên sự tiếp cận có hệ thống và các kỹ
năng điề
u phối thông tin, đối với các vấn đề liên quan tới con người; xuất phát từ
quan điểm định lượng, hướng tới phát triển bền vững và sử dụng hợp lý tài
nguyên (Nguyễn Thế Chinh, 2003).

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page5

Quản lý môi trường được thực hiện bằng tổng hợp các biện pháp: luật
pháp, chính sách, kinh tế, kỹ thuật, công nghệ, xã hội, văn hóa giáo dục… Các
biện pháp này có thể đan xen, phối hợp, tích hợp với nhau tùy điều kiện cụ thể.
Việc quản lý môi trường được thực hiện ở mọi quy mô: toàn cầu, khu vực, quốc
gia, tỉnh, huyện, cơ sở sản xuất, hộ gia đình. (H
ồ Thị Lam Trà, Lương Đức Anh,
2008).
Thuật ngữ về quản lý môi trường bao gồm 2 nội dung chính: Quản lý
Nhà nước về môi trường và Quản lý của các doanh nghiệp, khu vực dân cư về

nhiều cán bộ địa phương cho rằng:
“Nông thôn mới phải tập trung vào xây dựng cơ sở hạ tầng làm đòn bẩy
phát triển các ngành nghề khác.”
“Nông thôn mới đạt được bộ tiêu chí do chính phủ ban hành (19 tiêu chí)”.
“Nông thôn mới phải cải tạo được cảnh quan, bảo vệ môi trường phục vụ
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”.
“Nông thôn mới phải áp dụng khoa học kĩ thuật mới, nâng cao thu nhập
cho người dân”.
Dựa trên các quan điểm của Nguyễn Trọng Bình (2009), khái niệm tổng
hợp về nông thôn mới theo Phạm Chí Thành, Trần Đức Viên (2011) như sau:
“Một vùng làng, xã được xem là nông thôn mới khi ở đó có sự kết hợp giữa khoa
học công nghệ, tổ chức sản xuất và sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên để tạo ra
môi trường sống trong lành, người dân có thu nhập cao và ổn định” (Phạm Chí
Thành, Trần Đức Viên, 2011).
Theo Nghị quyết số 26 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa X) về
nông nghiệp, nông dân, nông thôn, thì Nông thôn mới là khu vực nông thôn có
kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội từng bước hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình
thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp,
dịch vụ; gắn phát triển nông thôn với đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn
dân chủ, ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; môi trường sinh thái được bảo
vệ; an ninh trật tự được giữ vững; đời sống vật chất và tinh thần của người dân
ngày càng được nâng cao; theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Nghị quyết 26/NQTW ngày 28/05/2008 đã nêu một cách tổng quát về mục
tiêu, nhiệm vụ cũng như phương thức tiến hành quá trình xây dựng nông thôn
mới trong giai đoạn hiện nay, phù hợp với điều kiện thực tiễn phát triển của đất
nước. Quan điểm đó của Đảng là sự kế thừa và phát huy những bài học kinh

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page7

nghiệm lịch sử về phát huy sức mạnh toàn dân, huy động mọi nguồn lực để tạo ra


Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page8

với mô hình cũ, chứa đựng các đặc điểm chung, có thể phổ biến và vận dụng trên
cả nước.
1.1.1.2. Nông thôn mới và vấn đề môi trường
• Xây dựng Nông thôn mới
Ý nghĩa của Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới:
- Là cụ thể hóa đặc tính của xã NTM thời kỳ đẩy mạnh CNH - HĐH.
- Bộ tiêu chí là căn cứ để xây dựng nội dung Chương trình mục tiêu quốc
gia về xây dựng NTM, là chuẩn mực để các xã lập kế hoạch phấn đấu đạt 19 tiêu
chí nông thôn mới.
- Là căn cứ
để chỉ đạo và đánh giá kết quả thực hiện xây dựng NTM của các
địa phương trong từng thời kỳ; đánh giá công nhận xã, huyện, tỉnh đạt nông thôn
mới; đánh giá trách nhiệm của các cấp uỷ Đảng, chính quyền xã trong thực hiện
nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới.
Các nội dung, hoạt động của Chương trình xây dựng nông thôn mới phải
hướng tới mục tiêu thực hiện 19 tiêu chí của Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn
mới ban hành tại Quyết định số 491/QĐ-TTg ngày 16-4-2009 của Thủ tướng
Chính phủ và Quyết định số 342/QĐ-TTg ngày 20-2-2013 của Thủ tướng Chính
phủ sửa đổi một số tiêu chí của Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới.
Một số tiêu chí đặc trưng cơ bản của mô hình nông thôn mới
Theo Quyết định 491/QĐ-TTg, ngày 14/6/2009 của Thủ tướng Chính phủ
có 19 tiêu chí (chia thành 5 nhóm tiêu chí) xây dựng nông thôn mới như sau:

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page9

Bảng 1.1. Các nhóm tiêu chí xây dựng Nông thôn mới
STT Tên tiêu chí Nhóm tiêu chí

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page10

Trong số 1.639 xã trên cả nước đạt dưới năm tiêu chí thì các tỉnh miền núi
phía Bắc chiếm tới 856 xã, tương đương 52% cả nước. Ngoài những địa phương
được lựa chọn làm “điểm”, nhìn chung kết quả nhiều tiêu chí của vùng chưa cao,
chỉ bằng khoảng 20% - 30% so với kết quả bình quân chung của cả nước. Đáng
lưu ý là có một số tiêu chí đạt thấp: Tiêu chí về đường giao thông, có 119 xã
thuộc các tỉnh miền núi phía Bắc chưa có đường giao thông đến trung tâm xã,
chiếm 80% số xã chưa có đường giao thông đến trung tâm xã trên cả nước (149
xã); tỷ lệ xã đạt tiêu chí về giao thông là 5,4%, điện là 45,3%, nước sạch là 4%,
cơ sở vật chất văn hóa là 3,4%, thu nhập bình quân đầu người đạt 10,8 triệu
đồng/năm, bằng 65% bình quân chung cả nước. Tuy đã giảm song tỷ lệ hộ nghèo
của vùng vẫn ở mức 24%, cao gấp 2,4 lần so với bình quân chung cả nước
(Quang Minh, 2013).
+ Sơn La và Điện Biên trở thành 2 tỉnh chậm nhất cả nước về công tác phê
duyệt qui hoạch chậm, chưa nói đến việc triển khai các tiêu chí cụ thể xây dựng
nông thôn mới. Nguyên nhân do “việc phối hợp giữa các cấp, các ngành, đặc biệt
là cấp huyện, xã chưa chặt chẽ. Cấp xã được giao làm chủ đầu tư thế nhưng thiếu
cán bộ kỹ thuật thiếu hiểu biết về quy hoạch. Còn các ngành của huyện chưa bắt
tay chỉ việc giúp xã…”.
Văn phòng Ban chỉ đạo xây dựng nông thôn mới tỉnh Điện Biên giải
thích: triển khai xây dựng nông thôn mới ở Điện Biên “dậm chân tại chỗ” vì nhận
thức của cán bộ, nhất là ở cấp xã còn hạn chế.
Thời gian đầu, nhiều địa phương ở Sơn La và Điện Biên hăng hái đăng ký
xây dựng nông thôn mới với hy vọng sẽ được hưởng lợi nhờ được đầu tư vốn lớn
làm các dự án. Nhưng khi được biết triển khai chương trình với chủ trương lồng
ghép các dự án kết hợp phát huy nội lực của nhân dân, lãnh đạo một số địa
phương lại tỏ ra thờ ơ, bỏ mặc. Còn cấp tỉnh thì thiếu quan tâm chỉ đạo sát sao.
Thực tế này dẫn đến như Sơn La năm 2011 có 55 xã đăng ký đến năm
2015 hoàn thành xây dựng nông thôn mới. Nhưng qua 2 năm thực hiện, Ban chỉ

cấu kinh tế nông thôn theo hướng sản xuất hàng hóa trong khi trình độ sản xuất
của bà con còn lạc hậu; khả năng tiếp cận thị trường, nhận thức c
ủa người dân,

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page12

một bộ phận cán bộ cấp xã còn hạn chế. Hơn nữa, việc phân bố dân cư ở các
thôn, bản còn rải rác, công tác quy hoạch chưa được thống nhất, lâu dài, vị trí
trung tâm của các xã còn hạn hẹp, hết quỹ đất. Hạ tầng nông thôn còn nhiều yếu
kém. Công tác vệ sinh làng, bản, vệ sinh môi trường còn nhiều hạn chế Đặc
biệt, huy động vốn là vấn đề khó khăn nhất bởi để xây d
ựng toàn bộ các xã đạt
chuẩn nông thôn mới cần phải có nguồn lực lớn; theo tính toán của cơ quan
chuyên ngành, Lào Cai cần phải có khoản kinh phí đầu tư khoảng 27.600 tỷ
đồng. Trong đó, kinh phí cho giai đoạn 2011-2015 là trên 14.775 tỷ đồng, gồm từ
nguồn ngân sách khoảng 7.000 tỷ đồng, còn lại là các nguồn vốn khác. Xây dựng
nông thôn mới là chiến lược dài hạn và là chương trình tổng hợp về tất cả các
mặt kinh tế - chính trị - v
ăn hóa – xã hội mà chủ thể là người dân. Đặc biệt, đây
là chương trình được thực hiện trên cơ sở có sự đầu tư của Nhà nước và sự phát
huy nội lực của địa phương (Nguyễn Thị Hồng Minh, 2011).
+ Lai Châu: Theo đánh giá của Ban chỉ đạo xây dựng Nông thôn mới, tiêu
chí về môi trường đang là tiêu chí đạt thấp và khó thực hiện nhất trong tiến trình
xây dựng Nông thôn mới của tỉnh, đặc biệt ở các xã vùng sâu, vùng xa, vùng
đông bào dân tộc thiểu số.
Trung bình mỗi ngày, toàn tỉnh phát sinh hàng trăm tấn rác thải sinh hoạt,
trong đó, khoảng 50% rác ở các khu vực trung tâm được thu gom. Thế nhưng, t

lệ rác được xử lý bảo đảm công nghệ, kỹ thuật là không có mà chủ yếu được xử
lý sơ bộ ban đầu như đốt, chôn lấp, rắc vôi bột ở các bãi rác. Còn ở các xã vùng

trào lan tỏa rộng khắp. Người dân nhận thức đầy đủ, chính xác về vai trò của
mình trong xây dựng nông thôn mới, từ đó tự nguyện đóng góp thời gian, công
sức, vật chất để thực hiện các tiêu chí nông thôn mới.
Và sau thực tiễn tại nhiều địa phương, bộ tiêu chí đã được sửa đổi, phù hợp
với đời sống, đặc trưng vùng, miền nên tạo điều kiện thuận lợi triển khai thực hiện ở
cơ sở. Ngày 20/02/2013, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 342/QĐ-
TTg sửa đổi một số tiêu chí của Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới. Theo đó, 5
tiêu chí được sửa đổi là tiêu chí số 7 về chợ nông thôn, tiêu chí số 10 về thu nhập,
tiêu chí số 12 về cơ cấu lao động, tiêu chí số 14 về giáo dục và tiêu chí số 15 về y tế.

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page14

Cả nước hiện có khoảng trên 9.000 mô hình sản xuất có hiệu quả, tăng thu
nhập cho nông dân, bao gồm: mô hình sản xuất hàng hóa theo chuỗi giá trị, cánh
đồng lớn, gắn sản xuất, chế biến và tiêu thụ
Theo báo cáo tổng kết của bộ NN và PTNT, tính tới đầu tháng 9, số xã đạt
chuẩn nông thôn mới của cả nước là 512 xã, chiếm 5,8% tổng số xã. Dự kiến
cuối năm nay sẽ có 785 xã đạt chuẩn (8,8%) (Thành Chung, 2014).
Số liệu báo cáo chưa đầy đủ cho thấy bình quân các xã đạt 9,64 tiêu
chí/xã, cuối năm nay sẽ đạt 10 tiêu chí, tăng 5,38 tiêu chí so với năm 2010.
Cả nước đã có 42,38% số xã đạt tiêu chí về thu nhập, 64,16% số xã đạt
tiêu chí về hình thức tổ chức sản xuất, 34% xã đạt tiêu chí hộ nghèo, 71,80% số
xã đạt tiêu chí về điện, 87,52% đạt an ninh trật tự xã hội
Thứ trưởng Trần Thanh Nam cho biết, tổng nguồn vốn thực hiện Chương
trình là 157.814.170 tỷ đồng. Trong đó vốn Nhà nước là 5.255 tỷ đồng, chiếm
3,3% tổng nguồn vốn; vốn lồng ghép chiếm 15%, 13% là ngân sách địa phương,
54,9% là vốn tín dụng, vốn doanh nghiệp hỗ trợ chiếm 3,71%, còn dân cư đóng
góp tương ứng với 11,45%.
Năm 2014 cũng là năm đầu tiên Chương trình được thực hiện bằng việc
bổ sung vốn trái phiếu Chính phủ theo Nghị quyết của Quốc hội (khoảng 5.000

thực hiện tiêu chí chưa phù hợp với điều kiện cụ thể từng vùng, miền; việc nhân
rộng mô hình sản xuất mới còn chậm, chủ yếu tập trung ở các tỉnh vùng đồng
bằng, chưa được phổ biến, nhân rộng trên phạm vi cả nước; sự quan tâm và tập
trung chỉ đạo Chương trình ở một số địa phương còn hạn chế; chất lượng công
tác quy hoạch còn bất cập, huy động nguồn lực cho chương trình chưa đáp ứng
được yêu cầu.
Trong lĩnh vực xây dựng hạ tầng, hiện vẫn thiếu hướng dẫn về lồng ghép
các chương trình, dự án làm căn cứ cho các địa phương thực hiện, dẫn đến sự
lúng túng, không thống nhất. Một số địa phương cũng triển khai xây dựng hạ
tầng quá mức so với yêu cầu, gây lãng phí nguồn lực và huy động quá sức dân.
Cùng với đó, quy trình và kinh phí cho công tác duy tu, bảo dưỡng, vận hành còn
thiếu đã ảnh hưởng tiêu cực đến chất lượng và tính bền vững cho các công trình.
Phó Thủ tướng Vũ Văn Ninh, Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương chương
trình MTQG xây dựng nông thôn mới cho rằng các địa phương không được thực
hiện nóng vội, chủ quan mà cần phải nắm rõ đặc điểm địa phương mình có
những thuận lợi, khó khăn gì để tránh sự cứng nhắc, giáo điều, không thực tế,
dẫn đến xây dựng NTM không bền vững.

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page16

Trong thời gian tới cần tiếp tục quán triệt quan điểm về xây dựng nông
thôn mới, coi đây là giải pháp chủ yếu, quan trọng, mang tính chiến lược để thực
hiện Nghị quyết của Đảng về nông nghiệp, nông dân và nông thôn.
Mục tiêu đến năm 2015 có 20% số xã đạt chuẩn nông thôn mới là rất khó
khăn, đặc biệt khi nguồn lực còn nhiều hạn chế, Phó Thủ tướng Vũ Văn Ninh cho
biết Chính phủ sẽ tiếp tục nỗ lực để phân bổ nguồn lực lớn hơn cho các địa phương,
đồng thời cần nghiên cứu thêm các cơ chế lồng ghép, huy động nguồn lực (Thành
Chung, 2014).
• Vấn đề môi trường trong xây dựng Nông thôn mới
Nhiều khu vực nông thôn nước ta hiện nay đang có nguy cơ ô nhiễm môi

Bảng 1.2. T
ổng hợp hoạt động của các mô hình quản lý chất thải nông thôn
TT Nội dung
Mô hình dịch vụ
Tự quản HTX dịch vụ MT Cty TNHH
Công ty
MTĐT
1 Địa bàn hoạt động
Phổ biến ở các
vùng nông thôn
Chủ yếu ở các thị
trấn, thị tứ
Chủ yếu các
vùng ven khu
công nghiệp
Chủ yếu các
vùng ven đô
2 Kinh phí hoạt động

- Ngân sách NN (%) 0 10-20 5-10 80-90
- Đóng góp của dân (%) 100 80-90 90-95 10-20
3
Thu nhập (1000
đ/người/tháng)
100-300 500-1.000 500-1.000 1.200-2.000
4
Bảo hộ lao động
(bộ/năm)
Không có 1 1 2
5 Bảo hiểm xã hội Không có Tự đóng Công ty đóng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status