BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
NGUYỄN THỊ THU HIỀN
ĐÁNH GIÁ NGUY CƠ PHƠI NHIỄM VỚI VI KHUẨN
SALMONELLA TRONG THỊT GÀ TIÊU THỤ
TRÊN ĐỊA BÀN HÀ NỘI CHUYÊN NGÀNH : THÚ Y
MÃ SỐ : 60.64.01.01 NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC :
1: TS.PHẠM THỊ NGỌC
2: TS.PHẠM HỒNG NGÂN HÀ NỘI – 2015
Tôi xin cảm ơn các anh/chị nghiên cứu viên, thực tập sinh tại bộ môn
Vệ sinh Thú y, Viện Thú y đã luôn sẵn lòng giúp đỡ, hỗ trợ tôi trong suố
t thời
gian thực tập.
Tôi xin cảm ơn các thầy, cô giáo Bộ môn Thú y cộng đồng, Học viện
Nông nghiệp Việt Nam đã giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành
luận văn của mình.
Xin chân thành cảm ơn các thành viên nhóm nghiên cứu tại trung tâm
CENPHER- Trường Đại học Y tế công cộng, những người đã giúp đỡ tôi rất
nhiều trong thời gian tiếp cận, tìm hiểu phương pháp đánh giá nguy cơ.
Tôi xin
được gửi lời cám ơn tới gia đình, bạn bè của tôi đã tạo mọi điều
kiện và động viên tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn
Xin chân thành cảm ơn!
Nguyễn Thị Thu Hiền
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Pageiii
MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục các chữ viết tắt v
Danh mục bảng vi
Danh mục ảnh vii
2.2.3 Thiết bị, máy móc, dụng cụ hoá chất dùng trong thí nghiệm 24
2.3 Phương pháp nghiên cứu 24
2.3.1 Phương pháp chọn mẫu: 24
2.3.2 Phương pháp thu thập mẫu tại thực địa 24
2.3.3 Điều tra, phỏng vấn 24
2.3.4 Phân lập Salmonella 25
2.3.5 Phương pháp đánh giá định lượng nguy cơ vi sinh vật (QMRA) 27
CHƯƠNG 3. KẾT QU
Ả VÀ THẢO LUẬN 30
3.1 Kết quả khảo sát các chỉ tiêu cảm quan của thịt gà bày bán tại chợ 30
3.2 Kết quả điều tra hiện trạng VSATTP của thịt gà bày bán ở chợ thông
qua một số điều kiện vệ sinh liên quan đến quầy hàng, người bán hàng
và người chế biến thức ăn tại hộ gia đình. 31
3.2.1 Kết quả điều tra thực trạng vệ sinh nơi bán th
ịt gà tươi sống 31
3.2.2 Kết quả điều tra điều kiện VSATTP liên quan tới thịt gà bán tại quầy 35
3.2.3 Kết quả khảo sát điều kiện vệ sinh bếp ăn hộ gia đình 36
3.3 Kết quả phân lập và định lượng Salmonella 37
3.4 Nguy cơ nhiễm Salmonella trong một năm 41
3.4.1 Kết quả mức tiêu thụ thịt gà của người dân 41
3.4.2 Nguy cơ nhiễm Salmonella t
ừ thịt gà cho một lần phơi nhiễm 42
3.4.3 Nguy cơ nhiễm Salmonella trong một năm của người dân với n lần
phơi nhiễm 44
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 46
1 Kết luận 46
2 Đề nghị 47
TÀI LIỆU THAM KHẢO 49
PHỤ LỤC
53
1.2 Nguyên nhân gây ngộ độc thực phẩm ở Việt Nam 5
1.3 Yêu cầu cảm quan của thịt tươi 13
1.4 Các chỉ tiêu vi sinh vật của thịt tươi 13
2.1 Tỷ lệ nhiễm chéo vi khuẩn từ thức ăn sống sang thức ăn chín
trong quá trình chế biến 28
3.1 Kết quả kiểm tra cảm quan thịt gà 30
3.2 Kết quả điều tra thực trạng vệ sinh tại các chợ 31
3.3 Chất liệu, chiều cao bàn bày bán thịt gà tại một số chợ trên địa
bàn TP. Hà Nội 33
3.4 Kết quả điều tra nguồn cấp nước và dụng cụ bán hàng của quầy
hàng thịt gà 34
3.5 Kết quả điều tra điều kiện VSATTP liên quan tới thịt gà bán tại quầy 35
3.6 Kết quả điều tra điều kiện ATVSTP liên quan đến bếp ăn hộ gia đình 36
3.7 Kết quả phân lập và định lượng Salmonella 38
3.8 Kết quả lượng thịt gà 1 người/ngày và số ngày trong năm ăn thịt gà 41
3.9 Nguy cơ nhiễm Salmonella từ thịt gà với một lần phơi nhiễm 43
3.10 Nguy cơ nhiễm Salmonella từ thịt gà với n lần phơi nhiễm trong 1 năm 44 Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Pagevii
DANH MỤC ẢNH
STT Tên ảnh Trang
3.1 Vi khuẩn Salmonella trên môi trường Rambach 40
3.2 Vi khuẩn Salmonella trên môi trường XLT4 40
lý, các chất độc, kí sinh trùng và vi sinh vật. Ông cũng đặc biệt nhấn mạnh
vào yếu tố vi sinh vật trong dây chuyền sản xuất thịt, mỗi công đoạn đều có
nhiều nguy cơ ô nhiễm vi sinh vật vào thịt. Một trong những loại vi sinh vật
có khả năng ô nhiễm vào thịt tươi, gây ngộ độc thực phẩm và các bệnh truyền
lây qua thực phẩm là vi khuẩn Salmonella spp. Vi khuẩn Salmonella được ghi
nhận là nguyên nhân gây ra nhiều vụ ngộ độc thực phẩm nguy hiểm, đặc biệt
tại các nước đang phát triển. Ở các nước này, trường hợp trẻ em dưới hai tuổi
nhiễm Salmonella là rất thường gặp, và đôi khi dẫn đến tử vong (WHO 2001).
Trong cộng đồng, ô nhiễm thịt gà bị nhiễm Salmonella trong quá trình giết
mổ và tiêu thụ có thể là nguyên nhân gây ra từ 30% đến 70% số ca bệnh tiêu
chảy (EFSA 2010). Trong quần thể động vật, tỷ lệ nhiễm Salmonella trong
các loại thịt gia cầm ở
nhiều nước thường có tỷ lệ khoảng 50% trở lên (Little
CL và cs., 2008). Theo báo cáo của CDC (2005) hàng năm ở Mỹ có tới 76
triệu lượt người bị các bệnh truyền lây qua thực phẩm, trong đó có tác nhân
Salmonella và đã gây thiệt hại 5 – 6 tỷ USD, riêng chi phí cho bệnh truyền lây
do Salmonella chiếm tới 1 tỷ USD mỗi năm. Kết quả truy xuất căn nguyên
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page2
của các vụ ngộ độc thực phẩm cho thấy: Thịt lợn, thịt gà là hai trong số các
nguồn tàng trữ chính của các loại vi khuẩn gây ngộ độc thực phẩm, trong đó
có Salmonella, Campylobacter và Listeria (CDC, 2001-2007; Charles L.
Wilson, 2008; Goutam K. Adak và cs. (2005)). Các sản phẩm động vật bị ô
nhiễm thường do những tắc trách trong phòng bệnh, vệ sinh chăn nuôi, vận
chuyển và giết mổ, cũng như quá trình tiêu thụ và chế biến. Thông qua chuỗi
cung ứng th
ực phẩm mà vi khuẩn lây nhiễm sang người và gây bệnh. (Daniel
J. Wilson và cs, 2008; HALD T. và cs. (2003). Từ những căn cứ khoa học này
mà ngành gia cầm nói chung và chăn nuôi gà nói riêng trên thế giới đã thực
thực sự kiểm soát được các hoạt động của các hộ giết mổ nhỏ lẻ vì hầu hết
các hộ kinh doanh này nằm phân tán trong khu dân cư, phươ
ng thức giết mổ
là phân tán ngay tại hộ gia đình gây khó khăn trong công tác quản lý vệ sinh
an toàn thực phẩm. Vấn đề ngộ độc thực phẩm do thịt bị ô nhiễm Salmonella
có thể tiềm ẩn nguy cơ đe dọa nghiêm trọng đến sức khỏe của người tiêu dùng
tại Hà Nội.
Xuất phát từ thực tế trên, chúng tôi thực hiện nghiên cứu đề tài:
“Đánh giá nguy cơ phơi nhiễ
m với vi khuẩn Salmonella trong thịt gà
tiêu thụ trên địa bàn Hà Nội”
2. Mục đích của đề tài
- Đánh giá sơ bộ chất lượng thịt gà tươi sống bày bán ở chợ thông qua
kiểm tra các chỉ tiêu cảm quan.
- Đánh giá hiện trạng vệ sinh an toàn thực phẩm của thịt gà bày bán ở
chợ thông qua một số điều kiện vệ sinh liên quan đến quầy hàng, người bán
hàng và người chế biến thức
ăn tại hộ gia đình.
- Đánh giá mức độ ô nhiễm Salmonella trong thịt gà tươi sống bán tại
một số chợ trên địa bàn thành phố Hà Nội.
- Đánh giá nguy cơ phơi nhiễm với Salmonella của người tiêu thụ thịt
gà trong một lần phơi nhiễm và trong một năm.
3. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
- Làm rõ hơn hiện trạng vệ sinh thực phẩm của thị
t gà đang được bày
bán tại các chợ.
- Trên cơ sở kết quả của nghiên cứu, góp phần cảnh báo cho người tiêu
dùng về nguy cơ gây ngộ độc thực phẩm, đồng thời đề xuất một số giải pháp
thiết thực để cải thiện tình hình thịt bị nhiễm khuẩn.
nhiều nguyên nhân, khi con người ăn phải thực phẩm bảo quản, chế biến
không đúng cách, quá hạn sử dụng hoặc bị nhiễm vi khuẩn, virus, kí sinh
trùng, nấm mốc, các hóa chất độc hại…
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page5
Bảng 1.2. Nguyên nhân gây ngộ độc thực phẩm ở Việt Nam
Năm
Nguyên nhân (%)
VSV Hóa chất
Thực phẩm
có độc
Không rõ
nguyên nhân
2005 51,40 8,30 27,10 13,20
6/2006 35,40 20,0 21,50 23,10
8/2007 38,60 2,90 31,40 27,10
7/2008 55,50 3,74 27,8 12,96
(Nguồn: Báo cáo của Cục quản lý chất lượng VSATTP - Bộ Y tế)
T ại Việt Nam, vi sinh vật là nguyên nhân chủ yếu gây ra các vụ ngộ
độc thực phẩm. Dịch tiêu chảy cấp xảy ra gần đây chính là một minh chứng
thuyết phục cho ngộ độc thực phẩm mà nguyên nhân là do phẩy khuẩn tả. Ở
Việt Nam, trong một vài năm trở lại đây, Salmonella cũng được tìm thấy
trong các vụ ngộ
độc. Một số ví dụ cụ thể: vụ 779 người bị ngộ độc sau khi ăn
trưa tại bếp ăn tập thể tại công ty TNHH WONDO VINA trên địa bàn tỉnh
Tiền Giang vào tháng 10/2013, Bộ Y tế đã xác định nguyên nhân gây ngộ độc
thực phẩm là do sử dụng thực phẩm bị nhiễm vi khuẩn Salmonella; vụ 382
người nhập viện do ngộ độc sau khi ăn bánh mì tháng 8/2013, theo kết luận
của Sở Y tế tỉnh Quảng Trị, cơ sở sản xuất bánh mỳ Quang Trung ở thị trấn
bất cập lớn.
Tính đến tháng 2/2009 mớ
i có 406 TCVN liên quan đến VSATTP được
ban hành cho sản phẩm thực phẩm (tỷ lệ tiêu chuẩn Việt Nam hài hòa với tiêu
chuẩn quốc tế đạt 63%). Và dù Nghị định 127/2007/NĐ-CP của Chính phủ ban
hành ngày 1/8/2007 hướng dẫn thi hành Luật Tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật
đã quy định rõ “…việc chuyển đổi các TCVN, TCN bắt buộc áp dụng thành quy
chuẩn kỹ thuật quốc gia phải hoàn thành trước ngày 31/12/2008” nhưng theo
Báo cáo của Bộ Khoa học và Công nghệ, trong năm 2008 không có quy chuẩ
n kĩ
thuật quốc gia nào về VSATTP được thẩm định để ban hành. Tính đến cuối năm
2013 mới có 49 quy chuẩn kỹ thuật quốc gia liên quan đến thực phẩm, trong đó
chủ yếu là quy chuẩn về các chất phụ gia trong thực phẩm. Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page7
• Số lượng gia súc, gia cầm giết mổ được kiểm soát chỉ đạt 45-60%.
Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và PTNT (2008), số lượng gia súc,
gia cầm giết mổ được kiểm soát đạt 58,1%. Tình trạng giết mổ gia súc, gia
cầm ở các lò mổ tư nhân không đảm bảo điều kiện VSATTP là phố biến. Hiện
nay, chỉ có 617 cơ sở giết mổ tập trung (chiếm 3,6% tổng số cơ sở giết m
ổ
trong cả nước), trong đó 20 cơ sở có đủ điều kiện để giết mổ xuất khẩu;
16.512 cơ sở giết mổ nhỏ lẻ, khó kiểm soát.
• 93,9% cơ sở dịch vụ ăn uống chưa được cấp giấy chứng nhận đủ
điều kiện VSATTP.
Việc cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện VSATTP cho cơ
sở chế biến,
kinh doanh thực phẩm còn chậm, tỷ lệ cơ sở được cấp giấy chứng nhận tuy có
Những con số khách quan ấy hẳn đã hé mở nhiều điều về thực trạng
chất lượng VSATTP hiện nay và cả những bất cập lớn trong công tác quản lý
lĩnh vực này.
1.2. Vai trò và đặc tính chung của thịt
1.2.1.Vai trò của thịt trong dinh dưỡng thực phẩm
Thịt là một loại thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao, được sử dụng
rộng rãi, có chứa đầy
đủ các chất dinh dưỡng cần thiết cho cơ thể. Thịt được
xem là nguồn dinh dưỡng quan trọng đối với con người, là nguồn cung cấp các
chất khoáng như sắt, kẽm, retinol và sinh tố B12, rất quan trọng cho sự phát
triển cơ thể của trẻ em. Với người trưởng thành và người cao tuổi, thịt là loại
thực phẩm thường xuyên có mặt trong khẩu phần, giàu đạm, cung cấp nhiều
năng lượng và d
ễ tiêu hóa. Khẩu phần ăn có thịt làm người ăn no lâu hơn.
Viện nghiên cứu dinh dưỡng của Mỹ chia thịt thành 3 nhóm:
• Thịt đỏ: thịt trâu, thịt bò, thịt vịt
• Thịt trắng: thịt heo, thịt gà, cá
• Thịt chế biến: nem, giò, chả
Thịt được giết mổ và bảo quản đúng kĩ thuật khi nấu chín sẽ có mùi vị
thơm ngon kích thích tiết dịch vị tiêu hóa.
1.2.2.Thành ph
ần hóa học của thịt
Thịt động vật bao gồm năm thành phần chính là: nước, các protein,
lipit, gluxit và chất khoáng. Ngoài ra còn một số thành phần khác như
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page9
vitamin, các men…Tỉ lệ những thành phần này có thể thay đổi tuỳ theo loài
động vật, lứa tuổi, trạng thái sức khoẻ, vị trí lấy thịt trên cơ thể động vật…
2
Chiết chất có đạm là những chất dễ tách ra khi hòa tan trong nước như
carnozin, creatin, ure, xantin, hypoxantin, axit amin, ATP, ADP, AMP
Chiết chất đạm phần lớn là sản phẩm trung gian và cuối cùng của quá
trình trao đổi chất. Tác dụng chung của chiết chất có đạm là kích thích hoạt
động của tuyến dạ dày và tăng trương lực thần kinh.
Chiết chất không đạm gồm glycogen, gluco, a.lactic…có tác dụng tạo
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page10
mùi vị thơm ngon, kích thích tiết dịch vị tiêu hóa. Thịt ở giai đoạn toan hóa
tạo ra nhiều chiết chất này.
Ngoài ra, trong thịt còn có khoáng và các loại vitamin, tuy chiếm tỷ lệ
rất nhỏ (từ 0.5 - 0.9%) nhưng là yếu tố quan trọng tạo dinh dưỡng cho thịt.
Thịt có nhiều các nguyên tố đa lượng: K, Na, Mg, Fe, P, Ca…) và
nguyên tố vi lượng: Cu, Co, Ni, I…
Vitamin trong thịt có 2 nhóm: vitamin hòa tan trong nước (nhóm B, C,
H, PP…) và vitamin hòa tan trong mỡ (A, D, E,…). Đặc biệt, hàm lượng
vitamin B1 trong thịt rất cao, hơn hẳn các sản ph
ẩm động vật khác và sản
phẩm thực vật. Hàm lượng vitamin trong thịt phụ thuộc nhiều yếu tố, đặc biệt
là cách chế biến. Thịt bảo quản lạnh sẽ ít bị mất vitamin nhất. 10 - 15%
vitamin chuyển vào nước luộc, vì thế luộc thịt sẽ mất nhiều vitamin hơn rán
và quay. Thịt muối hay hun khói mất 25%B1, 40 - 50 % B6.
M ột thành phần nữa có trong thịt là các loại men: lipaza, pepxin,
proteaza, peptitdaza, amilaza, catalaza, peroxydaza Trong đó các men có
tính chất oxi hóa hoàn nguyên như
catalaza, peroxydaza dùng để xác định độ
tươi của thịt. Men Phosphokinaza, carboxylaza thúc đẩy quá trình trao đổi
chất để tạo ra chiết chất có đạm và chiết chất không đạm. Proteaza và
peptidaza gây ra hiện tượng tự giải của thịt, thường sinh ra nhiều khi thịt mổ
lại tăng nhanh.
Hiện tượng xác cứng được ứng dụng để tạo dáng sản phẩm như: thịt
block, lợn sữa đông lạnh, vịt đông lạnh
Sự thành thục của thịt
Thịt gia súc sau khi giết mổ một khoảng thời gian nhất định rồi mới
đem chế biến thì thịt mề
m, dế nấu chín, mùi vị thơm ngon. Điều kiện thời
gian và nhiệt độ như vậy gọi là giai đoạn thành thục của thịt. Sự thành thục
của thịt diễn ra thông qua quá trình toan hóa. Toan hóa của thịt là một quá
trình sinh hóa phức tạp trong tổ chức cơ dưới tác động của các men. Quá trình
toan hóa diễn ra do sự tích tụ của 2 axit: axit lactic và axit phosphoric làm
thay đổi pH của môi trường, hợp chất actomysin bắt đầu phân giải thành actin
và myosin, làm cho th
ịt từ trạng thái co cứng trở nên mềm hơn.
Do môi trường pH toan làm cho cấu trúc protein thay đổi, collagen dễ
ninh nhừ hơn và chuyển thành dạng gelatin dễ tiêu hóa hơn, đồng thời sự thay
đổi pH cũng làm tăng lượng chiết chất có đạm và không đạm trong thân thịt,
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page12
tạo mùi vị thơm ngon cho thịt.
T ốc độ và mức độ thành thục của các loại thịt khác nhau thì khác nhau.
Trong cùng một điều kiện nhiệt độ, thịt trâu bò thành thục lâu hơn thịt lợn và
thịt gia cầm. Ví dụ, ở 25
o
C, thân thịt trâu bò cần 10 - 15 giờ để thành thục, thịt
lợn cần 4 - 8giờ và thịt gia cầm cần 2 - 3giờ.
K ết quả của sự thành thục là thịt có tính axit hơn, có thể ức chế một
phần sự phát triển của các vi sinh vật gây thối rữa, mặt ngoài thịt khô se, tạo
lớp màng ngăn bụi, mặt cắt hơi ướt, mềm, có mùi thơm và vị ngọt.
Bảng 1.3. Yêu cầu cảm quan của thịt tươi
Tên chỉ tiêu Yêu cầu
1. Trạng thái
- Bề mặt khô, sạch, không dính lông và tạp chất lạ;
- Mặt cắt mịn;
- Có độ đàn hồi, ấn ngón tay vào thịt không để lại dấu ấn
trên bề mặt thịt khi bỏ tay ra;
- Tuỷ bám chặt vào thành ống tủy (nếu có).
2. Màu sắc Màu đặc trưng của sản phẩm
3. Mùi Đặc trưng của sản phẩm, không có mùi lạ
4. Nước luộc thịt Thơm, trong, váng mỡ to
(Theo TCVN 7046-2009)
Những yêu cầu về chỉ tiêu vi sinh vật đối với thịt tươi được quy định ở
bảng dưới đây:
Bảng 1.4. Các chỉ tiêu vi sinh vật của thịt tươi
Tên chỉ tiêu Giới hạn tối đa
1. Tổng số vi sinh vật hiếu khí, số khuẩn lạc trong 1 g sản phẩm 10
6
2. E.coli, số vi khuẩn trong 1 g sản phẩm 10
2
3. Salmonella, số vi khuẩn trong 25 g sản phẩm 0
4. B. cereus, số vi khuẩn trong 1 g sản phẩm 10
2
5. Staphylococcus aureus, số vi khuẩn trong 1 g sản phẩm 10
2
6. Clostridium perfringens, số vi khuẩn trong 1 g sản phẩm 10
7. Clostridium botulinum, số vi khuẩn trong 1 g sản phẩm 0
(Theo TCVN 7046: 2009 Thịt tươi - Quy định kỹ thuật)
hiện tượng này, trong quá trình giết mổ người ta đưa ra giải pháp tốt nhất là cho
gia súc nhịn ăn, chỉ uống nước trước khi giết mổ nhằm gi
ảm chất chứa và thực
hiện giết mổ treo.
- Nguồn nhiễm khuẩn từ gia súc ốm, yếu: đối với động vật suy dinh
dưỡng hay động vật ốm yếu sức đề kháng giảm vì thế lượng vi khuẩn trong cơ
thể tăng lên. Đặc biệt nếu động vật mắc bệnh truyễn nhiễm cơ thể chứa rất
nhiều vi khuẩn gây bệnh. Để ng
ăn cản sự ô nhiễm vi khuẩn vào thịt yêu cầu
trước khi giết mổ phải kiểm tra lâm sàng phân loại gia súc ốm, yếu để giết mổ
và xử lý gia súc đó ở khu vực riêng.
1.3.2. Lây nhiễm vi khuẩn từ khu vực giết mổ
Việt Nam là một trong số những quốc gia ban hành pháp lệnh thú y hoàn
chỉnh, trong đó có phần quy định về cơ sở giết mổ như sau: “Địa điểm giế
t mổ
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page15
phải cách biệt với khu dân cư, các công trình công cộng, đường giao thông chính,
và các nguồn gây ô nhiễm, không bị úng ngập, có tường bao quanh, có cổng riêng
biệt để xuất, nhập động vật. Có khu vực riêng nhốt động vật chờ giết mổ, khu vực
riêng để sơ chế động vật, khu cách ly động vật ốm Có hệ thống xử lý nước thải,
chất thải động vật phù hợp với công suất giết mổ.” Nh
ư vậy nếu một cơ sở giết
mổ đáp ứng được những điều kiện trên sẽ có thể hạn chế được tối đa sự ô nhiễm
vi khuẩn vào thịt trong quá trình giết mổ. Thế nhưng trong thực tế, số cơ sở giết
mổ đạt yêu cầu lại rất ít.
Các nghiên cứu gần đây nhất của Trần Thị Hạ
nh và cộng sự (2011) cho
thấy: Tỷ lệ nhiễm Salmonella trên bề mặt thân thịt gà giết mổ thủ công là
t lớn.
Để phòng tránh ô nhiễm vi sinh vật vào thịt từ nguồn nước, yêu cầu
nước sử dụng trong các cơ sở giết mổ phải được lọc, lắng đọng và khử khuẩn
theo quy định. Nguồn nước trước khi đưa vào sử dụng phải được cơ quan thú
y kiểm tra cho phép.
1.3.2.2. Không khí tại khu vực giết mổ
Độ sạch, bẩn của môi trường không khí khu vực sản xuất ảnh h
ưởng
trực tiếp đến mức độ ô nhiễm vi khuẩn trong thịt và sản phẩm thịt. Nếu không
khí ô nhiễm thì thực phẩm sẽ dễ nhiễm vi khuẩn.
Trong không khí ngoài bụi còn rất nhiều vi sinh vật như vi khuẩn, nấm,
mốc. Thực nghiệm cho thấy bụi càng nhiều thì số lượng vi sinh vật càng cao.
Trong thành phố, không khí có nhiều vi sinh vật hơn ở ngoại ô và nông thôn,
ở miền ven biển, miền núi không khí trong sạch hơn vùng sâu n
ội địa.
Không khí chuồng nuôi, khu vực giết mổ, chế biến có thể chứa một số
lượng lớn vi sinh vật từ phân, nước thải, nền chuồng xâm nhập vào không khí.
Để đánh giá mức độ vệ sinh không khí cơ sở sản xuất, Cục Thú y ban
hành “Quy định tạm thời về vệ sinh thú y đối với cơ sở giết mổ động vật -
năm 1998 ” cho phép tối đa mức độ
nhiễm khuẩn không khí khu giết mổ là
4.10
3
vi khuẩn/m
3
. Chỉ số này là căn cứ đánh giá mức độ vệ sinh không khí
đối với cơ sở giết mổ động vật tiêu dùng nội địa và xuất khẩu.
1.3.2.3. Dụng cụ, trang thiết bị tại nơi giết mổ
Trang thiết bị, dụng cụ phục vụ giết mổ không đảm bảo vệ sinh cũng là
nguyên nhân làm ô nhiễm vi sinh vật vào thịt. Ví dụ khi chọc tiết hay mổ xẻ