Chuyên đề thực tập
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp bách của đề tài:
Trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, việc cạnh tranh trong nền kinh tế
nói chung, lĩnh vực ngân hàng nói riêng ngày càng mạnh mẽ. Nếu không bắt
nhịp với xu thế đó các ngân hàng thương mại Việt Nam sẽ không tồn tại trên
thị trường hiện nay. Từ khi Việt Nam gia nhập WTO, các ngân hàng nước
ngoài với tiềm lực vốn lớn, trang thiết bị kỹ thuật với công nghệ hiện đại,
trình độ quản lý chuyên sâu cũng như phong cách làm việc nhanh chóng và
hiệu quả đã và đang thu hút được không chỉ đối tượng khách hàng là các
doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các tổng công ty Nhà nước mà còn
cả các DNVVN. Do vậy các ngân hàng thương mại Việt Nam đang đứng
trước thử thách lớn để đứng vững trên thị trường và giữ thị phần tiềm năng
trong nước.
DNVVN chiếm số đông trong tổng doanh nghiệp ở Việt Nam. Hiện
nay, số lượng DNVVN là 240000, chiếm 96% doanh nghiệp của cả nước. Với
sự gia tăng liên tục về số lượng và hoạt động ngày càng hiệu quả, Các
DNVVN được đánh giá là một trong những động lực chính thức đẩy nền kinh
tế phát triển, khuyến khích quá trình tư nhân hóa và phát triển kỹ năng kinh
doanh. Mặc dù với quy mô không lớn nhưng cơ cấu gọn nhẹ, linh hoạt và
thích nghi nhanh chóng với sự thay đổi của môi trường. DNVVN đã giải
quyết công ăn việc làm cho người lao động, đa dạng hóa các hoạt động kinh
tế và đóng góp lớn vào GDP và tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của cả nước.
Chính vì vậy, các DNVVN không chỉ trở thành mối quan tâm hàng đầu của
các nhà lập chính sách mà còn là mối quan tâm chủ đạo đối với các ngân hàng
thương mại Việt Nam khi thiết lập đối tượng khách hàng mục tiêu. Đây là đối
tượng khách hàng tiềm năng của ngân hàng mà nếu có sự quan tâm đầu tư
đúng đắn sẽ tạo điều kiện cho DNVVN dễ dàng tiếp cận với nguồn vốn tín
dụng của ngân hàng.
1
Chuyên đề thực tập
Cuối cùng, chuyên đề sẽ đề xuất một số giải pháp và kiến nghị nhằm góp
phần khai thông nguồn vốn tín dụng cho các DNVVN tại MB.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu: Thực trạng khai thông nguồn vốn tín dụng đối
với DNVVN tại MB.
Phạm vi nghiên cứu: Hoạt động tín dụng đối với DNVVN tại MB trên
địa bàn Hà Nội.
4. Phương pháp nghiên cứu:
Trong quá trình nghiên cứu, chuyên đề sử dụng các phương pháp
nghiên cứu khoa học để phân tích lý luận và thực tiễn như: Phương pháp tư
duy biện chứng, suy luận logic và kết hợp phương pháp duy vật lịch sử sử
dụng số liệu thực tế để luận giải thông qua các phương pháp : So sánh, thống
kê, tổng hợp, phân tích…
5. Kết cấu của chuyên đề:
Chuyên đề gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về hoạt động tín dụng đối với DNVVN
tại MHTM.
Chương 2: Thực trạng hoạt động tín dụng đối với DNVVN trên địa bàn Hà
Nội tại MB từ năm 2006 đến năm 2008.
Chương 3: Giải pháp khai thông nguồn vốn tín dụng đối với DNVVN trên địa
bàn Hà Nội tại MB.
Vì thời gian thực tập không nhiều và kiến thức thực tế còn hạn hẹp nên
chuyên đề không tránh khỏi những thiếu sót. Bởi vậy, em rất mong sự đóng
góp của thầy và các anh chị cán bộ phòng giao dịch số 5 - Nguyễn Du – MB
cùng những ai quan tâm đến đề tài này để giúp cho chuyên đề được hoàn
thiện hơn.
3
Chuyên đề thực tập
CHƯƠNG I:
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HOẠT
toán.
+ Tiền gửi khác như: Tiền gửi của tổ chức tín dụng khác, tiền gửi
của Kho bạc Nhà nước, tiền gửi của tổ chức đoàn thể xã
hội…
Một trong những nguồn quan trọng là các khoản tiền gửi thanh toán và
tiết kiệm của khách hàng. Đây là nguồn vốn chủ yếu để ngân hàng sử dụng
cho vay, đầu tư và thực hiện các dịch vụ ngân hàng khác.
- Vốn huy động thông qua phát hành các giấy tờ có giá:
Đây là nguồn vốn mà NHTM có được thông qua phát hành giấy tờ có
giá như kỳ phiếu ngân hàng, trái phiếu ngân hàng, chứng chỉ tiền gửi… Các
kỳ phiếu và trái phiếu này có khả năng chuyển đổi dễ dàng ra tiền mặt khi
cần, bằng cách bán chuyển nhượng trên thị trường vốn hoặc chiết khấu tại
ngân hàng. Với cách huy động này ngân hàng có thể tập trung được một khối
lượng vốn lớn trong thời gian ngắn và chủ động sử dụng. Hình thức này được
sử dụng khi ngân hàng đã tiếp nhận được những dự án vay vốn lớn với thời
hạn giải ngân nhanh của khách hàng. Tuy nhiên, khi cần nóng thì ngân hàng
có thể vay thêm NHTM, vay các tổ chức tín dụng khác, vay trên thị trường
vốn…
b. Hoạt động sử dụng vốn:
Việc sử dụng vốn chính là quá trình tạo nên các loại tài sản khác nhau
của ngân hàng, trong đó cho vay và đầu tư là hai loại tài sản lớn và quan
trọng.
- Cho vay: là quan hệ vay mượn dựa trên nguyên tắc có hoàn trả, có lãi
suất và thời hạn nhất định. Quan hệ này phải được thỏa thuận dựa theo
nguyên tắc giữa người đi vay và người cho vay.
5
Chuyên đề thực tập
Đây là hoạt động vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế và chiếm tỷ
trọng lớn nhất trong các loại tài sản của NHTM. Mục đích của cho vay nhằm
đáp ứng nhu cầu vay vốn của khách hàng, thông qua đó để tìm kiếm lợi
Chứng khoán có tính thanh khoản cao là chứng khoán an toàn, dễ bán, ít giảm
giá nhưng có sinh lời thấp; còn chứng khoán kém thanh khoản thì có mức độ
rủi ro cao nhưng đem lại tỷ lệ sinh lời cao. Ngân hàng nên nắm giữ hợp lý
loại chứng khoán và đầu tư sao cho hiệu quả để vừa sinh lời vừa đảm bảo tính
thanh khoản khi có lượng tiền mặt rút ra.
c. Các hoạt động khác:
- Mua bán ngoại tệ:
Đây là một trong những dịch vụ đầu tiên mà ngân hàng thực hiện, tức
là mua một loại tiền này lấy một loại tiền khác và hưởng phí dịch vụ. Trong
thị trường tài chính hiện nay mua bán ngoại tệ thường là do các ngân hàng lớn
nhất thực hiện. Bởi vì những giao dịch này có mức độ rủi ro cao, yêu cầu phải
có trình độ chuyên môm cao.
- Bảo quản vật có giá:
Bên cạnh hoạt động nhận tiền gửi và cho vay, các ngân hàng thực hiện
việc lưu giữ vàng và các vật có giá trị khác cho khách hàng. Ngân hàng giữ
vàng và giao cho khách hàng tờ biên nhận (giấy chứng nhận do ngân hàng
phát hành). Giấy chứng nhận đã được sử dụng như tiền gửi để thanh toán các
khoản nợ trong phạm vi ảnh hưởng của ngân hàng phát hành. Lợi ích của việc
sử dụng phương tiện thanh toán bắng giấy thay cho bằng kim loại đã khuyến
khích khách hàng gửi tiền vào ngân hàng để đổi lấy giấy chứng nhận của
ngân hàng. Đây là hình thức đầu tiên của giấy bạc ngân hàng.
- Cung cấp các tài khoản giao dịch và thực hiện thanh toán:
Thanh toán qua ngân hàng đã mở đầu cho thanh toán không dùng tiền
mặt. Các tiện ích của thanh toán không dùng tiền mặt đã góp phần rut ngắn
thời gian kinh doanh và nâng cao thu nhập cho các doanh nhân vì tính an toàn
7
Chuyên đề thực tập
, nhanh chóng, chính xác và tiết kiệm chí phí. Điều này đã khuyễn khích các
Doanh nhân gửi tiền vào ngân hàng để nhờ ngân hàng thanh toán hộ. Đây
được coi là một bước đi quan trọng nhất trong công nghiệp ngân hàng.
đăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có vốn đăng ký không quá 10
tỷ đồng và số lao động trung bình hang năm không quá 300 người. Căn cứ
vào tình hình kinh tế xã hội cụ thể của từng ngành, địa phương, trong quá
trình thực hiện các biện pháp, chương trình trợ giúp có thể linh hoạt áp
dụng đồng thời cả hai tiêu chí vốn và lao động hoặc một trong hai tiêu chí
nói trên.
Theo khái niệm này, cũng như các nước khác, để phân biệt DNVVN
với doanh nghiệp lớn, Việt Nam quan tâm tới hai tiêu thức chính là vốn và lao
động. Như vậy, vốn và lao động là hai tiêu thức cơ bản để đánh giá quy mô và
phân loại doanh nghiệp. Tuy nhiên do đặc điểm của các ngành nghề khác
nhau dẫn đến nhu cầu lao động , nhu cầu về vốn của mỗi doanh nghiệp rất
khác nhau và tùy thuộc vào từng giai đoạn phát triển của nền kinh tế.
2.2 Đặc điểm của DNVVN:
DNVVN không chỉ mang nhũng đặc trưng vốn có của một doanh
nghiệp mà nó còn có những đặc điểm riêng biệt sau đây:
- Thứ nhất: DNVVN có vốn đầu tư ban đầu thấp, thu hồi vốn nhanh.
Là loại hình doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ nên việc đầu tư vốn sản suất
không yêu cầu quá lớn, hơn nữa chu kỳ sản suất của các doanh nghiệp này
thường vào các DNVVN sẽ tăng khả năng thu hồi vốn, tiếp tục tái cấp tín
dụng để đầu tư vào chu kỳ kinh doanh tiếp theo, đồng thời cũng tăng nhanh
tốc độ luân chuyển vốn của ngân hang, tăng khả năng sinh lời. Đây được coi
là một lợi thế dối với DNVVN so với doanh nghiệp lớn. Khi cho DNVVN
vay với số lượng khách hang lớn hơn, ngân hang sẽ phân tán rủi ro hơn đối
với cho vay doanh nghiệp lớn với cùng tổng dư nợ.
9
Chuyên đề thực tập
- Thứ hai: DNVVN hoạt động đa dạng ở mọi ngành nghề, năng động,
nhạy bén và dễ thích nghi với sự thay đổi của môi trường.
Với quy mô nhỏ, DNVVN có thể hoạt động kinh doanh ở tất cả các
lĩnh vực, với giá cả hợp lý đáp ứng mọi nhu cầu sản xuất , tiêu dung dù là nhỏ
cần thiết đặc biệt là tài sản đảm bảo.
- Thứ tư: Trình độ người quản lý còn yếu kém, tay nghề của người lao
động chưa cao.Các doanh nghiệp được thành lập chủ yếu là các doanh nghiệp
gia đình. Do vậy trình độ quản lý, điều hành sản xuất kinh doanh thường theo
thói quen làm việc và dựa vào mối quan hệ tray ỳ trông công việc, không có
nguyên tắc làm việc,… kỹ năng chuyên môn. Hơn nữa quản lý theo thị trường
hiện đại đang thiếu. Các doanh nhân, các nhà quản lý DN chưa được đào tạo,
thiếu nhiều về hiểu biết quản lý doanh nghiệp trong điều kiện hội nhập kinh tế
quốc tế.
Người lao động trong DNVVN có tay nghề kém, ít qua trường lớp đào
tạo cơ bản, chủ yếu được chuyền nghề theo kiểu cha truyền con nối, lao động
phổ thong, trình độ tay nghề đơn giản, chưa được đào tạo chiếm 60-70R lực
lượng lao động trong các DNVVN. Người lao động chưa chưa được đào tạo
tác phong công nghiệp nên thường phải đào tạo lại.
11
Chuyên đề thực tập
Bảng 1: Trình độ học vấn, đào tạo của lao động doanh nghiệp năm
1995.
(Đơn vị:%)
Bởi vậy, DNVVN muốn khắc phục những hạn chế này, bản than doanh
nghiệp phải tự vận động kế hợp với hỗ trợ của Nhà nước trong việc đào tạo,
đào tạo lại cán bộ công nhân, thợ lành nghề kỹ thuật cao, đội ngũ cán bộ quản
lý giỏi mới có thể vươn lên, đáp ứng yêu cầu cạnh tranh, hôi nhập trong thời
kỳ hội nhập kinh tế mới.
- Thứ năm: Các DNVVN hoạt động trong lĩnh vực thương mại dịch vụ,
gia công chế biến, thủ công mỹ nghệ là chủ yếu.
Các DNVVN thường nhận gia công chi tiết, phụ kiện… của sản phẩm
cho xí nghiệp lớn hoặc tổ chức thu mua, thu gom nguyên liệu, phụ kiện làm
đại lý bán hang. Đặc biệt mô hình DNVVN rất phù hợp với các làng nghề thủ
công mỹ nghệ, những mạt hang truyền thống ở Việt Nam. Ở khu vực nông
tín dụng một cách dễ dàng hơn.
13
Chuyên đề thực tập
2.3 Nguồn vốn của DNVVN:
Vốn là điều kiện không thể thiếu được để một doanh nghiệp được thành
lập và tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh. Nguồn vốn của doanh
nghiệp chia làm hai bộ phận: vốn chủ sở hữu và nợ.
a. Vốn chủ sở hữu:
Vốn chủ sở hữu gồm vốn góp ban đầu, lợi nhuận không không chia và
tăng vốn bằng phát hành cổ phiếu mới.
- Vốn góp ban đầu: Khi doanh nghiệp được thành lập bao giờ chủ
doanh nghiệp cũng phải có một số vốn ban đầu nhất định do các cổ đông- chủ
sở hữu góp. Xét về hình thức sở hữu doanh nghiệp thì:
Đối với doanh nghiệp nhà nước, vốn góp ban đầu chính là vốn đầu tư
của Nhà nước. Chủ sở huux của doanh nghiệp Nhà nước là Nhà nước.
Đối với các doanh nghiệp, theo luật doanh nghiệp, chủ doanh nghiệp
phải có một số vốn ban đầu cần thiết để xin đăng ký thành lập doanh nghiệp.
Ví dụ đối với công ty cổ phần vốn do các cổ đông đóng góp, mỗi cổ đông là
một chủ sở hữu của công ty và chịu trách nhiệm hữu hạn trên giá trị số cổ
phần mà họ nắm giữ.
- Nguồn vốn từ lợi nhuận không chia:
Nguồn vốn tích lũy từ lợi nhuận không chia là bộ phận lợi nhuận được
sử dụng tái đầu tư, mở rộng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Tự tài trợ bằng lợi nhuận không chia- nguồn vốn nội bộ là một phương
thức tạo nguồn tài chính quan trọng và khá hấp dẫn của các doanh nghiệp, vì
doanh nghiệp giảm được chi phí, bớt sự phụ thuộc vào bên ngoài. Nhiều
doanh nghiệp coi trọng chính sách tái đầu tư lợi nhuận để lại, nguồn vốn tái
đầu tư từ lợi nhuận để lại chỉ có thể thực hiện được nếu như doanh nghiệp đã
và đang hoạt động và có lợi nhuận, được phép tiếp tục đầu tư. Nguồn vốn của
DNVVN lâu nay chủ yếu dựa vào nguồn vay phi chính thức. Số DN được vay
của người cung cấp. Nguốn vốn này được hình thành một cách tự nhiên trong
quan hệ mua bán chịu hàng hóa, dịch vụ. Nguồn này có ảnh hưởng trực tiếp
to lớn không chỉ với các doanh nghiệp mà còn cả đối với nền kinh tế. Trong
một số doanh nghiệp, nguồn vốn này dưới dạng các khoản phải trả có thế
chiếm tới 20% tổng vốn, thậm chí có thể tới 40% tổng vốn.
Ưu điểm của nguồn vốn này là rẻ, tiện dụng và có tính linh hoạt trong
kinh doanh. Hơn nữa, nó còn tạo khả năng mở rộng các quan hệ hợp tác kinh
doanh một cách một cách lâu bền. Tuy vậy, cần nhận thức tính chất rủi ro của
quan hệ tín dụng thương mại khi quy mô tài trợ quá lớn.
3. HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CỦA NHTM ĐỐI VỚI DNVVN:
3.1. Khái niệm tín dụng ngân hàng đối với DNVVN:
Có rất nhiều quan điểm khác nhau về tín dụng, khó có thể đưa ra một
định nghĩa đầy đủ, rõ ràng về tín dụng. Tùy theo góc độ nghiên cứu mà chúng
ta có thể xác định nội dung của thuật ngữ này. Nói chng, định nghĩa một cách
đầy đủ về tín dụng là quan hệ chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị (dưới
hình thức tiền tệ hoặc hiên vật) từ người sở hữu sang người sử dụng để sau
một thời gian nhất định thu hồi về một lượng giá trị lớn hơn lượng giá trị ban
đầu. Có rất nhiều loại tín dụng, trong đó có tín dụng ngân hàng. Tín dụng
ngân hàng là hoạt động tài trợ của ngân hàng cho khách hàng, là quan hệ tín
dụng giữa một bên là ngân hàng và một bên là các cá nhân tổ chức trong và
ngoài nước. Ở đây, chúng ta xem xét tín dụng như là một chức năng cơ bản
của ngân hàng, tín dụng đối với DNVVN là một hình thức cấp tín dụng thúc
đẩy sự tăng trưởng, phân tán rủi roc ho ngân hàng. Vì vậy trên cơ sở tiếp cận
theo chức năng hoạt động của ngân hàng thì tín dụng đối với DNVVN được
hiểu như sau: Tín dụng ngân hàng đối với DNVVN là một giao dịch về tài
sản (tiền hoặc hàng hóa) giữa ngân hàng và các DNVVN, trong đó ngân
hàng chuyển quyền sử dụng cho các DNVVN trong một khoang thời gian
16
Chuyên đề thực tập
nhất định theo thỏa thuận, các DNVVN có trách nhiệm hoàn trả vô điều
hàng hóa trả chậm và cũng có thể là một thương phiếu, bao gồm hối phiếu và
lệnh phiếu. người bán (hoặc người thụ hưởng) có thể giữ thương phiếu đến
hạn để đòi tiền người mua (hoặc người phải trả) hoặc mang đến ngân hàng để
xin chiết khấu trước hạn. Vậy chiết khấu thương phiếu là một nghiệp vụ tín
dụng ngắn hạn, trong đó khách hàng chuyển nhượng thương phiếu chưa đáo
hạn cho ngân hàng để đổi một số tiền bằng mệnh giá của thương phiếu trừ lãi
chiết khấu và hoa hồng phí (nếu có).
Bên cạnh áp dụng lãi suất chiết khấu (thường chung cho các loại
thương phiếu), ngân hàng có thể yêu cầu khách hàng trả thêm phần lệ phí triết
khấu đối với những trương hợp cụ thể có liên quan đến rủi ro và chi phí đòi
tiền.
Nghiệp vụ chiết khấu được coi là đơn giản, dựa trên sự tín nhiệm giữa
ngân hàng và những người kí tên trên thương phiếu. Để thuận tiện cho khách
hàng, ngân hàng thương ký vớ khách hàng hợp đồng chiết khấu (cấp cho
khách hàng hạn mức chiết khấu trong kỳ). khi cần chiết khấu, khách hàng chỉ
cần gửi thương phiếu lên ngâ hàng xin chiết khấu. Ngân hàng sẽ kiểm tra chất
lượng của thương phiếu và thực hiện chiết khấu. Ngoài ra, ngân hàng thương
mại có thể tái chiết khấu thương phiếu tại NHNN để đáp ứng nhu cầu thanh
khoản với chi phí thấp (vì vậy thương phiếu còn được coi là loại tài sản có khả
năng chuyển nhượng – có tính thanh khoản cao).
b. Cho vay:
Cho vay là hoạt động đem lại nguồn thu chủ yếu cho NHTM. Để đảm
bảo cho NHTM có thể duy trì và phát triển một cách vững chắc, đòi hỏi hoạt
18
Chuyên đề thực tập
động cho vay của NHTM phải an toàn và hiều quả sinh lời cao. Cho vay là
một mặt của hoạt động tín dụng ngân hàng, thực hiện điều hòa vốn trong nền
kinh teesduowis hình thức phân phối nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi huy động
được từ trong xã hội (quỹ cho vay) để đáp ứng nhu cầu về vốn. Cho vay là
quyền của NHTM với tư cách là người cho vay (chủ nợ) yêu cầu khách hàng
ngân hàng. Thông một tài khaonr được thấu chi gấp 3 lần mức lương, đáp
uwngss kịp thời nhu cầu thanh toán ngắn hạn của cá nhân, doanh nghiệp với
thủ tục rút vốn nhanh chóng, linh hoạt; lãi suất hợp lý, cạnh tranh.
- Cho vay trực tiếp từng lần:
Là hình thức cho vay tương đối phổ biến của ngân hàng đối với những
doanh nghiệp có nhu cầu vay vốn từng lần, không có nhu cầu vay thường
xuyên, không có điều kiện để được cấp hạn mức thấu chi. Mỗi lần có nhu cầu
vay vốn, khách hàng lập hồ sơ vay vốn theo quy định. Mỗi món vay khách
hàng phải làm đơn xin vay và hoàn tất hồ xơ trong bộ hồ sơ tín dụng. Ngân
hàng phải xem xét và giải quyết căn cứ vào số tiền cho vay đã được giám đốc
ngân hàng duyệt, tổng dư nọ ngân hàng không được vượt mức cho vay cao
nhất trong quý. Việc thẩm định xét duyệt cho vay, quản lý, giám sát tình hình
sử dụng vốn vay và thu hồi nợ được thực hiện theo từng hợp đồng tín dụng.
Khách hàng có thể rút vốn một lần hoặc nhiều lần phù hợp với tiến độ
sử dụng vốn, nhưng tổng số tiền của các lần rút vốn không được vượt quá số
tiền cho vay ghi trong hợp đồng tín dụng. Mỗi món vay được quy định thời
hạn trả nợ cuối cùng, nhưng kỳ hạn nợ của mỗi món vay không được vượt
quá thời hạn trả nợ cuối cùng của món vay. Kỳ hạn nợ được ấn định phải trả
vào lúc doanh nghiệp xin vay hết chu kỳ chu chuyển. Theo từng thời kỳ hạn
nợ trong hợp đồng, ngân hàng sẽ thu gốc và lãi. Trong quá trình khách hàng
sử dụng tiền vay, ngân hàng sẽ kiểm soát mục đích và hiệu quả. Nếu có thấy
20
Chuyên đề thực tập
dấu hiệu vi phạm hợp đồng, ngân hàng sẽ thu trước hạn hoặc chuyển nợ quá
hạn. Lãi suất có thể cố định hoặc thả nổi theo thời điểm tính lãi.
Nghiệp vụ cho vay tưng lần tương đối đơn giản, áp dụng cho các doanh
nghiệp có trình độ quản trị tài chính yếu, và có nhiều rủi ro hoặc không quan
hệ tín dụng thường xuyên với ngân hàng. Trên thực tế, hầu hết các doanh
nghiệp mới thành lập, các DNVVN thường được áp dụng hình thức cho vay
này.
Là nghiệp vụ cho vay dựa trên luân chuyển hàng hóa. Doanh nghiệp
khi mua hàng có thể thiếu vốn, ngân hàng có thể vay để mua hàng và thu nợ
khi doanh nghiệp bán hàng. Đây là một trong số những khoản cho vay linh
hoạt nhất, yêu cầu tín dụng luân chuyển thường được ngân hàng chấp nhận
mà không đòi hỏi đảm bảo bằng bất cứ tài sản nào. Ngân hàng và doanh
nghiệp thỏa thuận với nhau về phương thức vay, hạn mức tín dụng, các nguồn
cung cấp hàng hóa và khả năng tiêu thụ. Tùy theo tính chất yêu cầu nhiệm vụ
sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp hay người vay vốn để luân chuyển vật
tư, hàng háo nhanh và có nhu cầu vay vốn theo phương thức luân chuyển.
Việc cho vay dựa trên luân chuyển hàng hóa nên cả ngân hàng và doanh
nghiệp đều phải nghiên cứu kế hoạch lưu chuyển hàng hóa để dự đoán dòng
ngân quỹ trong thời gian tới. Ngân hàng sẽ cho vay theo tỷ lệ nhất định, tùy
theo khối lượng và chất lượng quan hệ nợ nần của người vay. Các khoản phải
thu và cả hàng hóa trong kho trở thành vật đảm bảo cho khoản cho vay.
Cho vay luân chuyển thường áp dụng với các doanh nghiệp thương
nghiệp hoặc doanh nghiệp sản xuất có chu kỳ tiêu thụ ngắn ngày, có quan hệ
22
Chuyên đề thực tập
vay – trả thường xuyên với ngân hàng. Hơn nữa, rất thuận tiện cho các khách
hàng, thủ tục vay chỉ cần thực hiện một lần cho nhiều lần vay.
Theo quyển “ Quản trị HNTM” của Peter S.Rose có viết cam kết cho
vay luân chuyển có hai loại. Loại phổ biến nhất là cam kết vay vốn chính thức,
đây là cam kết có tính chất hợp đồng, ngân hàng đảm bảo sẽ cho khách hàng
vay tới một lượng vốn tối đa xác định trước với lãi suất đã ấn định hoặc với
lãi suất thay đổi trên cơ sở lãi suất cơ bản như LIBOR. Ngân hàng có thể
không thực hiện nghĩa vụ nếu có những thay đổi bất lợi nghiêm trọng hoặc
khi vay người không thực hiện các điều khoản trong hợp đồng. Loại thứ hai ít
chặt chẽ hơn là hạn mức tín dụng đảm bảo, ngân hàng đồng ý cho khách hàng
vay trong trường hợp khẩn cấp. Ngân hàng chỉ dành những cam kết tín dụng
nới lỏng cho các doanh nghiệp có chất lượng tín dụng cao nhất và thường
kết hợp với các hình thức khác nhau như: Bảo lãnh thực hiện hợp đồng, thực
hiện bảo lãnh dự thầu, thông qua đó xác định được số tiền cho vay tối đa, thời
hạn cho vay, vấn đề bảo đảm tiền vay, tạo điều kiện thuận lợi cho khách hàng
hoạt động hiệu quả. Đối với cho vay theo hình thức này, thường là cho vay
với các dựu án đầu tư cần có nguồn vốn lớn, việc cho vay sẽ đòi hỏi sự tham
gia của một tổ chức tài chính. Ngân hàng và khách hàng thỏa thuận mức phí
trả khi khác hàng trả trước hạn, phí cam kết trả một phần chi phí hoạt động
của ngân hàng.
- Cho vay hợp vốn:
Cho vay hợp vốn là hình thức cho vay trong đó có hai hay nhiều tổ
chức tín dụng tham gia vào một dự án đầu tư hoặc phương án sản xuất kinh
doanh của một khách hàng vay vốn. Nguyên tác tổ chức việc cho vay hợp vốn
24
Chuyên đề thực tập
là các thành viên tự nguyện tham gia và phối hợp với nhau để thực hiện; Các
thành viên thống nhất lựa chọn tổ chức đầu mối thanh toán, các ben thỏa
thuận thống nhất trong hợp đồng – Cho vay hợp vốn có thể thực hiện với
khoản cho vay ngắn hạn cũng như các khoản cho vay trung và dài hạn.
Ở Việt Nam, so với các doanh nghiệp lớn thì phương thức vay vốn của
DNVN đơn điệu hơn, chủ yếu là phương thức cho vay từng lần, cho vay theo
hạn mức và cho vay theo dự án.
c. Cho thuê tài sản:
Là một hình thức tín dụng trung và dài hạn thông qua việc cho thuê
máy móc và thiết bị, phương tiện vận chuyển và các động sản khác trên cớ sở
hợp đồng cho thuê giữa bên cho thuê và bên thuê. Ngân hàng mua tài sản cho
khách hàng thuê với thời hạn sao cho ngân hàng phải thu gần đủ (hoặc thu
đủ) giá trị của tài sản cho thuê cộng lãi. Hết hạn thuê, khách hàng có thể mua
lại tài sản đó. Khách hàng phải trả cả gốc và lãi sau thời hạn nhất định, dưới
hình thức tiền thuê hàng kỳ. thời gian thuê thường chiếm phần lớn thời gian
hoạt động của tài sản, trong thời gian này người đi thuê không được hủy